Bản án số 639/2025/DS-PT ngày 30/09/2025 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 639/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 639/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 639/2025/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 639/2025/DS-PT ngày 30/09/2025 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Cần Thơ |
| Số hiệu: | 639/2025/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 30/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ngân hàng K yêu cầu ông V trả tiền vay và phát mãi tài sản thế chấp |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 639/2025/DS-PT
Ngày: 30 – 9 – 2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn.
Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Tuyết Mai.
Ông Trần Nam Trung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Quốc Thanh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa:
Bà Huỳnh Thị Mỹ Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 217/2025/TLPT-DS ngày 30
thàng 7 năm 2025 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 47/2025/DS-ST ngày 09 tháng 6 năm 2025 của
Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ cũ bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 571/2025/QĐ-PT ngày 15
tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Số K (tên
gọi trước đây Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ); địa chỉ: Số 72, LK, phường T,
quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Ngô Thùy D, Giám đốc
phòng giao dịch T (Văn bản ủy quyền ngày 16/02/2025), (vắng mặt) và bà Lê
Nguyễn Ngọc H, nhân viên phát triển kinh doanh (Văn bản ủy quyền ngày ngày
18/6/2025), (có mặt); cùng địa chỉ: Số 553B-555B, khu vực L, phường T, quận N,
thành phố Cần Thơ (nay là phường N, thành phố Cần Thơ).
- Bị đơn: Ông Phan Thành V, sinh năm 1986; địa chỉ: Khu vực T, phường U,
quận N, thành phố Cần Thơ (nay là phường N, thành phố Cần Thơ), (vắng mặt).

2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Ngọc M, sinh năm
1973; địa chỉ: Khu vực T, phường U, quận N, thành phố Cần Thơ (nay là phường
Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ), (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ngân hàng TNHH MTV số K, là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
- Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn
Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Số K trình bày:
Ngày 15/04/2024, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (nay đổi tên là Ngân
hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Số K) – Viết tắt là Ngân hàng K có cho
bị đơn ông Phan Thành V vay vốn theo Hợp đồng tín dụng số K.0010/1324 với các
nội dung chính: Số tiền vay vốn gốc 300.000.000 đồng; thời hạn vay 120 tháng (từ
ngày 16/4/2024 đến ngày 17/4/2034), mục đích vay tiêu dùng; lãi suất cho vay
trong hạn 10%/năm được cố định trong 12 tháng đầu tiên, các tháng tiếp theo điều
chỉnh theo định kỳ 03 tháng/lần vào ngày 16; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất
trong hạn tại thời điểm phát sinh nợ quá hạn; phương thức thanh toán – Vốn gốc trả
thành 120 kỳ (mỗi kỳ trả 2.500.000 đồng vào ngày 16 hàng tháng), lãi vay trả định
kỳ vào ngày 16 hàng tháng, trường hợp không thanh toán đúng hạn nợ gốc, nợ lãi
và không được Ngân hàng K gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn thì Ngân hàng K được
thu hồi nợ trước hạn. Thực hiện hợp đồng ngân hàng đã giải ngân cho vay số tiền
300.000.000 đồng theo Bảng kê rút vốn kiêm nhận nợ vay ngày 16/4/2024. Trong
quá trình thực hiện hợp đồng bên vay vi phạm nghĩa vụ thanh toán (chỉ thực hiện
đúng nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi đến ngày 16/10/2024; quá hạn kể từ ngày 17/10/2024
và lần thanh toán gần nhất là ngày 31/10/2024). Tính đến ngày 09/6/2025, ông V
còn nợ tổng số tiền 304.133.562 đồng; trong đó, nợ gốc 285.000.000 đồng, nợ lãi
trong hạn 18.280.000 đồng, nợ lãi quá hạn 853.562 đồng.
Để đảm bảo khoản vay trên ông V đã thế chấp cho Ngân hàng K tài sản là
quyền sử dụng đất tại thửa đất số 635, tờ bản đồ số 03, tọa lạc Khu vực T, phường U,
quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH
01034 do Ủy ban nhân dân quận Thốt Nốt cấp ngày 13/3/2013 cho ông Phan Thành
Thơ đứng tên chủ sử dụng và đã chỉnh lý tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Phan
Thành V ngày 11/7/2013, theo Hợp đồng thế chấp số K.0028/TC24 ngày 15/4/2024.
Do ông V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng đã ký, dù
Ngân hàng K nhiều lần nhắc nhở nhưng ông vẫn không thực hiện nghĩa vụ. Nay
Ngân hàng K yêu cầu ông V phải thanh toán cho Ngân hàng K tổng tiền nợ gốc và
lãi phát sinh tính đến ngày 09/6/2025 là 304.133.562 đồng và phải tiếp tục chịu lãi
phát sinh cho đến khi thanh toán xong nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Trường
hợp ông V không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số nợ trên thì cho Ngân
hàng K được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản đã thế chấp theo
3
hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên để nguyên đơn thu hồi nợ. Ngoài ra, tại phiên
tòa phía Ngân hàng K xác định phần tài sản (nhà) của ông Phan Ngọc M trên thửa
đất số 635, tờ bản đồ số 03 đã có khi thẩm định tài sản thế chấp nhưng Ngân hàng K
không có chứng cứ gì chứng minh việc đương sự này đồng ý thế chấp tài sản trên
đất cho ngân hàng, do vậy khi xử lý tài sản thế chấp thì chỉ yêu cầu xử lý quyền sử
dụng đất thửa đất số 635, tờ bản đồ số 03 và tài sản trên đất của ông V.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ
lý vụ án và triệu tập bị đơn ông Phan Thành V; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Phan Ngọc M tham gia tố tụng theo quy định pháp luật nhưng những
người này đều vắng mặt và cũng không nộp cho Tòa án văn bản ý kiến của mình
đối với yêu cầu của nguyên đơn, nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có
trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, theo yêu cầu của đương sự Tòa án tiến
hành xem xét, thẩm định tại chỗ thửa đất số 635, tờ bản đồ số 03 và xác định thửa
đất đúng với thửa đất bị đơn thế chấp cho Ngân hàng. Đồng thời, trên thửa đất có
các tài sản sau:
+ Nhà của ông Phan Thành V: Nhà chính có kết cấu khung cột bê tông cốt
thép, mái tole, trần thạch cao, tường gạch xây, nền gạch men, giá trị (70%), diện
tích 66,42m
2
. Nhà sau có kết cấu khung cột thép tiền chế, mái tole, trần tấm cách
nhiệt, vách tole, nền gạch men, giá trị (80%), diện tích 16,2m
2
. Mái che trước nhà
kết cấu khung cột thép, mái tole, không trần, nền gạch tàu, diện tích 16,74m
2
.
+ Nhà của ông Phan Ngọc M: Có kết cấu khung cột gỗ, mái tole, không trần,
vách tole, nền gạch men, giá trị 30%, diện tích 41,6m
2
.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 47/2025/DS-ST ngày 09 tháng 6 năm 2025
của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ cũ đã quyết định: Căn cứ
vào các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 227, 228, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015; Điều 4, 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 275, 317, 323, 325,
463, 466 của Bộ luật Dân sự; Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính
phủ về giao dịch bảo đảm; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của
Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP
ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên
án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc ông Phan Thành V có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Trách
nhiệm hữu hạn Một thành viên Số K (tên gọi trước đây là Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Đ) tổng số tiền tính đến ngày 09/6/2025 là 304.133.562 đồng (Ba trăm
linh bốn triệu một trăm ba mươi ba nghìn năm trăm sáu mươi hai đồng); trong đó,
nợ gốc là 285.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 18.280.000 đồng, nợ lãi quá hạn
853.562 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 09/6/2025) cho
đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số
4
tiền còn phải thi hành án theo sự thỏa thuận giữa các bên nhưng phải phù hợp với
quy định của pháp luật.
Trường hợp ông Phan Thành V không trả hết nợ trên thì Ngân hàng Trách
nhiệm hữu hạn Một thành viên Số K được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có
thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 635, tờ bản
đồ số 03, tọa lạc Khu vực T, phường U, quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH 01034 do Ủy ban nhân dân quận
Thốt Nốt cấp ngày 13/3/2013 cho ông Phan Thành Thơ đứng tên quyền sử dụng,
đã chỉnh lý tặng cho toàn bộ quyền sử dụng đất cho ông Phan Thành V ngày
11/7/2013 và tài sản gắn liền trên đất của ông Phan Thành V theo Hợp đồng thế
chấp quyền sử dụng đất số K.0028/TC24 ngày 15/4/2024 để nguyên đơn thu hồi nợ.
Khi xử lý quyền sử dụng đất tại thửa đất số 635 thì ông Phan Ngọc M được tiếp tục
sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình; quyền và nghĩa vụ của bên
thế chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển
giao cho người nhận chuyển quyền sử dụng đất. Đồng thời, dành cho ông M được
quyền ưu tiên mua đối với phần diện tích đất có nhà trên đất nếu ông có nhu cầu
nhận chuyển nhượng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí sơ thẩm, chi phí tố tụng và thông
báo quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
- Ngày 18/6/2025, nguyên đơn Ngân hàng K có đơn kháng cáo và được Tòa
án cấp sơ thẩm nhận ngày 20/6/2026. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét điều
chỉnh bản án sơ thẩm theo hướng hủy bỏ nội dung tuyên tại Bản án sơ thẩm số
47/2025/DS-ST ngày 09/6/2025 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố
Cần Thơ cũ với nội dung: Khi xử lý quyền sử dụng đất tại thửa đất số 635 thì ông
Phan Ngọc M được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của bên thế
chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao
cho người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, do không đủ cơ sở pháp lý để
đảm bảo quyền xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng theo đúng quy định pháp luật.
- Tại phiên tòa phúc thẩm:
+ Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng K không rút đơn
khởi kiện, không thay đổi, bổ sung hoặc rút đơn kháng cáo và cho rằng: Bản án sơ
thẩm tuyên cụm từ “Khi xử lý quyền sử dụng đất tại thửa đất số 635 thì ông Phan
Ngọc M được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình; quyền
và nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với
đất được chuyển giao cho người nhận chuyển quyền sử dụng đất” là gây bất lợi cho
Ngân hàng và không đúng quy định của pháp luật, nên đề nghị chấp nhận kháng
cáo của Ngân hàng.
+ Các đương sự không có thỏa thuận nào liên quan đến việc giải quyết vụ án.
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về tính có căn cứ và hợp
pháp của kháng cáo, về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng của những
người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai
đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm. Đồng thời, về quan điểm giải quyết vụ
5
án là đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và áp dụng
khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra các
chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận, ý kiến phát biểu và đề nghị
của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Người kháng cáo, nội dung và hình thức đơn kháng cáo, thời hạn kháng
cáo của Ngân hàng K là đúng theo quy định tại Điều 271, Điều 272, khoản 1 Điều
273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) – Viết tắt là
Bộ luật TTDS, nên kháng cáo hợp lệ được Tòa án chấp nhận và tiến hành xét xử
phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Ngô Thùy
D, bị đơn ông Phan Thành V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan
Ngọc M đều vắng mặt không có lý do; việc vắng mặt của những người vừa nêu
không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3
Điều 296 của Bộ luật TTDS, tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Xét kháng cáo của Ngân hàng K về việc yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm
xem xét điều chỉnh bản án sơ thẩm theo hướng hủy bỏ nội dung tuyên tại Bản án sơ
thẩm số 47/2025/DS-ST ngày 09/6/2025 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành
phố Cần Thơ cũ với nội dung: Khi xử lý quyền sử dụng đất tại thửa đất số 635 thì
ông Phan Ngọc M được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của bên
thế chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển
giao cho người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, do không đủ cơ sở pháp lý
để đảm bảo quyền xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng theo đúng quy định pháp
luật. Xét thấy, theo bản án sơ thẩm xác định Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
số K.0028/TC24 ngày 15/4/2024, đối với thửa đất số 635, tờ bản đồ số 03, tọa lạc
Khu vực T, phường U, quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số vào sổ CH 01034 do Ủy ban nhân dân quận Thốt Nốt cấp ngày
13/3/2013 cho ông Phan Thành Thơ đứng tên quyền sử dụng, đã chỉnh lý tặng
cho toàn bộ quyền sử dụng đất cho ông Phan Thành V ngày 11/7/2013 và tài sản
gắn liền trên đất của ông Phan Thành V, được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Đ (nay đổi tên thành Ngân hàng K) với ông Phan Thành V đảm báo đúng
quy định của pháp luật, nên tuyên bán phát mãi tài sản thế chấp trong trường hợp
ông Phan Thành V không trả hết nợ trên. Đồng thời, dành cho ông M được quyền
ưu tiên mua đối với phần diện tích đất có nhà trên đất nếu ông có nhu cầu nhận
chuyển nhượng là có căn cứ. Tuy nhiên, lại tuyên cụm từ “Khi xử lý quyền sử dụng
đất tại thửa đất số 635 thì ông M được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền,
nghĩa vụ của mình; quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ với chủ
sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao cho người nhận chuyển quyền sử
dụng đất” sẽ gây khó khăn trong quá trình thi hành án và ảnh hưởng đến quyền yêu
cầu bán phát mãi tài sản thế chấp của Ngân hàng K, mà chỉ cần dành quyền ưu tiên
6
mua (nhận chuyển nhượng) nếu ông M có nhu cầu, nếu không mua (nhận chuyển
nhượng) thì cơ quan Thi hành án có thẩm quyền có thể bán phát mãi toàn bộ thửa
đất, kể cả tài sản trên đất, nếu tài sản của ai trên đất mà không thuộc đối tượng thế
chấp thì hoàn trả trả giá trị tài sản cho họ sau khi bán phát mãi.
[4] Từ những nhận định tại mục [3] nêu trên thấy rằng kháng cáo của nguyên
đơn Ngân hàng K là có căn cứ chấp nhận theo hướng điều chỉnh bỏ cụm từ như
yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng K, nhưng không cần tuyên sửa bản án dân sự sơ
thẩm. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 6 Điều 313 của Bộ luật
TTDS, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án cấp sơ thẩm theo hướng điều
chỉnh bỏ cụm từ như vừa nêu trên.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của Nguyên đơn Ngân hàng
K được chấp nhận, nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại
khoản 1 Điều 148 của Bộ luật TTDS và khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[6] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần
Thơ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và áp dụng
khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm
là không cần thiết, chỉ cần điều chỉnh bỏ cụm từ như nhận định ở phần trên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 6 Điều 313, khoản 2 Điều 148 của Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); căn cứ khoản 2 Điều 29
của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ
phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng Trách nhiệm
hữu hạn Một thành viên Số K (tên gọi trước đây là Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Đ).
2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 47/2025/DS-ST ngày 09 tháng 6
năm 2025 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ (nay là Tòa án
nhân dân khu vực 4 – Cần Thơ), sau khi điều chỉnh bỏ cụm từ. Án được tuyên lại
như sau:
2.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Trách nhiệm
hữu hạn Một thành viên Số K.
- Buộc ông Phan Thành V có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Trách
nhiệm hữu hạn Một thành viên Số K tính đến ngày 09/6/2025, tổng số tiền là
304.133.562 đồng (Ba trăm linh bốn triệu một trăm ba mươi ba nghìn năm trăm
sáu mươi hai đồng); trong đó, nợ gốc là 285.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn
18.280.000 đồng, nợ lãi quá hạn 853.562 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét
xử sơ thẩm (ngày 09/6/2025) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án
7
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo sự thỏa thuận
giữa các bên trong hợp đồng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
- Trường hợp ông Phan Thành V không trả hết nợ trên thì Ngân hàng Trách
nhiệm hữu hạn Một thành viên Số K được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có
thẩm quyền bán phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 635,
tờ bản đồ số 03, tọa lạc Khu vực T, phường U, quận N, thành phố Cần Thơ (nay
là phường Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số vào sổ CH 01034 do Ủy ban nhân dân quận Thốt Nốt cấp ngày 13/3/2013
cho ông Phan Thành Thơ đứng tên quyền sử dụng, đã chỉnh lý tặng cho toàn bộ
quyền sử dụng đất cho ông Phan Thành V ngày 11/7/2013 và tài sản gắn liền
trên đất của ông Phan Thành V theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
K.0028/TC24 ngày 15/4/2024 để nguyên đơn thu hồi nợ. Đồng thời, dành cho ông
Phan Ngọc M được quyền ưu tiên mua (nhận chuyển nhượng) đối với phần diện
tích đất có nhà trên đất nếu có nhu cầu nhận chuyển nhượng.
2.2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Phan Thành V phải chịu số
tiền 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng). Do nguyên đơn đã nộp tạm
trước toàn bộ, nên bị đơn ông Phan Thành V có trách nhiệm nộp số tiền 3.500.000
đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) để hoàn lại cho nguyên đơn Ngân hàng
Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Số K.
2.3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Phan Thành V phải chịu số tiền 15.206.678 đồng (Mười lăm triệu
hai trăm linh sáu nghìn sáu trăm bảy mươi tám đồng).
- Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Số K được hoàn trả lại
số tiền 7.250.000 đồng (Bảy triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) đã nộp tạm
ứng án phí theo Biên lai thu số 0005924 ngày 08/01/2025 của Chi cục Thi hành
án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ (nay là Phòng thi hành án dân sự
khu vực 4 – Cần Thơ).
3. Vế án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một
thành viên Số K không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho
Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Số K số tiền 300.000 đồng (Ba
trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0002778 ngày
24/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ
(nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 – Cần Thơ).
4. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), thì những
người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi
hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời
hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự.
8
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Cần Thơ;
- TAND khu vực 4 - Cần Thơ;
- THADS khu vực 4 - Cần Thơ;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Văn Toàn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 19/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 19/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 15/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm