Bản án số 207/2026/DS-PT ngày 28/07/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 207/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 207/2026/DS-PT ngày 28/07/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 207/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V2 (V1) và Công ty cổ phần M1; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2026/DS-ST ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 207/2026/DS-PT Bản án số 207/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 207/2026/DS-PT Bản án số 207/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 207/2026/DS-PT
Ngày 28-7-2026
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng,
hợp đồng thế chấp tài sản
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Giang
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Minh Tân
Bà Trần Thị Vân Th
- Thư phiên toà: Hoàng Thị Hồng Hạnh - Thư Toà án nhân dân
thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
tòa: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
xét xử phúc thẩm công khai vụ án n sự thụ số: 84/2026/TLPT-DS ngày 22 tháng
05 năm 2026 v việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản.
Do Bản án dân sự thẩm số 17/2026/DS-ST ngày 02 tháng 04 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số 176/2026/QĐ-PT ngày 29
tháng 6 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 288/2026/QĐ-PT ngày 14 tháng
07 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
+ Ngân hàng Thương mại cổ phần V (V1); địa chỉ: Số H L, phường Đ, thành
phố Hà Nội;
Người đại diện theo u quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ
phần V (V1): Ông Hà Giang S, số CCCD: ************ - Chuyên viên xnợ;
vắng mặt;
+ Công ty Cổ phần M1; địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà V, số I D, phường C, thành
phố Hà Nội;
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty Cổ phần M1: Ông
2
Nguyễn Đức L, số CCCD: ************ - Chuyên viên xử lý nợ; có mặt;
- Bị đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1983, số CCCD: ************; địa chỉ:
Khu A, xã K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
- Người quyn lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Ngô Văn B, sinh năm 1980, số
CCCD: ************ và chị Trần Thị Yến L1, sinh năm 1986, số CCCD:
************; cùng địa chỉ: Khu N, phường V, tỉnh Bắc Ninh; đu vắng mặt.
Người kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V2 (V1); địa
chỉ: Số H L, phường Đ, thành phố Hà NộiCông ty cổ phần M1; địa chỉ: Tầng A,
tòa nhà V, số I D, phường C, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, tài liệu bổ sung lời trình bày tại phiên tòa,
nguyên đơn Thương mại cphần V (V3) ng ty cổ phần M1 thống nhất trình
bày:
Chị Trần Thị H (là nhân độc thân không đăng kinh doanh) quan
hệ tín dụng với V3 theo 04 khoản cấp tín dụng, tổng hạn mức 2.064.500.000 đồng,
gồm:
STT
Khoản tín dụng
Hạn mức
Ngày giải ngân/
phát sinh
(1)
Hợp đồng cho vay hạn mức số
LN2311251007428 ngày
29/11/2023
790.000.000 đồng
01/12/2023
(2)
Hợp đồng cho vay theo hạn mức
thấu chi trên tài khoản thanh toán số
LN22311251007427 ngày
29/11/2023
735.000.000 đồng
Phát sinh sử dụng từ
29/11/2023
(3)
Hợp đồng cho vay hạn mức số
LN2312081152616 khế ước
nhận nợ kèm theo ngày
11/12/2023
500.000.000 đồng
20/12/2023
(4)
Giấy đ nghị mở hạn mức sử
dụng thẻ tín dụng ngày
20/11/2023
Hạn mức
39.500.000 đồng
Phát sinh giao dịch
từ 28/12/2023
Mục đích của các khoản vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng.
Quá trình thực hiện hợp đồng, chị H đã trả cho V3 tổng cộng 128.196.717
đồng, trong đó trả gốc 46.371.082 đồng trả lãi 81.825.635 đồng. Từ ngày
3
15/8/2024, chị H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên các khoản nợ bị chuyển quá hạn
theo điu khoản tín dụng và theo bảng kê tính lãi của nguyên đơn.
Ngày 28/3/2025, V3Công ty cổ phần M1 xác lập thỏa thuận mua bán nợ.
Theo đó, V3 chuyển nhượng cho M 95% quyn đòi nợ phát sinh từ ba khoản vay số
LN2311251007428, LN22311251007427, LN2312081152616 chuyển nhượng
100% khoản nợ phát sinh từ thẻ tín dụng số 167-P-0984346; V3 còn nắm giữ 5%
phần còn lại của ba khoản vay đầu tiên.
V tài sản bảo đảm, nguyên đơn cho rằng chị H đã thế chấp toàn bộ quyn sử
dụng đất, nvà tài sản khác gắn lin với đất tại thửa đất số 91, tờ bản đồ số 20
tại Khu N, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Giấy chứng nhận số CH 232411,
số vào sổ cấp GCN CS 610 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh B cấp ngày
14/8/2018, đăng biến động sang tên chị Trần Thị H ngày 10/11/2023. Do vậy,
nguyên đơn yêu cầu khi chị H không trả nợ thì được quyn xử lý cả quyn sử dụng
đất và nhà, công trình trên đất.
Bị đơn chị Trần Thị H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không
nộp văn bản trình bày ý kiến, không có yêu cầu phản tố.
Người quyền và nghĩa vụ liên quan anh Ngô Văn B chị Trần Thị Yến L1
thống nhất trình bày:
Bị đơn chị Trần Thị H là chị gái của chị Trần Thị Yến L1.
Việc chị H vay tin ngân hàng thì anh B và chL1 đu biết. Thửa đất chị H
đứng tên thế chấp để vay vốn ngân hàng trước đây của vợ chồng anh B - Chị
L1; Trước đây vợ chồng anh B, chị L1 đồng ý sang tên quyn sử dụng đất thông
quan một hợp đồng tặng cho quyn sử dụng đất cho chị H để chị H đứng tên thế
chấp vay vốn ngân hàng. Tuy nhiên, ngôi nhà hiện có trên đất là của vợ chồng anh,
chị L1; anh B, chị L1 không sử dụng nhà để bảo lãnh cho khoản vay của chị H và
không đồng ý dùng nhà của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ của chị H. Anh B và ch
L1 đ nghị Tòa án nếu xử lý tài sản thì chỉ xử lý quyn sử dụng đất đứng tên chị H,
không xử lý nhà của anh chị.
Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 31/12/2025 thể hiện: Tại thửa
đất số 91 01 ngôi nhà 3 tầng kiểu một phần nhà 3 tầng phía trước giáp
đường (nhà xưởng); thực tế ông B L1 đang trực tiếp sử dụng nhà đất; riêng
phần quyn sử dụng đất trên giấy chứng nhận đứng tên chị H. Anh B, chị L1 xác
định nhà, công trình nhà xưởng trên đất do anh B, chị L1 tạo lập, quản lý, sử dụng
thực tế.
Theo các biên bản lấy lời khai người làm chứng, ông Nguyễn Văn T,
Nguyễn Thị T1 khai việc ông T, T1 những người đã xây dựng ngôi nhà nằm
trên thửa đất số 91, tờ bản đồ số 20 thuộc phường V theo hợp đồng xây dựng với
4
chủ công trình nhà là vợ chồng anh B, chị L1; bà Ngô Thị T2 (là hàng xóm của anh
B - chị L1) khai, bà chứng kiến vợ chồng anh B, chị L1 xây dựng ngôi nhà nêu trên;
ngoài ra những người này đu không biết, không thấy chị H nào xây dựng ngôi nhà
trên. Việc xây nhà của anh B diễn ra năm 2020-2021.
Tại phiên tòa thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, v số tin
nợ gốc lãi thì đ nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu đòi nợ tính đến hết ngày
02/4/2026, cụ thể:
Nguyên đơn yêu cầu chị Trần Thị H thanh toán tổng cộng 2.799.658.157
đồng, gồm:
Khoản nợ
Nợ gốc
Lãi trong
hạn
Lãi quá
hạn
Lãi chậm
trả
Tổng cộng
LN2311251007428
743.919.000
6.550.341
206.067.601
24.037.412
980.574.354
LN2312081152616
500.000.000
6.360.232
134.165.753
15.987.323
656.513.308
LN22311251007427
734.709.918
66.522.819
233.939.688
36.478.182
1.071.650.607
167-P-0984346
(Khoản vay thẻ tín
dụng)
38.744.993
997.445
46.966.290
4.211.160
90.919.888
Cộng
2.017.373.911
80.430.837
621.139.332
80.714.077
2.799.658.157
Trong tổng số tin trên, Công ty cổ phần M1 yêu cầu thanh toán 2.664.221.244
đồng; V3 yêu cầu thanh toán 135.436.914 đồng. Nguyên đơn còn yêu cầu tiếp tục
tính lãi theo thỏa thuận kể từ ngày 03/4/2026 đến khi trả hết nợ; trường hợp chị H
không thực hiện nghĩa vụ thì nguyên đơn được quyn yêu cầu quan thi hành án
xử tài sản bảo đảm là quyn sử dụng đất thế chấp ngôi nhà trên đất để bảo đảm
xử nợ, tuy nhiên, nguyên đơn chỉ đ nghị sử dụng tin thu được từ xử lý quyn sử
dụng đất để đảm bảo trả nợ vay, còn tin thu được từ xử ngôi nhà thì được hoàn
trả lại cho anh B và chị H.
* Sau khi xét x thẩm, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V2 (V1)
Công ty cổ phần M1 đơn kháng cáo đối với Bản án dân sự thẩm số 17/2026/DS-
ST ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng, đ nghị
Toà án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn v phần xử tài sản bảo đảm với nội dung: Trường hợp
Trần Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Công ty
M1 và Ngân hàng V1 có quyn yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyn
kê biên, phát mại đồng thời toàn bộ quyn sử dụng đất tại thửa đất số 91, tờ bản đồ
số 20; địa chỉ: Khu N, phường V, tỉnh Bắc Ninh và tài sản gắn lin với đất (căn nhà
3 tầng) để thu nợ.
5
Tại giai đoạn phúc thẩm, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V2
(V1) và Công ty cổ phần M1 không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ gì mới.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
V thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc
thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành và thực hiện đúng các quyn
nghĩa vụ quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn người quyn lợi, nghĩa
vụ liên quan chưa thực hiện đầy đủ các quyn nghĩa vụ quy định tại Bộ luật Tố
tụng dân sự.
V quan điểm đối với kháng cáo của nguyên đơn:
Nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần V2 (V1) và Công ty cổ phần
M1 kháng cáo, đnghị sửa bản án thẩm theo hướng nguyên đơn quyn yêu
cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyn kê biên, xử lý quyn sử dụng đất và
tài sản trên đất thuộc thửa đất số 91, tờ bản đồ s20, địa chỉ Khu N, phường P, thành
phố B, tỉnh Bắc Ninh (nay là phường V, tỉnh Bắc Ninh).
Tài liệu trong hồ sơ thể hiện:
Tài sản thế chấp là quyn sử dụng đất thửa số 91, tờ bản đồ số 20 hiện đứng
tên chị Trần Thị H theo Giấy chứng nhận số CH 232411 nên chị H quyn dùng
quyn sử dụng đất đó để thế chấp bảo đảm nghĩa vtrả nợ. Hợp đồng thế chấp quyn
sử dụng đất được V3 chị H giao kết tự nguyện đăng thế chấp tại quan
nhà nước có thẩm quyn theo quy định.
Ngoài xác lập hợp đồng thế chấp quyn sử dụng đất, chị H Ngân hàng còn
tự lập với nhau văn bản thỏa thuận bsung, độc lập với hợp đồng thế chấp quyn sử
dụng đất, xác nhận ngôi nhà trên đất tài sản thuộc sở hữu riêng của chị H và đồng
ý đưa tài sản này vào phạm vi xử bảo đảm, nhưng văn bản này chỉ do chị H
Ngân hàng ký kết, anh B, chị L1 không tham gia.
Tuy nhiên tại Giấy chứng nhận số CH 232411 thể hiện mục “Nhà ở” Công
trình xây dựng khác” đu không ghi nhận quyn sở hữu nhà, công trình của chị H;
Phiếu yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm chỉ kê khai quyn sử dụng đất, không kê
khai tài sản gắn lin với đất; Hợp đồng thế chấp số 4407/2023/HĐTC cũng chỉ mô
tả quyn sử dụng đất là tài sản thế chấp. Lời khai của anh B, chị L1, kết quả xem xét
thẩm định tại chỗ ngày 31/12/2025 các biên bản lấy lời khai người làm chứng đu
thể hiện ngôi nhà trên đất vẫn do anh B, chị L1 trực tiếp quản lý, sdụng. Xác minh
tại Văn phòng Đ, chi nhánh V4 đăng ký đất đai liên phường B thể hiện:" Không có
tài liệu nào kèm theo hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất mà có thể hiện việc ông B, bà
L1 tặng cho, bán để chuyển giao quyền sở hữu ngôi nhà trên đất cho Trần Thị
H". Như vậy, không đủ căn cứ để xác định các công trình trên đất tài sản của
6
chị Trần Thị H như bản án sơ thẩm nhận định là có căn cứ. Quá trình thẩm định tài
sản thế chấp, ngân hàng đã không làm rõ tài sản trên đất không phải của người thế
chấp tài sản, do đó đây là lỗi của phía ngân hàng.
Mặc vậy, ngôi nhà các công trình trên đất tài sản gắn lin với đất.
Việc Tòa án cấp thẩm tuyên “Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn v quyn được yêu cầu quan thi hành án dân sự thẩm quyn xử lý, phát
mại nhà ở, công trình xây dựng trên đất” khiến bản án không thể thi hành được. Cần
thiết phải sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng: Nguyên đơn có quyn yêu cầu
thi hành án dân sự thẩm quyn xử lý, phát mại nhà ở, công trình xây dựng trên
đất và phải trả giá trị tài sản trên đất cho anh Ngô Văn B, chị Trần Thị Yến L1.
Như vậy, căn cứ để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa một phần
bản án sơ thẩm như phân tích ở trên.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh luận tại phiên tòa,
căn cứ vào khoản 2 Điu 308, Điu 309 Bộ luật Tố tụng dân sự đ nghị Hội đồng
xét xử:
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mi cổ phần V2
(V1) và Công ty cổ phần M1, sửa một phần bản án sơ thẩm số 17/2026/DS-ST ngày
02 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng theo hướng:
Tuyên nguyên đơn quyn yêu cầu thi hành án dân sự có thẩm quyn xử lý, phát
mại nhà ở, công trình xây dựng trên đất phải trả giá trị tài sản trên đất cho anh
Ngô Văn B, chị Trần Thị Yến L1.
V án phí: Do bản án bị sửa nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- V tố tụng:
[1] V quan hpháp luật có tranh chấp thẩm quyn giải quyết vụ án: Các
đương sự tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản với mục đích vay
phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân không có đăng ký kinh doanh là tranh chấp
hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điu 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Do vụ án
kháng cáo nên thuộc thẩm quyn giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải
Phòng theo điểm b khoản 1 Điu 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] V hợp đồng tín dụng.
Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, tài liệu chứng cứ do nguyên đơn giao
nộp, các tài liệu chứng cứ khác trong hván, đủ căn cứ xác định giữa
Ngân hàng V3 chị Trần Thị H đã giao kết 04 hợp đồng tín dụng với nội dung cụ
thể như nguyên đơn đã trình bày. Các hợp đồng tín dụng được xác lập bằng văn bản,
đầy đủ nội dung chủ yếu của giao dịch, được các bên tự nguyện giao kết, không
7
vi phạm điu cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên có hiệu lực theo Điu 117
Bộ luật dân sự, Điu 91 Luật các tổ chức tín dụng Thông số 39/2016/TT-
NHNN. Tài liệu chứng cứ đã đủ căn cứ xác định V3 thực tế đã cấp tín dụng cho chị
H đối với cả 04 khoản nêu trên.
[3] V lãi suất trong hạn, chuyển nợ quá hạn và lãi chậm trả: Bảng kê tính lãi
do nguyên đơn nộp thể hiện chế lãi suất điu chỉnh theo kỳ, bảng lãi suất
sở/ tham chiếu của V3 qua các thời điểm; đối với nợ quá hạn, bảng tính áp dụng mức
150% lãi suất trong hạn; đối với lãi chậm trả, bảng tính áp dụng mức 10%/năm trên
số lãi chậm trả. Cách tính này phù hợp với khoản 4 Điu 13 Thông số
39/2016/TT-NHNN. Tài liệu công khai của V3 cũng cho thấy đối với các khoản vay
điu chỉnh lãi suất, V3 áp dụng chế điu chỉnh định kỳ 03 tháng vào các ngày
01/01, 01/04, 01/07 01/10 hằng năm. Bị đơn không tài liệu nào chứng minh
nguyên đơn áp dụng lãi suất vượt quá thỏa thuận hoặc vượt giới hạn pháp luật cho
phép; vì vậy yêu cầu tính nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi chậm trả là
sở chấp nhận. Xem xét tài liệu, chứng cứ vviệc cấp tín dụng tài liệu vthanh
toán nợ do nguyên đơn nộp, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu
cầu thanh toán nợ gốc, lãi tính đến hết ngày 02/4/2026 (ngày xét xử thẩm) như
nguyên đơn là đã yêu cầu.
[4] V thỏa thuận mua bán nợ giữa Ngân hàng V3 Công ty cổ phần M1:
Tài liệu trong hồ thể hiện V3 đã chuyển nhượng cho M một phần khoản nợ đối
với ba hợp đồng tín dụng đầu tiên toàn bkhoản nợ thẻ tín dụng. Việc chuyển
giao quyn yêu cầu này phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự; vậy Công ty
M1 trở thành đồng nguyên đơn hợp pháp đối với phần quyn đòi nợ đã nhận, còn
V3 tiếp tục là chủ nợ đối với phần quyn chưa chuyển giao.
[5] V nghĩa vụ trả nợ cụ thể:
Tính đến hết ngày 02/4/2026, chị H còn nợ tổng cộng 2.799.658.157 đồng.
Việc phân chia quyn đòi nợ giữa M và V3 theo tỷ l95% - 5% đối với ba khoản
vay đầu tiên (được nêu theo thứ tự các khoản vay nguyên đơn trình bày trong
yêu cầu khởi kiện) 100% cho M đối với khoản vay thứ 4 (khoản vay thẻ tín dụng).
Do đó: Công ty M1 quyn yêu cầu thanh toán 2.664.221.244 đồng; Ngân hàng
V3 có quyn yêu cầu thanh toán 135.436.914 đồng. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu
khởi kiện, buộc bị đơn phải thanh toán cho mỗi nguyên đơn số nợ nêu trên.
[5] V hợp đồng thế chấp: Quyn sử dụng đất thửa số 91, tờ bản đồ số 20 hiện
đứng tên chị Trần Thị H theo Giấy chứng nhận số CH 232411 nên chị H quyn
dùng quyn sử dụng đất đó để thế chấp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ. Hợp đồng thế chấp
quyn sử dụng đất được V3 và chị H giao kết tự nguyện và đăng ký thế chấp tại
quan nhà nước có thẩm quyn theo quy định.
8
[6] Ngoài xác lập hợp đồng thế chấp quyn sử dụng đất, chị H và Ngân hàng
còn tự lập với nhau văn bản thỏa thuận bổ sung, độc lập với hợp đồng thế chấp quyn
sử dụng đất, xác nhận ngôi nhà trên đất tài sản thuộc sở hữu riêng của chị H
đồng ý đưa tài sản này vào phạm vi xử lý bảo đảm, nhưng văn bản này chỉ do chị H
và Ngân hàng ký kết, anh B, chị L1 không tham gia;
Tuy nhiên, đối với nhà ở, công trình trên đất: hồ ván không tài liệu,
chứng cứ nào chứng minh anh Ngô Văn B, chị Trần Thị Yến L1 đã chuyển quyn
sở hữu nhà cho chị Trần Thị H. Ngược lại, Giấy chứng nhận số CH 232411 thể hiện
mục “Nhà ở” “Công trình xây dựng khác” đu ghi -/-”, tức không ghi nhận
quyn sở hữu nhà, công trình của chị H; Phiếu yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm
chỉ kê khai quyn sử dụng đất, không kê khai tài sản gắn lin với đất; Hợp đồng thế
chấp số 4407/2023/HĐTC cũng chỉ tả quyn sử dụng đất tài sản thế chấp.
Đồng thời, lời trình bày nhất quán của anh B, chị L1, kết quả xem xét thẩm định tại
chỗ ngày 31/12/2025 các biên bản lấy lời khai người làm chứng đu thể hiện ngôi
nhà trên đất do anh B, chị L1 trực tiếp quản lý, sử dụng; người làm chứng xác nhận
việc xây dựng nhà do anh B, chị L1 thuê quản thi công, không phải do chị H
trực tiếp tạo lập. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn không cung cấp được chứng
cứ nào thể hiện anh B, chị L1 đã bán, tặng cho hoặc chuyển quyn sở hữu ngôi nhà
cho chị H, nên chH không có quyn định đoạt đối với tài sản là ngôi nhà.
[7] Xét hiệu lực của Hợp đồng thế chấp quyn sử dụng đất:
Mặc dù trên thửa đất thế chấp có tài sản là ngôi nhà của vợ chồng anh B - chị
L1, không được anh B, chị L1 thỏa thuận với ngân hàng sử dụng ngôi nhà làm tài
sản bảo đảm cho khoản vay của chị H, tuy nhiên theo Án lệ số 11/2017/AL thì Hợp
đồng thế chấp quyn sử dụng đất vẫn có hiệu lực.
[8] V yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm:
V yêu cầu xử quyn sử dụng đất thế chấp: Quyn sử dụng đất thế chấp
đảm bảo cho toàn bộ khoản vay của chị H. Trường hợp chị H vi phạm nghĩa vụ trả
nợ thì nguyên đơn quyn yêu cầu xử quyn sử dụng đất thế chấp để đảm bảo
trả nợ.
V yêu cầu xử lý ngôi nhà, công trình nhà xưởng trên đất:
Nguyên đơn yêu cầu, trường hợp chị Trần Thị H không thực hiện nghĩa vụ trả
nợ thì nguyên đơn được quyn đ nghị cơ quan thi hành án dân sự xử phát mại cả
ngôi nhà, công trình trên đất tại thửa đất số 91, tờ bản đồ số 20, theo Giấy chứng
nhận số CH 232411. Hội đồng xét xử thấy rằng, ngôi nhà và công trình trên đất
tài sản của anh B, chị L1 không phải là tài sản của chủ sử dụng đất chị H. Ngôi
nhà tài sản trên đất không được anh B chị L1 sử dụng làm tài sản bảo lãnh cho
khoản vay của chị H, nên không căn cứ chấp nhận yêu cầu xử ngôi nhà công
trình trên đất của nguyên đơn. Theo quy định tại khoản 2 Điu 325 Bộ luật dân sự,
9
Án lệ số 11/2017/AL, anh B chị L1 được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi
quyn, nghĩa vụ của mình; quyn nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ
với chủ sở hữu tài sản gắn lin với đất được chuyển giao cho người nhận chuyển
quyn sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Khi xử quyn sử dụng đất,
anh B, chị H được ưu tiên nhận chuyển nhượng nếu có nhu cầu.
[9] Sau khi xét x thẩm, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V2
(V1) và Công ty cổ phần M1 đơn kháng cáo đối với Bản án dân sthẩm số
17/2026/DS-ST ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hải
Phòng.
Tại giai đoạn phúc thẩm, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V2
(V1) và Công ty cổ phần M1 không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ mới
làm căn cứ cho HĐXX xem xét kháng cáo của mình.
[9.1] Xét thấy, hiện quyn sử dụng đất thuộc thửa đất số 91, tờ bản đồ số 20,
địa chỉ tại Khu N, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (nay phường V, tỉnh Bắc
Ninh) thế chấp đảm bảo cho toàn bộ khoản vay của chị Trần Thị H. Trường hợp chị
H vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì nguyên đơn quyn yêu cầu xử quyn sử dụng
đất thế chấp để đảm bảo trả nợ. Việc nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần
V2 (V1) Công ty cổ phần M1 yêu cầu trường hợp chị H không thực hiện nghĩa
vụ trả nợ thì nguyên đơn được quyn đ nghị cơ quan thi hành án dân sự xử lý phát
mại cả ngôi nhà, công trình trên đất tại thửa đất số 91, tờ bản đồ số 20 là có căn cứ
(nhà xây trên đất được xác định là vật đặc định không thể tách rời).
Bản án dân sự thẩm số 17/2026/DS-ST ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn v
quyn được yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyn xử lý, phát mại nhà
ở, công trình xầy dựng trên đất được xác định của vợ chồng anh Ngô Văn B và chị
Trần Thị Yến L1 là không có căn cứ.
[9.2] Tuy nhiên, nhà công trình trên đất tài sản của anh Ngô Văn B
chị Trần Thị Yến L1 nên trường hợp phát mại tài sản là ngôi nhà trên đất thì nguyên
đơn phải trách nhiệm thanh toán giá trị nhà và tài sản trên đất theo kết quả định
giá tại thời điểm phát mại cho người quyn lợi nghĩa vliên quan vợ chồng
anh Ngô Văn B và chị Trần Thị Yến L1.
[9.3] Từ những phân tích trên, HĐXX chấp nhận một phần kháng cáo của
nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V2 (V1) Công ty cổ phần M1; sửa
Bản án dân sự thẩm s17/2026/DS-ST ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng theo quy định tại khoản 2 Điu 308, Điu 309 của
Bộ luật Tố tụng dân sự.
[10] V chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Chấp nhận sự tự nguyện của
nguyên đơn v việc chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
10
[11] V án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điu 147, khoản 2 Điu 148 Bộ luật Tố
tụng dân sự; căn cứ vào khoản 4 Điu 26, khoản 2 Điu 29 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
v mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
[11.1] V án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V (V3) và ng ty cổ phần M1
không phải chịu án phí dân sự thẩm. Trả lại cho Công ty cổ phần M1 tin tạm
ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 41.000.000 đồng theo Biên lai thu tin tạm ứng
án phí, lệ phí Toà án s0004598 ngày 21 tháng 10 năm 2025 tại Phòng Thi hành án
dân sự khu vực 12 - Hải Phòng.
Bị đơn chị Trần Thị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm số tin là: 72.000.000
đồng + 2% × (2.799.658.157 đồng - 2.000.000.000 đồng) = 87.993.000 đồng (đã
làm tròn).
[11.2] V án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn
Ngân hàng Thương mại cổ phần V2 (V1) ng ty cổ phần M1 được chấp nhận
nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp
luật. Trả lại tin tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm Ngân hàng Thương mại cổ
phần V2 (V1) Công ty cổ phần M1 đã nộp số tin 600.000 đồng theo Biên lai thu
tin số 0004167 ngày 13 tháng 04 năm 2026 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực
12 - Hải Phòng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điu 26, điểm a khoản 1 Điu 35, điểm b khoản 1 Điu
38, điểm a khoản 1 Điu 39, khoản 2 Điu 147, khoản 2 Điu 148, Điu 266, Điu
273; khoản 2 Điu 308; Điu 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 5 Điu 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi,
bổ sung một số điu của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư
pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
Căn cứ vào các Điu 117, 130, 131, 317, 318, 319, 323, khoản 2 Điu 325,
463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điu 91 Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ vào Điu 13 Thông số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của
Ngân hàng N;
Căn cứ vào Án lệ số 11/2017/AL ngày 14 tháng 12 năm 2017 của Hội đồng
Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
11
Căn cứ vào khoản 4 Điu 26; khoản 2 Điu 29 của Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định v mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
Xử: Chấp nhận một phần kháng cáo nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ
phần V2 (V1) Công ty cổ phần M1; sửa Bản án dân sự thẩm số 17/2026/DS-
ST ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng theo
hướng:
1. Phát mại tài sản gắn lin với đất căn nhà 3 tầng xây trên đất thuộc thửa
đất số 91, tờ bản đồ số 20 địa chỉ tại Khu N, phường V, tỉnh Bắc Ninh.
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V2 (V1) Công ty cổ phần M1
trách nhiệm phải thanh toán giá trị nhà và tài sản trên đất theo kết quả định giá
tại thời điểm phát mại cho người quyn lợi nghĩa vụ liên quan vợ chồng anh
Ngô Văn B, chị Trần Thị Yến L1. Trường hợp số tin thu được từ việc xử lý quyn
sử dụng đất và tài sản trên đất không đủ để thanh toán toàn bộ nghĩa vụ nợ thì chị
Trần Thị H vẫn phải tiếp tục thanh toán phần nghĩa vụ còn thiếu cho Công ty cổ
phần M1 và Ngân hàng V3 cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần V
Công ty cổ phần M1 đối với nghĩa vụ trả nợ của chị Trần Thị H.
2.1. Buộc chị Trần Thị H thanh toán cho Công ty cổ phần M1 số tin đã vay
gồm cả tin gốc, lãi tính đến hết ngày 02/4/2026 là 2.664.221.244 đồng (hai tỷ sáu
trăm sáu mươi tư triệu hai trăm hai mươi mt nghìn hai trăm bốn mươi bốn đồng).
2.2. Buộc chị Trần Thị H thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V
số tin đã vay, gồm cả gốc, lãi tính đến hết ngày 02/4/2026 135.436.914 đồng
(một trăm ba ơi lăm triệu bốn trăm ba mươi sáu nghìn chín trăm mười bốn đồng).
2.3. Kể từ ngày 03/4/2026 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ, chị
Trần Thị H n phải tiếp tục chịu khoản tin lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa
thanh toán theo mức lãi suất, phương thức điu chỉnh lãi suất, lãi quá hạn lãi chậm
trả đã thỏa thuận tại từng hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ, văn bản cấp tín dụng
theo tỷ lệ quyn đòi nợ tương ứng của Công ty cổ phần M1V3.
2.4. Trường hợp chị Trần Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy
đủ nghĩa vụ trả nợ, Công ty cổ phần M1 V3 quyn yêu cầu Cơ quan thi hành
án dân sự có thẩm quyn kê biên, xử quyn sử dụng đất thuộc thửa đất số 91, tờ
bản đồ số 20, địa chỉ Khu N, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (nay là phường
V, tỉnh Bắc Ninh); Giấy chứng nhận số CH 232411, số vào sổ cấp GCN CS 610 do
Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh B cấp ngày 14/8/2018 đứng tên chị Trần Thị H
để thu hồi nợ.
12
(Có sơ đồ minh họa thửa đất kèm theo bản án).
2.5. Khi xử lý phát mại tài sản thế chấp nêu trên, người có quyn lợi và nghĩa
vụ liên quan là vợ chồng anh Ngô Văn B, chị Trần Thị Yến L1 được ưu tiên quyn
mua nếu có nhu cầu.
3. V chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Chấp nhận sự tự nguyện của nguyên
đơn v việc chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
4. V án phí:
- V án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V (V3) và ng ty cổ phần M1
không phải chịu án phí dân sự thẩm. Trả lại cho Công ty cổ phần M1 tin tạm
ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 41.000.000 đồng theo Biên lai thu tin tạm ứng
án phí, lệ phí Toà án s0004598 ngày 21 tháng 10 năm 2025 tại Phòng Thi hành án
dân sự khu vực 12 - Hải Phòng.
Bị đơn chị Trần Thị H phải nộp án phí dân sự thẩm số tin 87.993.000
(Tám mươi bẩy triệu chín trăm chín mươi ba nghìn) đồng (đã làm tròn).
- V án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần
V2 (V1) Công ty cổ phần M1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại
tin tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm mà Ngân hàng Thương mại cổ phần V2 (V1)
Công ty cổ phần M1 đã nộp số tin 600.000 đồng theo Biên lai thu tin số 0004167
ngày 13 tháng 04 năm 2026 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 - Hải Phòng.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điu 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyn
thỏa thuận thi hành án, quyn yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điu 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điu 30 Luật Thi hành án
dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP Hải Phòng;
- TAND khu vực 12 - Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 12 - Hải Phòng;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Hồng Giang
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 207/2026/DS-PT Bản án số 207/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 207/2026/DS-PT Bản án số 207/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất