Bản án số 622/2025/DS-PT ngày 17/12/2025 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp đất đai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 622/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 622/2025/DS-PT ngày 17/12/2025 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp đất đai
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 622/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/12/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Lê Tấn t khởi kiện ông Đặng Văn S về tranh chấp đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐỒNG NAI Độc lập – Tự do Hạnh phúc
Bản án số: 622/2025/DS-PT
Ngày: 17-12-2025
V/v 
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
 : Bà Đỗ Thị Nhung
: Bà Trương Thị Thảo
Bà Phan Thị Thu Hương
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Minh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Trần Thị Thu Sương - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử
phúc thẩm công khai ván thụ số: 455/2025/TLPT-DS ngày 31 tháng 10 năm
2025 về việc: “
Do Bản án dân sthẩm số: 25/2025/DS-ST ngày 04-9-2025 của Tòa án
nhân dân Tòa án nhân dân Khu vực 8- Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 490/2025/QĐ-PT ngày
10 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
1. :
1.1. Ông Lê Tấn T, sinh năm 1973;
1.2. Ông Mai Văn K, sinh năm 1966; Trần Thị Thanh T1, sinh năm
1967;
1.3. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1988;
1.4. Ông Trần Quốc H, sinh năm 1989; Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm
1981;
1.5. Ông Mai Xuân T3, sinh năm 1983; bà Trần Thị H1, sinh năm 1985.
Cùng địa chỉ: Tổ D, ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là tổ D, ấp D,
xã T, tỉnh Đồng Nai).
      Anh Hoàng Văn T4, sinh năm
1994.
Địa chỉ: Ấp S, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (nay ấp S, P, tỉnh Đồng
Nai). Có mặt
Ông Đặng Văn S, sinh năm 1956.
2
Địa chỉ: Tổ D, ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là tổ D, ấp D, xã T,
tỉnh Đồng Nai).

2.1.Ông Đặng Đình S1, sinh năm 1984;
2.2.Ông Đặng Đình T5, sinh năm 1986;
Địa chỉ:Tổ D, ấp D, xã T, tỉnh Đồng Nai.
:
3.1. Bà Lê Thị Hồng X, sinh năm 1958.
Địa chỉ: Tổ D, ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là tổ D, ấp D, xã T,
tỉnh Đồng Nai).
3.2 Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai.
3.3 Phòng Nông nghiệp và Môi trường huyện T, tỉnh Đồng Nai.
3.4 Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
: Ủy ban nhân dân T, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: T, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hùng H2 Chủ tịch.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Chí P Phó Trưởng phòng phụ trách
Phòng Kinh tế.
: Anh Hoàng Văn T4 người đại diện theo ủy quyền của
tất cả các nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:


Ông Tấn T chủ sử dụng thửa đất số 116, tờ bản đồ số 27, P đã
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 726936 ngày 24/9/2007
diện tích 15166m
2
; m 2021 ông T chuyển nhượng cho ông Trần Quốc H nên
thửa đất số 116 được tách ra thành 02 thửa là thửa 268 thuộc quyền sdụng của
ông Trần Quốc H, Nguyễn Thị Ngọc L được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số DC 800350 ngày 31/12/2021; thửa đất số 269, tbản đồ s27, P
đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 800243 ngày 31/12/2021
cho ông Lê Tấn T.
Ông Mai Văn K Trần Thị Thanh T1 chủ sử dụng thửa đất số 110,
tờ bản đồ số 27, P đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sCM
252846 ngày 22/3/2018. Trên thửa đất hiện nay trồng 250 cây điều, 30 nọc
tiêu, 70 bụi chuối.
Nguyễn Thị T2 là chủ sử dụng thửa đất số 108, tờ bản đồ số 27, P đã
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 159927 ngày 21/9/2016.
Trên thửa đất hiện nay trồng 200 cây điều đang thu hoạch, 100 cây phê, 40
nọc tiêu đang thu hoạch.
Ông Mai Xuân T3 Trần Thị H1 chủ sử dụng thửa đất số 217, tờ
bản đồ số 36, P đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD
3
777488 ngày 14/01/2022. Trên đất hiện nay đang trồng 30 cây bưởi da xanh 10
năm tuổi đang cho thu hoạch.
Từ những năm 1979 thì từ đường đi công cộng vào đất rẫy của những hộ
dân trên 01 con đường be rộng 3m để những chủ sử dụng đất trên đi vào các
thửa đất của họ để vào khai thác mía chở về cho Nhà máy đường L tiêu thụ.
Đến năm 1982, ông Đặng Văn S vào khu vực này mua đất canh tác gồm
các thửa 339, 365, 413, tờ bản đồ số 5 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất ngày 23/11/1993 nay là các thửa 121, tờ 27 thửa 2, tờ 36 đcanh tác
thì con đường này vẫn tồn tại đngười dân đi lại canh tác, vận chuyển nông sản
bình thường.
Tuy nhiên đến ngày 30/11/2021, khi các đồng nguyên đơn cùng nhau góp
tiền để sửa lại con đường đi cho thuận tiện thì ông S chặn con đường không cho
nguyên đơn đi qua để vào các thửa đất phía trong.
Sau đó các nguyên đơn khiếu nại ra Ban quản ấp và Ủy ban nhân dân xã
P nhưng đều hòa giải không thành ông S cho rằng con đường này nằm trong
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông S nên không cho nguyên đơn đi nữa.
Sau đó ông Lê Tấn T đã khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Tân Phú. Quá
trình giải quyết thì xác định con đường đi này đã thể hiện trên các bản đồ địa
chính năm 1997, năm 2000 đều thể hiện con đường đi chung do Nhà nước
quản lý. Hiện nay theo Trích lục đo bản đồ chỉnh thửa đất bản đồ địa chính
số 1442/2022 ngày 30/12/2022 và số 292/2024 ngày 08/5/2024 do Văn phòng
đăng đất đai tỉnh Đ chi nhánh T6 vẽ thì phần con đường ông S cho rằng
của ông S diện tích 114,7m
2
, mục đích sử dụng: Đất giao thông, cụ thể chiều
rộng phía trước 3,39m, phía sau 3,64m, chiều dài 1 bên 32,56m, 1 bên
32,93m.
vậy nay ông Tấn T, ông Mai Văn K, Trần Thị Thanh T1,
Nguyễn Thị T2, ông Trần Quốc H, Nguyễn Thị Ngọc L, ông Mai Xuân T3,
Trần Thị H1 yêu cầu ông Đặng Văn S và bà Lê Thị Hồng X:
- Di dời đá, cây mít, cây chuối tháo dỡ hàng rào lưới B40 (chiều dài
khoảng 3m, cao khoảng 1,5m) ra khỏi lối đi chung.
- Trả lại lối đi chung diện tích 114,7m
2
, cụ thể chiều rộng giáp thửa 213
3,39m, chiều rộng giáp đường đất 3,64m; chiều dài giáp thửa 121 tờ 27
32,56m, chiều dài giáp thửa 02 tờ 36 là 32,93m.
- Buộc chấm dứt hành vi ngăn cản sử dụng lối đi chung.
Trường hợp Tòa án xác định phần đất nguyên đơn yêu cầu mở lối đi không
phải đường đi công cộng thì các nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết
lối đi qua bất động sản liền kề.


Ông Sáu chuyển đến ấp D, P, huyện T, tỉnh Đồng Nai sinh sống vào
năm 1982. Trong thời gian sinh sống tại đây, gia đình ông S tiến hành khai phá và
4
đến năm 1993 đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với
các thửa đất số 339, 365, 413 cùng tờ bản đồ số 05 (nay là thửa 121, tờ bản đồ số
27) bản đồ địa chính P. Đất do một mình ông S đứng tên chủ sử dụng. Trên
phần đất của gia đình ông S không có con đường đi vào các phần đất phía trong.
Từ khi khai phá đến khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cả sau
này, gia đình ông sử dụng ổn định, không ai tranh chấp.
Đến năm 2004, gia đình ông S làm thủ tục vay vốn ngân hàng và khi lập hồ
vay vốn thì bản vẽ (có xác nhận của chính quyền đa phương) cũng không
thể hiện có con đường đi nào cả.
Khi gia đình ông S canh tác thì có thường xuyên đi qua lối mòn trên đất của
ông tại thửa 339 dùng để chở phân bón, thuốc trừ sâu, trái cây... Và khi đó ông
Tấn T chủ sử dụng đất phần đất phía trong đi qua đất của ông để vào phần
đất rẫy phía sau. Chứ thực tế đó không có là con đường đi chung.
Đến cách đây khoảng 02 03 năm, gia đình ông S không cho ông T đi
ngang qua phần đất của gia đình mình nên ông T làm đơn yêu cầu Ủy ban nhân
dân P giải quyết tranh chấp mở lối đi qua bất động sản liền kề qua thửa đất số
339 của gia đình ông (nay là thửa 121, tờ bản đồ số 27).
Khi chính quyền địa phương giải quyết khiếu nại thì cán bộ xã xác định gia
đình ông được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp không
đường đi, lối mcả. Bên ông T cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ
nhưng vẫn không chấp nhận và khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Tân Phú.
Sau đó, Tòa án tiến hành thụ vụ án tiến hành đo đạc đất tranh chấp.
Tòa án đã thu thập hồ sơ của ông S và sau đó không biết lý do vì sao ông T lại rút
đơn khởi kiện.
Nay ông S không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, ông
Tấn T, ông Mai Văn K, Trần Thị Thanh T1, chị Nguyễn Thị T2, anh Trần
Quốc H, chị Nguyễn Thị Ngọc L, anh Mai Xuân T3, chị Trần Thị H1.Vì trên
phần đất tại các 339, 365, 413 cùng tờ bản đồ số 05 (nay là thửa 121, tờ bản đồ số
27) xã P do ông đứng tên chủ sử dụng không có lối đi chung nào cả. Do đây là đất
hợp pháp của ông S nên ông không phải di dời tài sản theo yêu cầu của nguyên
đơn.
Việc nguyên đơn căn cứ vào bản đồ địa chính tại thời điểm hiện tại xác
định con đường đi không căn cứ. bản đồ địa chính nêu trên vẽ không
đúng thực tế, trong khi đất của ông S đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất hợp pháp và chưa bị thu hồi để làm đường gì cả. Việc cơ quan
Nhà nước tách đất của gia đình ông S từ 03 thửa thành 04 thửa theo bản đồ địa
chính mới là không đúng quy định của pháp luật.

 trình bày:
vợ của ông Đặng Văn S, hai vợ chồng kết hôn với nhau vào năm
1977, hiện trong thời kỳ hôn nhân. Bà thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của
5
ông S.
 
UBND xã T trình bày:
Ngày 22/11/1993, y ban nhân dân huyện T (cũ) đã cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đối với thửa đất tại thửa 339 tờ bản đồ số 05 bản đồ địa chính xã P
lập năm 1990 (nay thửa 121, tờ bản đồ số 27) cho ông Đặng Văn S. Hiện nay,
ông S chưa thực hiện việc cấp, đổi lại Giấy chứng nhận quyền sdụng đất theo
bản đồ địa chính lập năm 2000 bản đồ đo đạc chỉnh năm 2015 đối với thửa
đất nêu trên.
Đến năm 2000, nghiệp Trắc địa bản đồ 102-Công ty đo đạc ảnh địa
chỉnh đo vẽ lập bản đồ địa chính mới Ủy ban nhân dân P xác nhận hiện
trạng.
Tại Công văn số 2211/UBND-NN ngày 27/6/2024 của Ủy ban nhân dân
huyện T (cũ) xác định: Về việc xác nhận phần diện tích tranh chấp theo yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn đất công cộng hay đất được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho ông Đặng Văn S tại thửa 339 tờ bản đồ số 05 bản đồ địa
chính P lập năm 1990 thì trong trường hợp đường ranh giới thực tế của thửa
đất trên bản đồ địa chính mới đã biến động so với ranh giới thể hiện trên Giấy
chứng nhận đã cấp thì thông tin pháp về đường ranh giới diện tích sử dụng
đất được xác định theo Giấy chứng nhận đã cấp.
Hiện nay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho ông Đặng Văn
S đã hết thời hạn nhưng ông S không thực hiện việc cấp đổi giấy chứng nhận
quyền sdụng đất mới nên quan Nhà nước chưa thực hiện được việc cấp đổi
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông S điều chỉnh giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của ông S so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp
năm 1993.
Tại phiên tòa đại diện UBND T đề nghị Tòa án công nhận phần đất các
nguyên đơn đang khởi kiện đối với bị đơn ông Đặng Văn S đó đường đi công
cộng đã được Ủy ban nhân dân P xác nhận hiện trạng từ năm 2000 cho đến
nay, để các nguyên đơn có lối đi vào.
Tại Bản án số: 25/2025/DS-ST ngày 04-9-2025 của Tòa án nhân dân Tòa
án nhân dân Khu vc 8 - Đồng Nai đã căn cứ Điều 169, Điều 248 Bộ luật Dân sự
năm 2015; Điều 170 Luật Đất đai năm 2013; Điều 29, Điều 31, Điều 236 Luật
Đất đai năm 2024; Điều 7 Thông số 10/2024/TT-BTNMT ngày 31/7/2024 của
Bộ T7;Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí lệ phí Tòa án.
1. Tuyên xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Tấn
T, ông Mai Văn K, Trần Thị Thanh T1, Nguyễn Thị T2, ông Trần Quốc H,
Nguyễn Thị Ngọc L, ông Mai Xuân T3, bà Trần Thị H1 đối với ông Đặng Văn
S về việc:
6
Trả lại lối đi chung diện tích 114,7m
2
được giới hạn bởi các mốc
1,2,3,4,1, mục đích sử dụng: Đất giao thông (thuộc một phần đường giao thông
theo bản đồ địa chính lập năm 2000, thuộc một phần thửa 339 tờ bản đồ số 05 bản
đồ địa chính lập năm 1990) theo Trích lục đo chỉnh thửa đất bản đồ địa
chính số 292/2024 của Văn phòng Đăng ký Đất đai tỉnh Đ chi nhánh T8.
Di dời đá, cây mít, cây chuối tháo dỡ hàng rào lưới B40 (chiều dài
khoảng 3m, cao khoảng 1,5m) ra khỏi lối đi tranh chấp.
Buộc chấm dứt hành vi ngăn cản sử dụng lối đi chung.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí quyền kháng cáo
theo quy định.
Sau khi xét xử thẩm ngày 10/9/2025, người đại diện theo y quyền của
các nguyên đơn anh Hoàng Văn T4 kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm
sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.


Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy
định của pháp luật từ khi thụ đến khi xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
đúng thành phần, đảm bảo vô tư khách quan, trình tự phiên tòa được Hội đồng xét
xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Thư thực hiện đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Các
đương sự đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp
luật.
Về đề xuất đường lối giải quyết vụ án: Tòa án cấp thẩm xét xử đúng
quy định, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các nguyên
đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được
xem xét tại phiên tòa kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của anh Hoàng Văn T4 người đại
diện theo ủy quyền của các nguyên đơn ông Tấn T, ông Mai Văn K, Trần
Thị Thanh T1, Nguyễn Thị T2, ông Trần Quốc H, bà Nguyễn Thị Ngọc L, ông
Mai Xuân T3, bà Trần Thị H1 làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo
thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn:
Về nguồn gốc quyền sử dụng đất thửa đất s339, tờ bản đồ số 05, P,
huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay thửa 121, tờ bản đồ số 27, T, tỉnh Đồng Nai)
thuộc quyền sdụng của ông Đặng n S. Ngày 23/11/ 1993 ông S đã được
UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đt đối với các thửa đất số
7
339, 365, 413 cùng tờ bản đồ số 05 bản đồ địa chính xã P. Người đại din theo y
quyn ca UBND T xác định: V trình t, th tc pháp cp Giy chng
nhn quyn s dụng đất, đối vi quyn s dụng đất thuc các thửa 339, 365, 413,
tờ bản đồ số 5, địa chính P cấp cho ông Đặng Văn S đúng theo quy định
pháp luật về đất đai.
Nguyên đơn kháng cáo cho rằng phần đất tranh chấp có diện tích là
114,7m
2
được giới hạn bởi các mốc 1,2,3,4,1 theo trích lục đo vẽ hiện trạng thửa
đất số 292/2024 ngày 08/6/2024 của Văn phòng Đăng Đất đai tỉnh Đ - Chi
nhánh T8 là lối đi chung công cộng.
Nhận thấy: Theo bản đồ địa chính lập m 1990 thì phần đất các đồng
nguyên đơn yêu cầu mở lối đi chung đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho ông Đặng n S thuộc thửa 339, tờ bản đồ số 5 (nay thửa 121, tờ bản
đồ số 27), trên bản đồ địa chính không thể hiện con đường đi. Theo Trích lục
và đo chỉnh lý thửa đất bản đồ địa chính số 292/2024 của Văn phòng Đăng ký Đất
đai tỉnh Đ - Chi nhánh T8 thể hiện phần đất tranh chấp có diện tích 114,7m
2
thuộc
thửa đất 121, tờ bản đồ số 27 được giới hạn bởi các mốc 1,2,3,4,1, mục đích sử
dụng: Đất giao thông (thuộc một phần đường giao thông theo bản đồ địa chính
lập năm 2000, thuộc một phần thửa 339 tờ bản đồ số 05 lập năm 1990).
Tại Công văn số 2211/UBND-NN ngày 27/6/2024 của Ủy ban nhân dân
huyện T (cũ) xác định:39

UBND P 

Tại Công văn số 2211/UBND-NN ngày 27/6/2024 của Ủy ban nhân dân
huyện T (cũ) đã khẳng định: “.. 



Theo khoản 4 Điều 7 của Thông số 10/2024/TT-BTNMT ngày
31/7/2024 của Bộ T7 thể hiện:






Xét thấy, bản đồ địa chính năm 2000 được UBND P xác nhận theo hiện
trạng cho rằng đó lối đi công cộng, tuy nhiên thì phần đất tranh chấp lối đi đã
được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đặng Văn
S từ năm 1993. Tại Tòa án cấp thẩm, các đồng nguyên đơn vẫn khẳng định
trường hợp Tòa án xác đnh phn diện tích đt tranh chp không phải đường đi
công cộng thì các nguyên đơn cũng không yêu cầu gii quyết v m lối đi qua bất
8
động sn lin k. Do vy, việc nguyên đơn kháng cáo đề ngh Tòa án cp phúc
thm chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn không có căn cứ.
[3] Ti Tòa án cp phúc thm, b đơn đồng ý cho nguyên đơn đi một lối đi
khác, din tích nh hơn nhưng nguyên đơn không đồng ý. Thy rng, nếu các
nguyên đơn không còn lối đi nào khác s khi kin m lối đi qua bất động sn
lin k thành v án khác.
[4] Về chi phí tố tụng: Tòa án cấp thẩm xác định đúng theo quy định
Điều 157, 158, 165, 166 Bộ luật Tố tụng Dân sự,
[5] Về án phí: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng.
[6] T nhận định trên, không chp nhn kháng cáo của nguyên đơn, giữ
nguyên bản án sơ thẩm ca Tòa án nhân dân Khu vc 8 Đồng Nai.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của nguyên đơn ông Tấn T,
ông Mai Văn K, Trần Thị Thanh T1, Nguyễn Thị T2, ông Trần Quốc H,
Nguyễn Thị Ngọc L, ông Mai Xuân T3, bà Trần Thị H1 không chấp nhận nên
mỗi nguyên đơn phải chịu số tiền 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án
phí đã nộp.
[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phù hợp với
nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn ông Tấn T, ông Mai
Văn K, Trần Thị Thanh T1, Nguyễn Thị T2, ông Trần Quốc H, Nguyễn
Thị Ngọc L, ông Mai Xuân T3, bà Trần Thị H1.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2025/DS-ST ngày 04-9-2025 của
Tòa án nhân dân Khu vc 8 Đng Nai.
Căn cứ Điều 170, 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 236 Luật Đất đai năm
2024; Điều 7 Thông tư số 10/2024/TT-BTNMT ngày 31/7/2024 của Bộ T7; Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vQuốc hội,
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Tấn T, ông Mai
Văn K, Trần Thị Thanh T1, Nguyễn Thị T2, ông Trần Quốc H, Nguyễn
Thị Ngọc L, ông Mai Xuân T3, Trần Thị H1 đối với ông Đặng Văn S về các
yêu cầu sau:
Trả lại lối đi chung diện tích 114,7m
2
được giới hạn bởi các mốc
1,2,3,4,1, thuộc một phần thửa 339 tờ bản đồ số 05, P, huyện T (nay thửa
121, tờ bản đồ số 27, T, tỉnh Đồng Nai) theo Trích lục đo chỉnh thửa đất
9
bản đồ địa chính số 292/2024 của Văn phòng Đăng ký Đất đai tỉnh Đ Chi nhánh
T8.
Di dời đá, cây mít, cây chuối tháo dỡ hàng rào lưới B40 (chiều dài
khoảng 3m, cao khoảng 1,5m) ra khỏi lối đi tranh chấp.
Buộc chấm dứt hành vi ngăn cản sử dụng lối đi chung.
2. Về chi phí tố tụng: Ông Tấn T, ông Mai Văn K, Trần Thị Thanh
T1, Nguyễn Thị T2, ông Trần Quốc H, bà Nguyễn Thị Ngọc L, ông Mai Xuân
T3, Trần Thị H1 phải chịu toàn bchi phí tố tụng 18.722.000đ (Mười tám
triệu bảy trăm hai mươi hai nghìn đồng) các đương sự đã nộp xong.
3. Về án phí dân sthẩm: Ông Tấn T, ông Mai Văn K, Trần Thị
Thanh T1, Nguyễn Thị T2, ông Trần Quốc H, Nguyễn Thị Ngọc L, ông
Mai Xuân T3, Trần Thị H1 phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) được trừ
vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng), còn lại
400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) hoàn trả lại cho ông Tấn T, ông Mai Văn K,
Trần Th Thanh T1, Nguyễn Thị T2, ông Trần Quốc H, bà Nguyễn Thị
Ngọc L, ông Mai Xuân T3, Trần Thị H1 đã nộp tại biên lai thu số 0001370
ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú, tỉnh
Đồng Nai (nay là Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 8 – Đồng Nai.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Tấn T, ông Mai Văn K, Trần
Thị Thanh T1, Nguyễn Thị T2, ông Trần Quốc H, bà Nguyễn Thị Ngọc L, ông
Mai Xuân T3, Trần Thị H1 mỗi người phải chịu án phí dân sự phúc thẩm số
tiền là 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số
0001543 ngày 22 tháng 9 năm 2025; biên lai thu số 0007118; 0007119; 0007120;
0007121; 0007122; 0007123; 0007124 cùng ngày 07 tháng 11 năm 2025 của
Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 8 – Đồng Nai.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Nai;
- TAND Khu vực 8;
- Phòng THADS Khu vực 8;
- Các đương sự;
- Lưu: VT; hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Nhung
10
11
12
13
14
15
16
17
18
Tải về
Bản án số 622/2025/DS-PT Bản án số 622/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 622/2025/DS-PT Bản án số 622/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất