Bản án số 62/2025/DS-ST ngày 22/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp đất đai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 62/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 62/2025/DS-ST ngày 22/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp đất đai
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 62/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Mở lối đi qua bất động sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KV 2 -
Bản án số: 62/2025/DS - ST
Ngày: 22-9-2025
V/v:“tranh chấp yêu cầu mở lối đi qua
bất động sản liền kề”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KV 2 -
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thm phán - Ch tọa phiên tòa: bà Lê Thị Thanh Vũ
c Hội thm nhân n: 1. Ông Khắc Chương
2. Bà Đinh Thị Phúc
- T ký phiên a: ông Nguyễn Văn Tấn - Thư của Tòa án nhân dân
KV 2 - .
- Đại din viện kiểm t nn n KV 2 - tham gia phiên a: ông
Phạm Văn Bảng - Kimt viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2025, Tại tr sở a án nhân dân KV 2 - , xét
x sơ thm công khai theo thủ tục thông thường vụ án dân sự thụ L
135/2024/TB-TLVA ngày 26 tháng 3 năm 2024 về vic “tranh chấp u cầu
mở lối đi qua bất động sản liền kề theo Quyết định đưa ván ra xét xsố
135/2024/XXST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2025 và thông báo dời ny xét
xử phiên a dân sự thm số 07/2025/TB-TA ngày 22/8/2025, gia c
đương sự:
1. Nguyên đơn: ông DAL, sinh năm 1929; địa chỉ: khu B, thôn NH,
HT, tỉnh ;
Ông DAL uỷ quyền cho PKA, sinh năm 1998; địa chỉ: 375 QL 20,
ĐT, tỉnh tham gia tố tụng (theo văn bản uỷ quyền ngày 06/8/2025).
2. Bị đơn: ông MVC, sinh năm 1961; địa chỉ: khu B, thôn NH, HT,
tỉnh ;
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông TTS
3.2. Bà LHK, sinh năm 1946
3.3. Ông DVK, sinh năm 1980
Cùng địa chỉ: khu B, thôn NH, HT, tỉnh ;
3.4. Bà NTL, sinh năm 1969;
3.5. Bà MTBV, sinh năm 1996;
3.6. Ông MĐK, sinh năm 1993;
2
Cùng địa chỉ: khu B, thôn NH, xã HT, tỉnh ;
3.7. Uỷ ban nhân dân HT, tỉnh .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 29/6/2022 đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện
ngày 28/7/2022, 18/3/2025 cũng như tại phiên tòa đại diện theo uỷ quyền của
nguyên đơn vắng mặt trình bày:
Gia đình ông DAL chủ sdụng diện tích 9475m
2
, thuộc các thửa đất số
167, 549, 550, 561, 607, 618, cùng tờ bản đsố 15, đất tọa lạc tại thôn NH,
LH, huyện ĐT, tỉnh . Các thửa đất đã được UBND huyện ĐT cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số L 467030 ngày 14/11/1998 đứng tên người sử dụng
hộ ông DAL. Nguồn gốc thửa đất trên là do gia đình ông L nhận chuyển nhượng
từ trước năm 1975 đã quản L, sdụng, canh tác trên đất từ đó tới nay. Trên
đất gia đình ông L trồng cây hoa màu một căn chòi xây diện ch khoảng
17m
2
. Do không có đường để đi ra đường Quốc lộ, nên ngày 05/9/2000 ông L có
thỏa thuận với những hộ gia đình LNN, ông LXC, TNAvà TTD
những hgia đình sử dụng đất phía ngoài giáp với đường chính cho ông L mở
một con đường chiều rộng 2,4m, chiều dài khoảng 100m qua đất của những hộ
gia đình trên để đi vào đất của ông L. Các bên lập một giấy thỏa thuận làm
đường ngày 05/9/2000 chữ của N, ông C, A, D ông L, xác
nhận của phó thôn ông DMT. Sau đó ngày 07/9/2000, ông L tiếp tục thỏa thuận
với BMCvà con trai C ông MVC chủ sdụng thửa đất liền kề (thửa
đất s169/7645,3m
2
, tờ bản đồ số 48 (2016)) với đất của gia đình ông L để mở
rộng con đường trên qua đất của C, ông C tới đất của gia đình ông L. C,
ông C đồng ý cho gia đình ông L mở con đường chiều rộng 2,5m, chiều dài 68m
qua đất của C, ông C. C, ông C lập một giấy cam kết ngày 07/9/2000
chữ của C, ông C xác nhận của phó thôn ông DMT. Từ đó đến nay
gia đình ông L đã sử dụng con đường trên với chiều rộng khoảng 2,4 đến 2,5m,
chiều dài khoảng 168m trên để đi lại, vận chuyển nông sản từ đường chính vào
các thửa đất của gia đình ông L. Ngoài con đường trên gia đình ông L không còn
con đường nào khác để đi từ đường chính vào đất của gia đình ông L. Hiện tại
03 gia đình đang sử dụng con đường trên là: gia đình ông VMS, gia đình ông
TTS gia đình ông L. Tuy nhiên, ngày 11/4/2022, ông C dùng rào sắt rào lại
phần con đường rộng 2,5m, dài 68m trước đây ông C đã cam kết cho gia
đình ông L sử dụng. Việc ông C rào con đường lại đã gây ảnh hưởng đến việc đi
lại của gia đình ông L cũng như những hộ dân khác. Do đó ông L đã nhiều lần
yêu cầu ông C phải dỡ bỏ rào sắt và trả lại nguyên trạng con đường nhưng ông C
không thiện chí hợp tác còn thái độ thách thức ông L. Ngày 20/4/2022,
ông L đã làm đơn đnghị UBND LH hòa giải tranh chấp giữa ông L ông
C. Ngày 02/6/2022 UBND xã LH tổ chức hòa giải tranh chấp giữa ông L và ông
C nhưng các bên không thỏa thuận được với nhau nên UBND LH kết luận
hòa giải không thành hướng dẫn các bên khởi kiện đến Tòa án nhân dân
huyện ĐT.
3
vậy, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mình, ông DAL khởi kiện
đề nghị Tòa án công nhận con đường đi diện tích tổng cộng 171m
2
(theo họa
đồ đo đạc ngày 30/10/2022 họa đồ chú thích ngày 28/7/2023; trong đó
56,8m
2
thuộc đất của ông MVC thửa đất số 169/7645,3m
2
, tờ bản đồ số 48
(2016), tương tứng một phần thửa 380 tờ bản đồ 15 9299) LH, huyện ĐT,
tỉnh 114,2m
2
thuộc đường đi trên bản đồ 299 xã LH lối đi chung của
gia đình ông L, các hộ ông VMS, hộ ông TTS buộc ông MVC chấm dứt
hành vi lấn chiếm con đường trên.
Nguyên đơn, đồng ý với họa đồ đo vcủa Chi nhánh Văn phòng đăng
đất đai huyện ĐT đồng ý với chứng thư thẩm định giá tài sản của Công ty
thẩm định giá ĐNngày 22/8/2023. Yêu cầu Tòa án tuyên hủy một phần giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số L 467976 được UBND huyện ĐT cấp giấy
chứng nhận ngày 14/11/1998 đứng tên ông MVC đối với diện tích 56,8m
2
thuộc
một phần thửa đất số 380, tờ bản đ15, nay thửa 169 tờ bản đồ 48 LH,
ĐT.
Ngày 18/3/2025, nguyên đơn đơn sửa đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu
như sau:
- Công nhận đường đi có diện tích 171m² thuộc một phần thửa đất số 169,
tờ bản đồ số 48 (2016) tại xã LH, huyện ĐT, tỉnh là lối đi chung của gia đình
ông, hộ ông VMS, hộ ông TTS.
Buộc ông MVC chấm dứt hành vi lấn chiếm con đường trên.
- Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L467976 được
UBND huyện ĐT cấp ngày 14/11/1998 đứng tên ông MVC đối với diện tích
56,8m² thuộc một phần thửa đất số 169, tờ bản đồ số 48 (2016) tạiLH, huyện
ĐT, tỉnh .
Vừa qua, nguyên đơn nhận được văn bản s01/TNMT về việc phúc đáp
văn bản số 05/CV-TA của Tòa án nhân dân huyện ĐT ngày 02/01/2025 của
Phòng Tài nguyên Môi trường huyện ĐT. Nội dung văn bản xác định theo
bản đồ 299 lưu trữ tại Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thể hiện không
con đường đi qua thửa đất số 380, tờ bản đồ số 15 theo hồ lưu tại thời
điểm cấp Giấy chứng nhận năm 1998 không biên bản xác minh hiện trạng sử
dụng đất đối với thửa đất số 380, tờ bản đồ số 15 nên Phòng Tài nguyên Môi
trường không có cơ sở xác định có con đường đi qua thửa đất hay không.
Bên cạnh đó sau khi nguyên đơn nộp đơn khởi kiện, hộ ông VMS hộ
ông TTS đã chuyển sang sử dụng con đường khác để đi vào đất của hộ ông
VMS, hộ ông TTS. Nay hộ ông VMS, hộ ông TTS không nhu cầu sử dụng
con đường nguyên đơn đang yêu cầu công nhận.
Hiện ông MVC vẫn đang sử dụng cánh cửa sắt rào lại con đường vị trí
giáp với đất thuộc quyền sử dụng của ông. Ông C vẫn ngăn cản không cho gia
đình nguyên đơn sử dụng con đường trên để đi vào đất.
Do đó nay nguyên đơn làm đơn này sửa đổi yêu cầu khởi kiện. Ông đề
nghị Tòa: Mở đường đi qua thửa đất số 169, tờ bản đồ số 48 (2016) tại LH,
4
huyện ĐT, tỉnh (trước đây thửa đất số 380, tờ bản đồ số 15 (299) với diện
tích 171m² theo Họa đđo đạc theo yêu cầu a án nhân dân huyện ĐT ngày
30/10/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện ĐT. Buộc ông
MVC phải tháo dỡ cánh cửa sắt rào lại con đường diện tích 171m² trên chấm
dứt hành vi ngăn cản ông sử dụng con đường này.
* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên t, bị đơn trình bày:
Ngày 14/11/1998, gia đình ông được cấp giấy chứng nhận quyền sdụng
đất, trong đó 400m
2
đất thổ 2.640m
2
đất cây lâu năm; còn lại đất
trồng lúa, không có đường đi.
Đến ngày 05/9/2000, gia đình ông có đào ao thả cá, thấy vậy gia đình ông
DAL xin đi nhờ con đường nông, gia đình ông đồng ý viết giấy cho
đi nhưng ông chỉ cho đi không thời hạn không mua bán hết. Trước đó gia
đình ông DAL vẫn sử dụng con đường đi khác bên nhà ông TA Tài để đi lại chứ
không phải có đường đi.
Sau thời gian đi nhờ đất nhà ông đã hơn 20 năm, ông thấy nhiều vấn đề
xảy ra rất phức tạp, đã không cảm ơn gia đình ông còn xúc phạm gia đình
ông, cho nên nay gia đình ông không cho gia đình ông DAL đi qua con đường
này nữa.
Gia đình ông cho gia đình ông DAL sử dụng con đường đi nhưng chỉ cho
đi nhờ, còn thỏa thuận của các h còn lại là: ông LNN, TNA, TTD, LXC
không có sự thật và giấy thỏa thuận cho đi là không có xác nhận của ông DMT.
Nay ông L khởi kiện yêu cầu mở lối đi thì ông không đồng ý, không đồng
ý cho nhà ông L đi qua đất và không chuyển nhượng hay thỏa thuận gì với ông L
về con đường đi này nữa, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
Đối với họa đồ đo vẽ của Chi nhánh VPĐK huyện ĐT chứng thư thẩm
định giá tài sản của Công ty thẩm định giá ĐN ngày 22/8/2023 thì do ông không
đồng ý về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông L nên ông không ý kiến
đối họa đồ và chứng thư nêu trên.
Các con của ông tên đúng MTBV MĐK, nhưng khi ông làm giấy
khai sinh tên là Mộng Thị Bích Vân và Mộng Đình Khánh; đến ngày 24/6/2008,
đã được cải chính lại là MTBV và MĐK.
- Uỷ ban nhân dân HT, tỉnh ý kiến: Qua kiểm tra, soát hồ sơ,
Phòng i nguyên Môi trường ý kiến như sau: Theo văn bản số
217/2024/TA ngày 17/01/2024 văn bản số 05/CV- TA ngày 03/6/2024 của
Tòa án nhân dân huyện, trong đó đề nghị UBND huyện cung cấp các tài liệu,
chứng cứ liên quan đến việc xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với
thửa đất số 380, tờ bản đồ số 15, LH đề nghị cho biết trình tự, thủ tục xét
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 380, tờ bản đồ số 15 và
5
khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này thì có con đường đi qua thửa đất
hay không. Nay, phòng Tài nguyên và Môi trường cung cấp hồ sơ như sau:
Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của ông Nông Hải C năm 1998 trong
đó thửa đất 380, tờ bản đsố 15, diện tích 3040m² (400m² TC 2640m²
phê), LH. Nguồn gốc đất cha mẹ khai phá trước năm 1975 cho con (giấy
cho đất nông nghiệp ngày 07/7/1997).
Biên bản xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND LH
ngày 29/5/1998.
Biên bản xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND LH
ngày 04/6/1998.
Biên bản xét duyệt của Hội đồng đăng đất của UBND LH ngày
26/9/1998.
Biên bản kết thúc công khai hồ sơ xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất của UBND xã LH ngày 02/10/1998.
Công văn số 12/CV-UB ngày 21/10/1998 của UBND xã LH vviệc công
bố danh sách đăng ký quyền sử dụng đất.
Quyết định s 686/QĐ-UB ngày 14/11/1998 của UBND huyện ĐT về
việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 120 hộ gia đình, cá nhân có tên
kèm trong danh sách đính kèm, trong đó có hộ ông MVC.
Ngày 14/11/1998, UBND huyện ĐT cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số L 467976 cho hông MVC trong đó thửa đất 380, tờ bản đồ 15, diện
tích 3040m² (400m² TC và 2640m² cà phê), xã LH.
Trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đúng theo quy định.
Đối với nội dung: khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này thì
con đường đi qua thửa đất hay không: Theo bản đồ 299 lưu trữ tại Chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai thể hiện: không có con đường đi qua thửa đất 380, tờ
bản đồ 15, LH. Mặc khác, theo hlưu tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận
năm 1998 không biên bản xác minh hiện trạng sdụng đất đối với thửa đất
380, tờ bản đồ 15, xã LH nên phòng Tài nguyên Môi trường không sở
để xác định con đường đi qua thửa đất hay không. Đề nghị Tòa án nhân dân
căn cứ các hồ sơ có liên quan xem xét xét xử vụ án theo quy định.
*Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:
Ông DVK trình bày: ông đồng ý đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của ông DAL đối với bị đơn ông MVC. Công nhận con đường có diện
tích 171m² lối đi chung thuộc một phần thừa đất số 169, tờ bản đồ số
48(2016); tương ứng một phần diện tích thuộc thửa 380, từ bản đồ số 15 (299)
tại xã LH, huyện ĐT, tỉnh . Tuyên hủy một phần Giấy chứng nhận quyền s
dụng đất số L 467976 được UBND huyện ĐT cấp ngày 14/11/1998 đứng tên
người sdụng ông MVC đối với diện tích 56.8m² thuộc một phần thửa đất số
380, tờ bản đồ số 15, nay thửa số 169, tờ bản đồ số 48 tại LH, huyện ĐT,
tỉnh . Ngoài ra, ông hoàn toàn đồng ý đối với những lời trình bày của ông
DAL đối với vụ án trên không ý kiến thêm. Ông đề nghị Tòa án dựa
trên lời trình bày của ông DAL làm sở giải quyết vụ án. Đề nghị Tòa án xem
6
xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Ngoài ra ông hoàn toàn
đồng ý đối với những lời trình bày của ông DAL đối với vụ án trên và không có
ý kiến thêm. Ông đề nghị Tòa án dựa trên lời trình bày của ông DAL làm
sở giải quyết vụ án.
Ông VMS trình bày:
Hiện ông DAL đang khởi kiện yêu cầu công nhận con đường diện
tích 171m² lối đi chung thuộc một phần thửa đất số 169, tờ bản đồ số
48(2016); tương ứng một phần diện tích thuộc thửa 380, tbản đồ số 15 (299)
tại xã LH, huyện ĐT, tỉnh và tuyên hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số L 467976 được UBND huyện ĐT cấp ngày 14/11/1998 đứng tên
người sử dụng ông MVC đổi với diện tích 56.8m² thuộc một phần thửa đất số
380, tờ bản đồ số 15, nay thửa số 169, tờ bản đồ số 48 tại LH, huyện ĐT,
tỉnh . Tuy nhiên từ khi ông C rào con đường này lại ông đã không còn đi trên
con đường này và đi đường khác để vào đất của ông. Do đó, nay ông không còn
liên quan đến vụ án tranh chấp giữa ông DAL và ông MVC. Ông đề nghị Tòa án
tiếp tục giải quyết vụ án không đưa ông vào vụ này với cách người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
LHK trình bày: đồng ý và đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của ông DAL đối với bị đơn ông MVC. Công nhận con đường diện tích
171m² lối đi chung thuộc một phần thửa đất số 169, tờ bản đồ số 48(2016);
tương ứng một phần diện tích thuộc thửa 380, tờ bản đồ số 15 (299) tại LH,
huyện ĐT, tỉnh . Tuyên hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
L 467976 được UBND huyện ĐT cấp ngày 14/11/1998 đứng tên người sử dụng
ông MVC đối với diện tích 56.8m² thuộc một phần thửa đất số 380, tờ bản đồ số
15. nay thửa số 169, tờ bản đồ số 48 tại LH, huyện ĐT, tỉnh . Ngoài ra,
ông hoàn toàn đồng ý đối với những lời trình bày của ông DAL đối với vụ án
trên không ý kiến thêm. Ông đề nghị Tòa án dựa trên lời trình bày của
ông DAL làm cơ sở giải quyết vụ án. Hiện vụ án “Tranh chấp mở lối đi qua bất
động sản liền kề” giữa nguyên đơn ông DAL bị đơn ông MVC đang
được Tòa án nhân dân huyện ĐT thụ L giải quyết theo thẩm quyền. Tuy nhiên
do thường xuyên bận công việc ông nay cũng đã lớn tuổi, không thể thường
xuyên đến để trực tiếp tham gia các buổi làm việc trong quá trình Tòa án giải
quyết vụ án, vậy, ông làm đơn này đề nghị được vắng mặt trong tất các các
buổi làm việc của Tòa án, các buổi hòa giải xin được vắng mặt trong phiên
xét xử của Tòa án liên quan đến vụ án trên. Ông xin giữ nguyên nội dung trình
bày về vụ án theo đơn trình bày mà ông đã nộp cho Tòa án. Đề nghị Tòa án xem
xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Trên đây toàn bộ trình
bày của ông. Ông xin trình bày để Tòa án sxem xét vụ việc một cách
khách quan và toàn diện.
Tòa án đã tiến hành phiên họp để kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ hòa giải nhưng nguyên đơn những người liên quan vắng
mặt nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa
7
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: đề nghị Tòa án nhân dân
KV 2 - công nhận con đường đi diện tích tổng cộng 171m
2
(theo họa đồ
đo đạc ngày 30/10/2022 và họa đồ chú thích ngày 28/7/2023; trong đó có 56,8m
2
thuộc đất của ông MVC là thửa đất số 169/7645,3m
2
, tờ bản đồ số 48 (2016),
tương ứng một phần thửa 380 tờ bản đồ 15 9299) LH, huyện ĐT, tỉnh
114,2m
2
thuộc đường đi trên bản đồ 299 LH lối đi chung của gia đình ông
L, và các hông VMS, hộ ông TTS buộc ông MVC chấm dứt hành vi lấn
chiếm con đường trên.
Nguyên đơn đồng ý với họa đồ đo vẽ của Chi nhánh văn phòng đăng ký
đất đai huyện ĐT (nay Khu vực ĐT) và đồng ý với chứng thư thẩm định g
tài sản của Công ty thẩm định giá ĐNngày 22/8/2023. Yêu cầu Tòa án tuyên hủy
một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 467976 được UBND huyện
ĐT cấp giấy chứng nhận ngày 14/11/1998 đứng tên ông MVC đối với diện ch
56,8m
2
thuộc một phần thửa đất số 380, tờ bản đồ 15, nay thửa 169 tờ bản đồ
48 xã LH, ĐT.
Yêu cầu:
- Mở đường đi qua thửa đất số 169, tờ bản đồ số 48 (2016) tại LH,
huyện ĐT, tỉnh (trước đây là thửa đất số 380, tờ bản đồ số 15 (299)) với diện
tích 171m² theo Họa đđo đạc theo yêu cầu a án nhân dân huyện ĐT ngày
30/10/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện ĐT.
- Buộc ông MVC phải tháo dỡ cánh cửa sắt rào lại con đường diện tích
171m² trên và chấm dứt hành vi ngăn cản ông sử dụng con đường này.
nguyên đơn bđơn thỏa thuận mở phần lối đi chung ông L xin
được mở lối đi qua đất của ông C thuộc thửa đất số 169, tờ bản đồ số 48 (2016)
tại LH, huyện ĐT, tỉnh (trước đây thửa đất số 380, tờ bản đồ số 15
(299)) với diện tích 171m² theo Họa đồ đo đạc theo yêu cầu Tòa án nhân dân
huyện ĐT ngày 30/10/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện ĐT;
trong đó có diện tích 56,8m
2
thuộc một phần thửa 380, từ bản đồ số 15 (299) tại
LH, huyện ĐT, tỉnh do ông MVC đứng tên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Nguyên đơn và bị đơn thoả thuận: ông DAL bồi hoàn cho bị đơn ông C
250.000.000đồng giá trị quyền sử dụng đất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân KV 2 - tham gia phiên tòa phát biu
ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư Hội đồng
xét xử, cụ thể:
-Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: thẩm phán đã chấp hành đúng các
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ L giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự phiên tòa
thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; đương sự mặt tại phiên tòa đã
chấp hành đúng nội quy phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Áp dụng quy
định tại các Điều 170, 171 Luật Đất đai năm 2013; Điều 245, 246, 254 Bộ luật
8
Dân sự năm 2015; Điều 147, 157 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản L và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Ghi nhận sự thoả thuận giữa nguyên đơn và bị đơn về việc mở lối đi qua
bất động sản liền kề. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông DAL.
Buộc bị đơn ông MVC mở đường đi qua thửa đất số 169, tờ bản đồ số 48 (2016)
tại LH, huyện ĐT, tỉnh (trước đây thửa đất số 380, tờ bản đồ số 15
(299)) với diện tích 171m² theo Họa đồ đo đạc theo yêu cầu Tòa án nhân dân
huyện ĐT ngày 30/10/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện
ĐT.
- Buộc ông MVC phải tháo dỡ cánh cửa sắt rào lại con đường diện tích
171m² trên và chấm dứt hành vi ngăn cản ông sử dụng con đường này.
Ông DAL đồng ý bồi hoàn cho bị đơn 250.000.000đồng giá trị quyền sử
dụng đất.
Về chi ptố tụng: nguyên đơn nhận chịu chi phí t tng xem xét thẩm
định tại chỗ, thẩm định giá tài sản, chi phí đo đạc
Án phí dân sự thẩm: miễn án phí dân sự thẩm cho nguyên đơn ông
DAL do ông L đã trên 60 tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí.
NHN ĐNH CA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án kết quả thẩm
tra tại phiên tòa cũng như ý kiến tranh luận của đương sự, ý kiến Kiểm sát viên,
Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: đây vụ án dân sự
về việc tranh chấp yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề. Bị đơn cũng như
phần đất yêu cầu mở lối đi tọa lạc tại LH, huyện ĐT, tỉnh (nay HT,
tỉnh ) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân KV 2 - theo
quy định tại các Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: những người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên vắng mặt nên cần căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa
án xét xử vụ án vắng mặt người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo thủ tục
chung.
[2] Xét, yêu cầu của nguyên đơn ông DAL yêu cầu: công nhận con đường
diện tích 171m² lối đi chung thuộc một phần thửa đất số 169, tờ bản đồ số
48(2016); tương ứng diện tích 56,8m
2
thuộc một phần thửa 380, tờ bản đồ số 15
(299) tại LH, huyện ĐT, tỉnh do ông MVC đứng tên giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất để lối đi vào diện tích 9.475m
2
, thuộc các thửa đất số 167,
549, 550, 561, 607, 618, cùng tờ bản đồ số 15, đất tọa lạc tại thôn NH, LH,
huyện ĐT, tỉnh . Các thửa đất đã được Uỷ ban nhân dân huyện ĐT cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất sL467030 ngày 14/11/1998 đứng tên người s
dụng hộ ông DAL là có cơ sở chấp nhận, bởi các lẽ sau:
[2.1] Theo quy định tại Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định chủ
sở hữu bất động sản bị vây bọc bởi các động sản khác không hoặc
9
không đủ lối đi ra đường công cộng, quyền yêu cầu chủ shữu bất động sản
vây bọc dành cho mình một lối đi hợp L trên phần đất của họ;
Theo biên bản xem xét, thẩm định chỗ ngày 26/8/2022 thì phần đất của
nguyên đơn có diện tích 9.475m
2
, thuộc các thửa đất số 167, 549, 550, 561, 607,
618, cùng tờ bản đồ số 15, đất tọa lạc tại thôn NH, LH, huyện ĐT, tỉnh
được UBND huyện ĐT cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 467030
ngày 14/11/1998 đứng tên người sử dụng hộ ông DAL bị vây bọc bởi thửa đất
số 380 của ông C đứng tên quyền sử dụng đất, trên lối đi yêu cầu mở không
công trình kiến trúc, lối đi này theo bản đồ 299 thể hiện trên hiện trạng phần
diện ch đường đi chỉ một phần diện tích 56,8m
2
thuộc một phần thửa
380, t bản đồ số 15 (299) tại LH, huyện ĐT, tỉnh do ông MVC đứng tên
giấy chứng nhận quyền sử dụng nên con đường này được coi thuận tiện
hợp L nhất. Theo ông MVC cho rằng trước đây ttrước năm 1975 đến năm
2000 thì ông DAL đi vào đất bằng con đường ruộng khác. Tuy nhiên theo biên
bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 15/9/2025 thì con đường ruộng do ông
MVC trình bày bờ ruộng trên phần đất của Chương Sám Múi đường
tông không tiếp giáp trực tiếp với đất của ông DAL phải qua đất của
Chương Sám Múi. Do đó lời trình bày này của ông C không sở chấp
nhận.
Tuy nhiên, tại phiên toà, nguyên đơn bị đơn thỏa thuận phần lối đi
chung ông L xin được mở lối đi qua đất của ông C thuộc thửa đất số 169, t
bản đồ số 48 (2016) tại xã LH, huyện ĐT, tỉnh (trước đây là thửa đất số 380,
tờ bản đồ số 15 (299) với diện tích 171m² theo Họa đồ đo đạc theo yêu cầu Tòa
án nhân dân huyện ĐT ngày 30/10/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất
đai huyện ĐT; trong đó diện tích 56,8m
2
thuộc một phần thửa 380, t bản đồ
số 15 (299) tại LH, huyện ĐT, tỉnh do ông MVC đứng tên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất là phù hợp quy định của pháp luật.
[2.2] Về việc xác định giá trị bồi thường giá trị quyền sử dụng đất để mở
lối đi: xét, ông DAL phải đền thiệt hại đối với phần đất 56,8m
2
ông C
phải dành lối đi cho ông L là đúng theo quy định tại Điều 254 Bộ luật Dân sự.
Tại phiên toà, các bên đương sự thỏa thuận thống nhất được mức đền
ông DAL đồng ý bồi thường cho bị đơn 250.000.000đồng giá trị quyền s
dụng đất nên Tòa án ghi nhận sự thoả thuận giữa nguyên đơn bị đơn, buộc
ông DAL phải đền bù cho ông MVC đối với giá trị quyền sử dụng đất phần diện
tích 56,8m
2
250.000.000đồng phù hợp, nên Hội đồng xét xử công nhận sự
tự nguyện này của các đương sự.
[2.3]Từ những phân tích nêu trên, xét nguyên đơn bị đơn thỏa thuận
phần lối đi chung mà ông L xin được mở lối đi qua đất của ông C thuộc thửa đất
số 169, tờ bản đồ số 48 (2016) tại LH, huyện ĐT, tỉnh (trước đây thửa
đất s380, tbản đồ số 15 (299)) với diện tích 171m² theo Họa đđo đạc theo
yêu cầu Tòa án nhân dân huyện ĐT ngày 30/10/2022 của Chi nhánh Văn phòng
đăng ký đất đai huyện ĐT; trong đó diện tích 56,8m
2
thuộc một phần thửa
380, từ bản đồ số 15 (299) tại xã LH, huyện ĐT, tỉnh do ông MVC đứng tên
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông DAL bồi hoàn cho b đơn ông C
250.000.000đồng giá trị quyền sử dụng đất.
10
Đây sự tự nguyện của các đương sự, thỏa thuận này không trái đạo đức
hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật, Hội đồng xét xử công nhận sự
thỏa thuận này.
Buộc hộ ông MVC dành cho hộ ông DAL một lối đi chung chiều ngang
2,5m, chiều dài từ giáp thửa 381 đến giáp thửa 581 theo họa đồ ghi chú bóc tách
phần diện tích đường đi ngày 28/7/2023 có tổng diện tích là 56,8m
2
, phần đất lối
đi tại thửa 380, tờ bản đồ số 15 (299), tọa lạc LH, huyện ĐT, tỉnh (nay
HT, tỉnh ), do ông MVC đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
hiện ông MVC đang canh tác, sử dụng theo giấy chứng nhận quyền sdụng đất
số L467976 do Ủy ban nhân dân huyện ĐT cấp cho hộ ông MVC ngày
14/11/1998. Buộc ông DAL phải bồi hoàn cho ông MVC giá trị phần đất dành
lối đi là 250.000.000đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng).
[3] Đối với kết quả đo đạc do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
huyện ĐT (nay Chi nhánh văn phòng đăng đất đai Khu vực ĐT) cung cấp
ngày 30/10/2022 họa đồ ghi chú bóc tách phần diện tích đường đi ngày
28/7/2023 và chứng thư thẩm định giá số 3100/CT-ĐNI do Công ty Cổ phần
Thẩm định giá ĐN cung cấp ngày 22/8/2023 thì nguyên đơn đồng ý bị đơn
cũng không có yêu cầu gì.
[4] Đối với ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên a căn cứ
nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
[5] Về chi phí tố tụng: do nguyên đơn nhận chịu chi phí tố tụng và nguyên
đơn đã quyết toán xong số tiền 9.939.000đồng (chín triệu chín trăm ba mươi
chín ngàn đồng) nên Hội đồng xét xử không buộc bị đơn phải chịu chi phí tố
tụng.
[6] Về án phí: ông DAL phải chịu án phí đối với yêu cầu mở lối đi qua bất
động sản liền kề không giá ngạch 300.000đồng phải chịu 12.500.000đ
tiền án phí giá ngạch đối với số tiền phải bồi hoàn cho bị đơn ông MVC. Do
ông DAL người trên 60 tuổi đơn xin miễn tiền án phí, theo quy định tại
Điều 12, 13 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L sdụng án plệ phí tòa án,
miễn số tiền án phí dân sự sơ thẩm y cho ông DAL.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
Điều 147; Điều 165; Điều 166; Điều 227; Điều 228; Điều 266; khoản 1 Điều
273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 170, Điều 171, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 245, 248, 254 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 12, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thương vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, nộp, quản L và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên x:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông DAL: Buộc hộ ông MVC dành
11
cho hộ ông DAL một lối đi chung chiều ngang 2,5m, chiều dài từ giáp thửa
381 đến giáp thửa 581 theo họa đồ ghi chú bóc tách phần diện tích đường đi
ngày 28/7/2023 tổng diện tích 56,8m
2
, phần đất lối đi tại thửa 380, tờ bản
đồ s15 (299), tọa lạc LH, huyện ĐT, tỉnh (nay HT, tỉnh ), do
ông MVC đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L467976 do Ủy ban
nhân dân huyện ĐT cấp cho hộ ông MVC ngày 14/11/1998 (có đồ hiện
trạng kèm theo).
Buộc ông DAL phải bồi hoàn cho ông MVC giá trị phần đất dành lối đi là
250.000.000đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng).
Buộc ông MVC phải tháo dỡ cánh cửa sắt rào lại con đường diện tích
171m² trên và chấm dứt hành vi ngăn cản ông DAL sử dụng con đường này.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ông DAL được quyền sử dụng hạn chế quyền sử dụng đất do ông MVC
đứng tên đối với phần lối đi 56,8m
2
ông DAL được sử dụng. Việc xác lập
quyền sử dụng hạn chế đối với thửa đất liền kề thực hiện theo quy định của pháp
luật dân sự phải thực hiện đăng theo quy định tại Điều 95 của Luật Đất
đai.
2. Về án phí dân sự thẩm: Miễn tiền án phí dân sự thẩm cho ông
DAL.
3. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn, quyền kháng cáo trong
thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể tngày tuyên án thẩm (22/9/2025); người
quyền lợi và nga vụ liên quan vắng mặt quyền kháng cáo trong thời hạn 15
(mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được
niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh xét xử
phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân s thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền `thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a,
Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh ;
- VKS nhân dân KV 2 - ;
- Thi hành án dân sự tỉnh ;
- Các đương sự;
- Lưu HS vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
12
Lê Thị Thanh
13
14
15
Tải về
Bản án số 62/2025/DS-ST Bản án số 62/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 62/2025/DS-ST Bản án số 62/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất