Bản án số 606/2025/DSPT ngày 11/09/2025 của TAND tỉnh Tây Ninh về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 606/2025/DSPT

Tên Bản án: Bản án số 606/2025/DSPT ngày 11/09/2025 của TAND tỉnh Tây Ninh về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
Quan hệ pháp luật: Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 606/2025/DSPT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngô Phú K “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản, đòi lại giấy tờ xe” Công ty TNHH MTV S
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 606/2025/DS-PT
Ngày: 11-9-2025
V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại về tài
sản, đòi lại giấy tờ xe
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Các Thẩm phán: bà Huỳnh Thị Hồng Vân
bà Trịnh Thị Phúc
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mỹ Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông
Nguyễn Tấn Phát - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét x
phúc thẩm công khai ván thụ số 289/2025/TLPT-DS ngày 04 tháng 8 năm 2025
về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản, đòi lại giấy tờ xe”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 102/2025/DS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2025 của
Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử s375/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 8 năm
2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Ngô Phú K, sinh năm 1985; CCCD số: 052085000111; địa
ch: S F đường s A, MCLOSA K, phưng L, Thành ph H Chí Minh. Địa ch cũ:
S F đường s A, MCLOSA K, phường P, thành ph T, Thành ph H Chí Minh.
Người đại din theo ủy quyền của ông K: ông Nguyn Trí T, sinh năm 1994;
địa ch: S D L, p C, xã N, Thành ph H Chí Minh. Địa chỉ cũ: S D L, p C,
P, huyn N, Thành ph H Chí Minh. (Văn bản y quyn ngày 10/01/2024).
Người bo v quyn và li ích hp pháp ca ông K: Lương Thị Hoàng Y
Luật sư của Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; địa ch: S D L, p C,
N, Thành ph H Chí Minh. Địa chcũ: S D L, p C, P, huyn N, Thành ph
H Chí Minh.
- B đơn:
1. Công ty TNHH MTV S (có yêu cầu phản tố)
Địa ch tr s: Lô A, đường s D, KCN H, ấp B, xã Đ, tỉnh Tây Ninh. Địa chỉ
cũ: Lô A, đường s D, KCN H, ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại din theo ủy quyền ca Công ty S: ông Văn C, sinh năm 1959;
địa ch: A, đường s D, KCN H (GĐ 3+4), ấp B, Đ, tỉnh Tây Ninh. Địa chỉ cũ:
A, đường s D, KCN H (GĐ 3 +4), ấp B, Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. (Văn
bản ủy quyền ngày 06/3/2024).
2. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1968; địa chỉ: Số G K, phường N, tỉnh Khánh
Hòa. Địa chỉ cũ: Số G K, thị trấn K, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
3. Công ty TNHH H; địa ch: KCN H, ấp B, Đ, tỉnh Tây Ninh. Địa chỉ cũ:
KCN H, ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại din theo ủy quyền ca Công ty H: bà Dương Thùy L, sinh năm
1990; địa ch: ấp B, Đ, tỉnh Tây Ninh. Đa chỉ cũ: ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long
An (Văn bản y quyn ngày 10/02/2025).
- Người quyn lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Công K1, sinh năm 1971;
CCCD số: 056071004196 cấp ngày 05/10/2022; địa chỉ: Thôn T, xã D, tỉnh Khánh
Hòa. Địa chỉ cũ: Thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.
- Người kháng cáo: nguyên đơn, ông NPhú K bị đơn, ông Nguyễn Văn
T1.
(Ông Nguyễn Trí T, Luật Lương Thị Hoàng Y, ông Văn C, ông
Nguyễn Văn T1 có mặt; Dương Thùy L, ông Võ Công K1 vắng mặt.)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 26/01/2024, đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện
ghi ngày 07/01/2025 trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp thẩm, nguyên
đơn ông Ngô Phú K do ông Lê Nguyễn Trí T đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 12/10/2023, ông Ngô Phú K điu khin xe ôtô con mang bin s 51H-
710.42 lưu thông trên đưng N, thành ph T, Thành ph H Chí Minh. Khi đến giao
l N Đồng Văn C1, xe ca ông K b xe ôtô khách mang bin s 62B-018.75 do
ông Nguyễn Văn T1 điu khin gây ra tai nn. Hu qu xe ôtô con mang bin s
51H-710.42 ca ông Ngô Phú K b hỏng nng phần đầu xe phần đuôi xe.
c bên thống nhất tự thỏa thuận lập Bn tha thun ngày 12/10/2023 vi ni
dung: ông T1 phi bồi thường như sau: “T liên h s bo him bt buộc để sa
cha cho xe ôtô con bin s 51H-710.42 phn đuôi xe. Còn phần đầu xe ông Nguyn
Văn T1 đồng ý chi tr 60% tin sa cha phần đầu xe cho ông Ngô Phú K”.
Để đảm bo cho vic bồi thường, ông T1 giao cho ông K gi bn chính các
giy t xe gm: Giy chng nhn kiểm định an toàn k thut và bo v môi trường
phương tiện giao thông giới đường b s DA6020553 ngày 28/6/2023 đi vi
phương tin biển đăng ký: 62B-018.75; Giy chng nhận đăng xe ôtô số: 62
002091 ngày 10/02/2023 đối với phương tiện bin s đăng ký: 62B-018.75, tên chủ
xe: Công ty TNHH MTV S (viết tt Công ty S); Giy phép lái xe s 580996000087
ngày 28/7/2023 ca ông Nguyễn Văn T1.
Ông K đã đưa xe ôbiển s 51H-710.42 đến sa cha ti Công ty C phn Ô,
chi phí sa chữa như sau: tng chi psa cha phần đuôi xe: 114.614.280 đng;
tng chi phí sa cha phần đầu xe: 119.093.940 đồng (có kèm theo Hóa đơn giá tr
gia tăng của ng ty C phn Ô). S tiền tương ứng vi 60% chi phí sa cha phn
đầu xe là: 71.456.364 đồng. Như vậy, tng s tin chi phí sa cha phi bồi thường
186.070.644 đồng.
Ông T1 đang nhân viên ca Công ty TNHH H (viết tắt Công ty H); ch xe
đăng phương tin xe ôtô khách mang bin s 62B-018.75 Công ty S. vậy,
ông K khi kin yêu cu Công ty S, Công ty H và ông T1 phải liên đới bồi thường
thit hi s tiền là 186.070.644 đồng.
Ông K không đồng ý vi toàn b yêu cu phn t ca Công ty S v yêu cu
ông K phi tr li các giy t liên quan đến xe ô bin s 62B-018.75. Tt c các
giy t này đu do ông T1 t nguyn giao cho ông K để đảm bo cho vic bồi thường
thit hi, ông K không gi trái phép các giy t này. Ông K s tr cho Công ty S
ngay sau khi b đơn thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường.
Theo đơn khởi kiện phản tố ghi ngày 16/4/2024 trong quá trình giải quyết
vụ án tại cấp sơ thẩm, Công ty S do ông Văn C đại diện theo ủy quyền trình bày:
Theo Hợp đồng thuê xe ngày 01/6/2023, Công ty S cho Công ty H thuê xe ô tô
bin s 62B-018.75, giá thuê 30.000.000 đồng/tháng, thanh toán 06 (sáu) tháng một
lần. Ngày 12/10/2023, xe ô biển số 62B-018.75 xảy ra va chạm với xe của ông K,
giấy tờ xe do ông K giữ, xe không lưu thông được nên Công ty S không thu được
tiền cho thuê xe.
Công ty S không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông K yêu
cầu phản tố buộc ông K phải trả cho bản chính các giấy tờ liên quan xe ô tô biển số
62B-018.75. Trường hợp ông K không trả thì Công ty được quyn liên h quan
nhà nước có thm quyền để làm th tc cp li các giy t liên quan đến xe ô tô bin
s 62B-018.75 theo quy định pháp lut.
B đơn, Công ty H do bà Dương Thùy L đi din theo y quyền trình bày:
Từ tháng 5/2023 đến tháng 9/2023, ông T1 nhân viên của Công ty H, công
việc lái xe đưa đón nhân viên đến nơi làm việc. Xe ô biển số 62B-018.75 là của
Công ty S cho Công ty H thuê theo Hợp đồng thuê xe ngày 01/6/2023.
Ngày 12/10/2023, ông T1 điều khiển xe biển số 62B-018.75 từ bãi gixe
Công ty thuê để đón nhân viên đi làm. Tngày này, ông T1 không về lại Công ty
để nộp phiếu điều động xe trả xe vào bãi giữ xe, mọi liên lạc với ông T1 đều
không thực hiện được. Ông T1 đã tự ý nghỉ việc không lý do. Công ty H tìm để lấy
lại xe thì phát hiện xe tại bãi xe của Công ty cổ phần Ô với tình trạng bị
hỏng, không có niêm phong, không biên bản gửi, giữ xe. Qua tìm hiểu, Công ty
được biết ông T1 điều khiển xe gây va chạm với xe của ông K. Đồng thời, toàn bộ
giấy tờ xe đã bị mất cùng một số vật dụng trên xe. Công ty chưa nhận được biên bản
hiện trường của bên Công ty bảo hiểm nên không bồi thường theo yêu cầu của ông
K. Thỏa thuận giữa ông K và ông T1 không liên quan đến Công ty H, do chưa s
đồng ý của Công ty H. Ngoài ra, Công ty cũng không chứng minh được việc ông T1
ký với ông K giấy thoả thuận trong tình trạng ông T1 tự nguyện hay bị ép buộc nên
Công ty không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông K.
Bị đơn, ông Nguyễn Văn T1 vắng mặt trong quá trình Tòa án cấp sơ thẩm giải
quyết vụ án.
Người quyền lợi, nghĩa vliên quan, ông Võ Công K1 có văn bản trình bày:
ngày 12/10/2023, ông đang điều khiển xe container biển số 79C-054.82 trên đưng
N, thành ph T thì bị xe ô tô con biển số 51H-710.42 và xe ô tô khách biển số 62B-
018.75 va chạm. Sau khi xảy ra va chạm, các bên lập biên bản thỏa thuận ngày
12/10/2023. Theo ông nhớ bản thỏa thuận do một Chiến Công an viết giùm các
bên tên vào bản thỏa thuận. Ông ký tên vào biên bản xác nhận tự đem xe
vsửa chữa, không yêu cầu bồi thường, ngoài ra không lập biên bản nào khác. Trong
vụ tranh chấp này không liên quan đến ông và ông không yêu cầu nên xin được
vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc, hòa giải và xét xử vụ án.
Tại Bản án dân sự thẩm số 102/2025/DS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2025 của
Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đã xử (tóm tắt):
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Phú K về việc “tranh
chấp bồi thường thiệt hại về tài sản” đối với ông Nguyễn Văn T1. Không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Phú K về việc yêu cu Công ty TNHH MTV S
Công ty TNHH H liên đới với ông Nguyễn Văn T1 bồi thường thiệt hại về tài sản.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của Công ty TNHH MTV S vviệc buộc
ông Ngô Phú K phải trả lại các giấy tờ liên quan đến xe biển số 62B-018.75.
2. Buộc ông Nguyễn Văn T1 phải bồi thường cho ông N P K số tiền
186.070.644 đồng (một trăm tám mươi sáu triệu, không trăm bảy mươi ngàn, sáu
trăm bốn mươi bốn đồng).
3. Buộc ông Ngô Phú K phải tr cho Công ty TNHH MTV S các giấy tờ sau:
Giy chng nhn kiểm đnh an toàn k thut bo v môi trường phương tin
giao thông giới đường b s DA6020553 ngày 28/6/2023 đi với phương tiện
biển đăng ký: 62B-018.75;
Giy chng nhận đăng xe ôtô s: 62 002091 ngày 10/02/2023 đối vi
phương tiện bin s đăng ký: 62B-018.75, tên chủ xe: Công ty TNHH MTV S;
Trường hợp ông Ngô Phú K không trả cho Công ty TNHH MTV S các giấy tờ
nêu trên thì Công ty TNHH MTV S được quyền liên h quan nhà nước thẩm
quyền để làm thủ tục cấp lại theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, nghĩa vụ chậm thi hành
án, án phí, quyền và thời hạn kháng cáo của các đương sự, việc thi hành án theo quy
định của pháp luật.
Ngày 13/5/2025 ngày 03/6/2025, nguyên đơn ông Ngô Phú K b đơn ông
Nguyễn Văn T1 kháng cáo một phần bản án thẩm về nghĩa v liên đới trách nhiệm
của Công ty S và Công ty H.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Ông Nguyễn Trí T đại diện cho ông Ngô Phú K ni bảo vệ quyền
lợi ích hợp pháp của ông K là Luật sư Lương Th Hoàng Y trình bày ý kiến:
Ông T1 hành vi điều khiển xe ôtô mang biển số 62B-018.75 không giữ
khoảng cách an toàn dẫn đến gây tai nạn giao thông, hậu quả làm xe ôtô mang biển
số 51H-710.42 của ông K bị hỏng nặng ở phần đầu xe và phần đuôi xe với tổng
chi phí sửa chữa phần đuôi xe 60% phần đầu xe 186.070.644 đồng. Các bên
lập Bản thỏa thuận ngày 12/10/2023 về việc thỏa thuận bi thường. Xe ô mang
biển số 62B-018.75 là nguồn nguy hiểm cao độ và Công ty S là chủ sở hữu thì phải
có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi theo quy định tại khoản 2 Điều
2 và điểm a khoản 1 Điều 34 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024; Điều
601 Bộ luật Dân sự năm 2015. Hợp đồng thuê xe ngày 01/6/2023 giữa ng ty S
Công ty H không đúng quy định pháp luật, khả năng phía 2 công ty cố tình lập
ra hợp đồng này để làm phức tạp nội dung vụ án, nhằm trốn tránh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại cho ông K. Tại thời điểm xảy ra va chạm tông T1 nhân viên
hợp pháp của ng ty H.
Từ những phân tích trên cho thấy ng ty S là chủ sở hữu xe ô tô biển số 62B-
018.75 nhưng lỗi trong việc giao xe cho ông T1 nhân viên Công ty H điều
khiển không đúng quy định dẫn đến gây tai nạn giao thông gây thiệt hại cho ông K.
Do đó, Công ty S, Công ty H ông T1 phải trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt
hại cho ông K liên đới hoàn lại cho ông K chi phí tố tụng. Đề nghị chấp nhận
kháng cáo của ông K.
Ông Nguyễn Văn T1 trình bày: đối vi chi phí mà ông K đã sửa chữa xe thì yêu
cầu khấu trừ số tiền Công ty B đã chi trả, số tiền còn lại phải xem xét trách nhiệm
của ông K ông K cũng lỗi, đã dừng xe đột ngột đụng vào đuôi xe container
phía trước, sau đó ông mới đụng vào đuôi xe của ông K. Thời điểm xảy ra tai nạn,
ông đang lái xe cho Công ty H, việc biên bản thỏa thuận theo chỉ đạo của
Công ty nên Công ty phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông K.
Ông Lê Văn C không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của ông K và ông T1.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm các đương sự chấp hành đúng quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của nguyên đơn bị đơn đủ điu kiện để
xem xét theo trình t phúc thm.
Về nội dung: người đại diện của ông K xác định do các bên đã tự thỏa thuận
nên ông K không yêu cầu Công ty bảo hiểm chi trả, do đó kháng cáo của ông T1 yêu
cầu khấu trừ tiền Công ty bảo hiểm đã bồi thường là không có căn cứ để được chấp
nhận, xác định thiệt hại thực tế xảy ra 186.070.644 đồng. Công ty S đã cho
Công ty H thuê xe, hợp đồng thuê xe không có thỏa thuận về trách nhiệm ca Công
ty S phải bồi thường thiệt hại nếu Công ty H gây ra trong thời gian sử dụng xe; tại
thời điểm xảy ra tai nạn không phải trong khung giờ làm việc của ông T1. Do đó,
không căn cchấp nhận kháng cáo của ông K ông T1 yêu cầu Công ty S
Công ty H liên đới bồi thường, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản
án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo ông Ngô Phú K ông Nguyễn Văn T1 thực hiện đúng theo
quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 và Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ngưi kháng cáo giữ nguyên
yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa thuận được về việc giải quyết toàn
bộ vụ án. Vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thm.
[2] Về svắng mặt của đương sự: ông Công K1, Dương Thùy L vắng
mặt, đơn đnghị xét xvắng mặt, thuộc trường hợp quy định tại Điều 296 của
Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Tòa án vẫn xét xử phúc thẩm vụ án.
[3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: ông Nguyễn Văn T1 kháng cáo về số tiền
thiệt hại; ông Ngô Phú K ông Nguyễn Văn T1 kháng cáo về buộc trách nhiệm
liên đới của Công ty S và Công ty H bồi thường thiệt hại cho ông K số tiền sửa chữa
xe. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại
các phần nội dung có kháng cáo của bản án sơ thẩm.
Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn T1 yêu cầu khấu trừ số tiền thiệt hại đã
được Công ty B
[4] Theo các hóa đơn ca Công ty C phn Ô, chi phí sa cha xe ôtô bin s
51H-710.42 như sau: tổng chi phí sửa chữa phần đuôi xe: 114.614.280 đng; tng
chi phí sa cha phần đầu xe: 119.093.940 đng. S tiền tương ứng vi 60% chi phí
sa cha phần đầu xe là: 71.456.364 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T xác định
ông K ch mua bo him bt buc, không mua bo him t nguyn bo him vt cht
đối với thân xe. Do các bên đã có biên bản thỏa thuận bồi thường, nên ông K không
yêu cầu Công ty bảo hiểm chi trả thiệt hại. Tổng số tiền chi phí sửa chữa ông K yêu
cầu phải đưc bồi thường 186.070.644 đng. Do đó, không căn cứ đ chp
nhn kháng cáo ca ông T1 v vic khu tr s tin bo him chi tr.
Xét kháng cáo của ông Ngô Phú K ông Nguyễn Văn T1 về trách nhiệm bi
thường
[5] Đối với ý kiến của đại diện nguyên đơn người bảo vệ quyền lợi hợp pháp
của nguyên đơn cho rằng, vì xe ô biển số 62B-018.75 nguồn nguy hiểm cao độ,
nên Công ty S chsở hữu xe thì phải nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cả khi không
lỗi theo quy định tại Điều 601 của Bộ luật Dân sự năm 2015: Hội đồng xét xử
phúc thẩm không căn cứ để chấp nhận ý kiến này, bởi lẽ, theo quy định tại khoản
18 Điều 3 của Luật Giao thông đường bộ năm 2008, thì cả 3 xe trong vụ tai nạn đều
xe giới, nên cần căn cứ Điều 584 của Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định
trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
[6] Hồ sơ vụ án thể hiện và trình bày của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, thì
ông Ngô Phú K, ông Nguyễn Văn T1ông Võ Công K1 ng thống nhất xác định
các tình tiết như sau: vào ngày 12/10/2023, khi 03 đương s đang điều khiển xe
giới lưu thông trên đưng N, thành ph T, thì có xảy ra va chạm giữa 03 xe: xe ô tô
kéo moóc biển số 79C-054.82 do ông K1 điều khiển, xe ô con biển số 51H-
710.42 do ông K điều khiển xe ô biển số 62B-018.75 do ông T1 điều khiển.
Sau khi xảy ra va chạm, ông K, ông K1 ông T1 lập tên vào bản thỏa
thuận ngày 12/10/2023, có nội dung: “…xe ô tô đầu kéo biển số 79C-054.82 không
bị hỏng nặng nên tự đem xe về sửa chữa, không yêu cầu bồi thường;...ông Nguyễn
Văn T1 tự nhận thấy do mình điều khiển xe không giữ khoảng cách an toàn đã gây
ra vụ tai nạn và tự cam kết đem ô tô khách biển số 62B-018.75 về tự sửa chữa và tự
liên hệ sở bảo hiểm bắt buộc để sửa chữa cho xe ô con biển số 51H-710.42
phần đuôi xe, còn phần đầu xe ông Nguyễn Văn T1 đồng ý chi trả 60% tiền sửa
chữa phần đầu xe cho ông Ngô Phú K.... các bên thống nhất thỏa thuận dân sự ngay
tại hiện trường vụ va chạm trước khi quan cảnh sát tới, các bên không yêu cầu
cơ quan công an lập hồ tai nạn, ...”. Ông K xác định, sau khi lập bản thỏa thuận,
ông T1 đã giao cho ông K giữ bản chính Giấy chứng nhận đăng xe ôtô, Giấy
chứng nhận kiểm định xe biển số 62B-018.75 đng tên Công ty SGiy phép lái
xe số 580996000087 ngày 28/7/2023 đứng tên ông T1.
[7] Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 của Nghị định số 67/2023/NĐ-CP ngày
06/9/2023 của Chính phủ quy định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ
xe giới, bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc, bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu
xây dựng, thì chủ sở hữu cả 3 chiếc xe đều phải mua bảo hiểm bắt buộc. Ông T xác
định ông K có mua bảo hiểm bắt buộc đối với xe ô tô con biển số 51H-710.42. Tuy
nhiên, khi xảy ra tai nạn, ông K, ông T1 không báo cho doanh nghiệp B1 để phối
hợp giám định tổn thất, xác định nguyên nhân mức độ tổn thất làm căn cứ giải
quyết bồi thường bảo hiểm, theo quy định tại Điều 12 của Nghị định số 67/2023/NĐ-
CP ngày 06/9/2023 của Chính phủ. Tại thời điểm xảy ra tai nạn, ông K ông T1
đều biết rằng, chiếc xe ông T1 điều khiển là thuộc quyền sở hữu của Công ty S;
ông T1 cũng biết rằng, ông đang nhân viên hợp đồng lái xe cho Công ty H, nhưng,
trong biên bản này, hoàn toàn không ý kiến của người đại diện hợp pháp của
Công ty S Công ty H. Bản thỏa thuận thể hiện nhân ông T1 tự nguyện bồi
thường đã được ông K đồng ý. Do đó, tại đoạn [2.2] phần nhận định của bản án
sơ thẩm, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định: “do sự thỏa thuận của các bên chỉ có
ông T1, ông K và ông K1, không có sự xác nhận của cơ quan có thẩm quyền...”, từ
đó, không chấp nhận yêu cầu của ông K đòi Công ty H Công ty S phải liên đới
bồi thường, là hoàn toàn có căn cứ theo khoản 1 Điều 584 của Bộ luật Dân sự năm
2015.
[8] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy kháng cáo của ông Ngô
Phú K và ông Nguyễn Văn T1 là không có căn cđể được chấp nhận.
[9] Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với quy định của pháp luật nhận định
của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
[10] Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận, nên
ông Ngô Phú K và ông Nguyễn Văn T1 phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 của
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
2. Không chấp nhận kháng cáo của ông Ngô Phú K và ông Nguyễn Văn T1.
3. Giữ nguyên Bản án dân s thẩm số 102/2025/DS-ST ngày 29 tháng 4 năm
2025 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (nay là a án nhân dân
khu vực 3-Tây Ninh).
4. Án phí dân sự phúc thẩm: buộc ông Ngô Phú K và ông Nguyễn Văn T1 mỗi
người phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng
án phí ông K, ông T1 mỗi người đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) lần lượt
theo các biên lai thu số 0006923 ngày 13/5/2025 và số 0007140 ngày 03/6/2025 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (nay là Phòng Thi hành
án dân sự khu vực 3-Tây Ninh), nên ông Ngô Phú Kông Nguyễn Văn T1 đã nộp
đủ án phí phúc thẩm.
5. Về ớng dẫn thi hành án: trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo
quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải
thi hành án quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
6. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm này hiệu lực pháp luật kể t
ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND Khu vực 3-Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, án văn./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Tải về
Bản án số 606/2025/DSPT Bản án số 606/2025/DSPT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 606/2025/DSPT Bản án số 606/2025/DSPT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất