Bản án số 590/2026/DS-PT ngày 26/06/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 590/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 590/2026/DS-PT ngày 26/06/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 590/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp thừa kế
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 590/2026/DS-PT Bản án số 590/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 590/2026/DS-PT Bản án số 590/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Hùng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thế Hồng
Ông Lê Minh Đạt
- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Thị Út - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Nguyễn
Thị Ngọc Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long tiến
hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 298/2026/TLPT-DS ngày 11 tháng
5 năm 2026 về việc “Tranh chấp chia thừa kế”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 187/2025/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số: 515/2026/QĐ-PT ngày 14
tháng 5 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 674/2026/QĐ PT ngày 08
tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Võ Văn S, sinh năm 1947 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp V, V, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay ấp V, L, tỉnh Vĩnh
Long).
Người đại diện hợp pháp của ông Văn S: Ông Phạm Quang H, sinh năm
1980 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp G, xã T, tỉnh Vĩnh Long. Theo văn bản ủy quyền ngày 25/6/2026.
2. Ông Võ Văn H1, sinh năm 1948 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp V, V, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay ấp V, L, tỉnh Vĩnh
Long).
3. Ông Võ Văn D, sinh năm 1968 (vắng mặt)
Địa chỉ : Ấp V, V, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay ấp V, L, tỉnh Vĩnh
Long).
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 590/2026/DS - PT
Ngày 26 - 6 - 2026
V/v “Tranh chấp chia thừa
kế”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
- Bị đơn:
1. Ông Võ Văn E, sinh năm 1965 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp V, V, huyện B, tỉnh Bến Tre (Nay ấp V, L, tỉnh Vĩnh
Long).
Người đại diện hợp pháp của ông Võ Văn E: Ông Trần Văn P (H, R), sinh năm
1959 (có mặt)
Địa chỉ: Số E ấp B, S, thành phố B, tỉnh Bến Tre (Nay số 566/2 ấp B,
phường S, tỉnh Vĩnh Long). Theo văn bản ủy quyền ngày 30/01/2020.
2. Bà Lê Thị Kim E1, sinh năm 1965 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp V, V, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay ấp V, L, tỉnh Vĩnh
Long).
Người đại diện hợp pháp của Thị Kim E1: Ông Trần Văn P (H, R), sinh
năm 1959 (có mặt)
Địa chỉ: Số E ấp B, S, thành phố B, tỉnh Bến Tre (Nay số 566/2 ấp B,
phường S, tỉnh Vĩnh Long). Theo văn bản ủy quyền ngày 18/6/2026.
3. Bà Võ Thị L (L1), sinh năm1975 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp V, V, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay ấp V, L, tỉnh Vĩnh
Long).
Địa chỉ hiện nay: 322/46 khu phố C, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí
Minh (nay là 322/46 C, khu phố F, phường B, thành phố Hồ Chí Minh).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Võ Văn H2, sinh năm 1946 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp T, P, huyện B, tỉnh Bình Phước (nay ấp T, xã H, tỉnh Đồng
Nai).
2. Bà Võ Thị L2, sinh năm 1955 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số C đường Ấ, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là số
C đường Ấ, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh).
Địa chỉ hiện nay: Ấp G, xã C, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của Thị L2: Ông Trần Văn P (H, R), sinh năm
1959 (có mặt)
Địa chỉ: Số E ấp B, S, thành phố B, tỉnh Bến Tre (Nay số 566/2 ấp B,
phường S, tỉnh Vĩnh Long). Theo văn bản ủy quyền ngày 18/6/2026.
3. Ông Võ Thanh H3, sinh năm 1956 (vắng mặt)
4. Ông Võ Văn C, sinh năm 1958 (vắng mặt)
5. Ông Võ Văn M, sinh năm 1963 (vắng mặt)
6. Bà Bùi Thị Đ, sinh năm 1969 (vắng mặt)
3
7. Ông Trần Văn T, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là ấp V, xã L, tỉnh Vĩnh
Long).
8. Bà Võ Thị Tuyết M1, sinh năm 1966 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp V, V, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay ấp V, L, tỉnh Vĩnh
Long).
Người đại diện hợp pháp của Thị Tuyết M1: Ông Văn D, sinh năm
1968 (vắng mặt)
Địa chỉ : Ấp V, V, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay ấp V, L, tỉnh Vĩnh
Long). Theo văn bản ủy quyền ngày 27/5/2019.
9. Bà Võ Thị N, sinh năm 1971 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp V, V, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay ấp V, L, tỉnh Vĩnh
Long).
10. Chị Võ Thị Kim C1, sinh năm 1997 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp V, V, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay ấp B, L, tỉnh Vĩnh
Long).
Người đại diện hợp pháp của chị Võ Thị Kim C1: Ông Trần Văn P (H, R), sinh
năm 1959 (có mặt)
Địa chỉ: Số E ấp B, S, thành phố B, tỉnh Bến Tre (Nay số 566/2 ấp B,
phường S, tỉnh Vĩnh Long). Theo văn bản ủy quyền ngày 18/6/2026
- Người kháng cáo: Ông Võ Văn S là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Võ Văn
S, ông Văn H1, ông Văn D trình bày: Cụ Văn T1 (Chết năm 1982), cụ Đỗ
Thị C2 (Chết năm 2007), cụ T1, cụ C2 11 người con chung gồm: Văn T2,
Văn S, Võ Văn H2, Võ Văn H1, Võ Thị P1, Võ Văn B (B), Võ Thị L2, Võ Thanh H3
(B), Văn C, Văn M, Văn E (Ú). Ông Văn T2 (chết) vợ tên Phạm
Thị B1 03 con chung: Võ Thị Tuyết M1, Võ Văn D, Võ Thị N. Thị P1 (Hy
sinh năm 1968, không chồng con). Văn B (Bích A) (chết năm 1973, không
vợ con). Lúc còn sống, cụ C2 02 thửa đất số 501 (Thổ cư) 502 (Lâu năm) tờ
bản đồ số 1 (này là thửa đất số 96,124 tờ bản đồ số 4), tổng diện tích 4.875 m
2
tọa
lạc ấp B, V, huyện B, tỉnh Bến Tre; cụ C2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất ngày 13/4/2000. Nay các nguyên đơn khởi kiện u cầu Tòa án giải quyết
chia di sản thừa kế của cụ Đỗ Thị C2 theo quy định pháp luật mỗi người được
hưởng diện tích đất 1.000 m
2
.
Bị đơn ông Võ Văn E trình bày: Ông E thống nhất với lời trình bày của nguyên
đơn về hàng thừa kế của cụ T1, cụ C2. Thống nhất 02 thửa đất số 501, 502, tờ bản đồ
số 1 (nay thửa đất số 96,124 tờ bản đồ số 4), tổng diện tích 4.875 m
2
tọa lạc tại
ấp B, V, huyện B, tỉnh Bến Tre của cụ C2. Ngày 06/7/2004, cụ C2 lập di chúc
4
để lại cho ông hưởng 300 m
2
đất thổ cư, Thị L (cháu ngoại) hưởng 4.575 m
2
đất cây lâu năm thuộc thửa đất 501, 502, tờ bản đồ số 1 (nay là thửa đất số 96, 124, tờ
bản đồ số 4), tọa lạc ấp B, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre. Nay ông không đồng ý với
yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn yêu cầu được hưởng di sản theo di chúc
ngày 06/7/2004 của cụ C2. Đối với diện tích thực đo tăng thêm 2.642,9m
2
(7.517,9
m
2 -
4.875 m
2
) so với diện tích được cấp quyền sử dụng đất cho cụ C2do ông khai
phá cải tạo lấn thêm đất kênh rạch, rừng lá, không phải đất của C2 nên
không đồng ý chia thừa kế; trường hợp Tòa án chia phần đất này thì phải trả công sức
cho ông đã bỏ ra từ năm 1984 đến nay và công chăm sóc, nuôi dưỡng và thờ cúng
C2 theo quy định.
Bị đơn Thị L trình bày: ngoại cụ Đỗ Thị C2 lập di chúc đề
ngày 6/7/2004, chia cho bà cùng với ông Võ Văn E được hưởng diện tích đất là 4.875
m
2
thuộc thửa đất 501, 502, tờ bản đồ số 1(nay là thửa đất số 96, 124, tờ bản đồ số 4),
tọa lạc ấp B, V, huyện B, tỉnh Bến Tre. Nay bà không đồng ý theo yêu cầu khởi
kiện của các nguyên đơn yêu cầu được hưởng di sản theo di chúc ngày 06/7/2004
của cC2; không yêu cầu phân chia cụ thể để ông E tự thỏa thuận với
nhau sau này.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Thị Tuyết M1, Thị N trình
bày: Hai ông Võ Văn D con ruột của ông Văn T2, nay hai yêu cầu
chia thừa kế theo pháp luật thửa đất 501, 502 di sản của cụ C2 xin nhận phần
thừa kế mà cha các bà là ông T2 được hưởng.
Người quyền lợi, nghĩa vliên quan Thị L2, ông Văn H2 trình
bày: Cụ Đỗ Thị C2 là mẹ các ông, bà, cụ C2 có di chúc để lại di sản là quyền sử dụng
đất cho ông Võ Văn E và bà Võ Thị L diện tích 4.875 m
2
, thửa đất 501, 502. Kết quả
đo đạc thực tế 7.517,9 m
2
; phần diện tích tăng thêm 2.642,9m
2
, ông, yêu cầu
chia thừa kế theo pháp luật cho 11 người con chung của cụ C2; ông, yêu cầu mỗi
người được nhận giá trị diện tích đất 240 m
2
.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn M trình bày: Cụ Đỗ Thị C2
mẹ ông, cụ C2 di chúc để lại di sản là quyền sử dụng đất cho ông Văn E và
Võ Thị L diện tích 4.875 m
2
, thửa đất 501, 502. Kết quả đo đạc thực tế là 7.517,9
m
2
; phần diện tích tăng thêm 2.642,9m
2
, ông yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật cho
11 người con chung của cụ C2, ông yêu cầu được nhận bằng hiện vật ngay vị trí ngôi
nhà chính, nhà vệ sinh do ông đã xây dựng trước đó.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thị Đ trình bày: Ngày
30/7/2012, bà và ông Võ Văn M có lập hợp đồng thuê nhà, thời hạn thuê 40 năm, giá
tiền thuê 50.000.000 đồng, cùng con trai Trần Văn T đang ở. Tòa án giải
quyết vụ án như thế nào thì cùng ông T tự di dời đi nơi khác trả đất, còn việc thuê
nhà giữa bà và ông M hai bên tự thỏa thuận, giải quyết sau.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 187/2025/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Vĩnh Long đã quyết định:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn S, Văn
H1, Văn D về việc yêu cầu chia di sản thừa kế theo quy định pháp luật mỗi người
5
được chia diện tích đất 1.000 m
2
đối với thửa đất số 501, 502 tờ bản đồ số 1 (Số liệu
đo đạc chính quy thửa đất số 96, 124 tờ bản đồ số 4) tọa lạc ấp B, V, huyện B,
tỉnh Bến Tre (nay là ấp V, xã L, tỉnh Vĩnh Long) của cụ Đỗ Thị C2.
2. Tuyên bố di chúc của cụ Đỗ Thị C2 lập ngày 06/7/2004 là hợp pháp phát
sinh hiệu lực pháp luật.
3. Xác định di sản của cụ Đỗ Thị C2 chết để lại là diện tích đất theo kết quả đo
đạc thực tế 7.517,9 m
2
thuộc thửa đất số 96,124 tờ bản đồ số 4, tọa lạc ấp B, V,
huyện B, tỉnh Bến Tre (nay ấp V, L, tỉnh Vĩnh Long) theo họa đồ hiện trạng sử
dụng đất ngày 13/6/2025 (Kèm theo). Trong đó, di sản đã được cụ Đỗ Thị C2 định
đoạt trong di chúc lập ngày 06/7/2004 diện tích 4.875 m
2
chưa định đoạt
trong di chúc lập ngày 06/7/2004 có diện tích là 2.642,9 m
2
.
Di sản cụ Đỗ Thị C2 định đoạt trong di chúc lập ngày 06/7/2004 có diện tích là
4.875 m
2
thuộc thửa đất số 96, 01 phần thửa 124, tờ bản đồ s4 (Số liệu đo đạc
không chính quy thuộc thửa đất số 501, 502 tờ bản đồ số 1) tọa lạc ấp B, xã V, huyện
B, tỉnh Bến Tre (nay là ấp V, xã L, tỉnh Vĩnh Long) được chia cho:
- Ông Võ Văn E nhận và hưởng di sản diện tích đất 300 m
2
(Thổ cư).
- Bà Võ Thị L nhận và hưởng di sản diện tích đất 4.575 m
2
(Lâu năm).
Ghi nhận ông Văn E Thị L không yêu cầu xác định riêng
phân chia phần đất thừa kế được hưởng của từng người theo di chúc cụ C2, để hai
bên tự thỏa thuận thương lượng.
4. Di sản cụ Đỗ Thị C2 chưa định đoạt trong di chúc lập ngày 06/7/2004
diện tích là 2.642,9 m
2
thuộc 01 phần thửa 124, tờ bản đồ số 4 (Số liệu đo đạc không
chính quy thuộc 01 phần thửa đất số 502 tờ bản đồ số 1) tọa lạc ấp B, xã V, huyện B,
tỉnh Bến Tre (nay ấp V, xã L, tỉnh Vĩnh Long) được chia thừa kế theo pháp luật.
Cụ thể như sau:
4.1 Ông Võ Văn E được chia được nhận di sản thừa kế diện tích đất bằng
giá trị số tiền là 63.853.200 đồng.
4.2. Ông Văn H1, Văn H2, Th L2 mỗi người được hưởng thừa
kế số tiền là 12.770.600 đồng.
4.3. Ông Văn D, chị Thị Tuyết M1 chị Thị N (người thừa kế thế
vị của ông Võ Văn T2) được hưởng thừa kế thế vị của ông T2 là 12.770.600 đồng.
4.4. Ông Văn M được chia được nhận di sản thừa kế diện tích đất gắn
liền nhà ở ký hiệu g được biểu thị ở thửa 124-5 diện tích 33.2 m
2
, nhà vệ sinh biểu thị
thửa 124-4 diện tích 5.4 m
2
, tổng diện tích đất ông M sử dụng 38.6 m
2
giá trị
là 2.895.000 đồng. Ông Võ Văn E phải hoàn trả cho ông M số tiền còn lại cho ông M
là 9.875.600 đồng.
5. Di sản diện tích đất tăng thêm 2.642,9 m
2
được chia thừa kế nêu trên thực
tế hiện nay do ông Văn E đang trực tiếp quản lý sử dụng toàn bộ nên ông E
được nhận bằng hiện vật diện tích đất này của cụ C2 để lại sau khi đã hoàn trả lại giá
6
trị bằng tiền tương ứng cho đồng thừa kế đã nêu tại quyết định thể hiện tại mục 4.2,
4.3, 4.4 khi bản án có hiệu lực pháp luật.
6. Các ông Văn E, Võ Thị L và ông Võ Văn M có nghĩa vụ tự liên hệ
với quan Nhà ớc thẩm quyền làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, tài sản gắn liền với các phần đất được chia nhận thừa kế diện tích
tứ cận nêu trên theo quy định của pháp luật khi bản án hiệu lực pháp luật. Đồng
thời chỉnh biến động theo quy định của cụ Đỗ Thị C2 để cấp đất cho ông E, L
và ông M theo quy định.
7. Ghi nhận sự tự thỏa thuận của ông E, L ông S không yêu cầu giải
quyết 02 ngôi mộ được biểu thị thửa 124-8 diện tích 10.5 m
2
và 124-9 diện tích 3.7
m
2
(mộ của con ông Võ Văn S) nên Hội đồng xét xử không xét đến.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng,
nghĩa vụ chậm thi hành án quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của
pháp luật.
Ngày 08 tháng 10 năm 2025, nguyên đơn ông Văn S kháng cáo bản án
thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết sửa bản án thẩm theo
hướng tuyên bố di chúc của cụ Đỗ Thị C2 lập ngày 06/7/2004 hiệu yêu cầu
chia thừa kế theo pháp luật đối với thửa đất 501, 502.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, ông Phạm Quang H người đại diện hợp
pháp của nguyên đơn ông Văn S không rút yêu cầu khởi kiện của ông S, giữ
nguyên yêu cầu kháng cáo của ông S. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau
về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của vị Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ theo
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, vị Kiểm sát viên cho rằng: Tại phiên tòa phúc thẩm hôm
nay, các đương sự đều thừa nhận cụ Đỗ Thị C2 không biết chữ, do đó các di chúc của
cụ Đỗ Thị C2 lập Giấy thừa kế ngày 24/9/1999, Tờ di chúc để lại tài sản cho các
con ngày 06/3/2000, Tờ di chúc ngày 06/7/2004 không người làm chứng nên
hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 661 và khoản 3 Điều 655 của Bộ luật dân sự năm
1995. Tòa án cấp thẩm công nhận Tờ di chúc ngày 06/7/2004 hiệu luật pháp
luật là không đúng quy định trên của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm chưa chia thừa kế
theo pháp luật các thửa đất 501, 502 và chưa vẽ đồ phần chia nên cấp phúc thẩm
không thể khắc phục được. Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm chia cho ông Văn M
phần đất gắn với căn nhà diện tích 33,2m
2
phần đất gắn với nhà vệ sinh diện tích
5,4m
2
không đảm bảo diện tích tối thiểu tách thửa, không lối đi ra đường công
cộng là không phù hợp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm, giao hồ
vụ án cho Tòa án nhân dân Khu vực 8 - V giải quyết lại vụ án theo thủ tục
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
7
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ được xem xét tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt đương sự: Nguyên đơn ông Văn H1, ông n D;
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Văn H2, ông Văn H4, ông Võ Văn
C, ông Văn M, Bùi Thị Đ, ông Trần Văn T, Thị N vắng mặt nhưng đã
được Tòa án triệu tập hợp lệ. Phiên tòa hôm nay phiên tòa mở lần thứ hai nên căn
cứ vào Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đương sự trên.
[2] Ngày 13/4/2000, Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với các thửa đất 501, 502, tở bản đồ số 1, tổng diện tích 4.875 m
2
(thực đo 7.517,9 m
2
), tọa lạc ấp B, V, huyện B, tỉnh Bến Tre cho hộ cĐỗ Thị
C2. Nguồn gốc hai thửa đất này là của cha, mẹ cụ Võ Văn T1 (chết năm 1982, chồng
cụ C2) để lại. Sau khi cụ T1 chết, cụ C2 đi khai, đăng và được Nhà nước cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 13/4/2000 nên các thửa đất 501, 502, tổng
diện tích 4.875 m
2
(thực đo 7.517,9 m
2
) là di sản của cụ C2.
[3] Ngày 24/9/1999, cụ Đỗ Thị C2 lập “Giấy thừa kế” để lại thừa kế diện tích
đất vườn dừa 4.875 m
2
cho ông Văn E (Bút lục số 154). Ngày 06/3/2000, cụ Đỗ
Thị C2 lập “Tờ di chúc để lại tài sản cho các con” để lại diện tích đất vườn dừa 4.875
m
2
, thuộc thửa 501, 502 cho ông Văn S, ông Võ Văn H1, ông Võ Văn E, ông
Văn D mỗi người 1.000 m
2
, còn 875 m
2
dùng vào việc hương hỏa, thờ cúng ông
(Bút lục số 151, 152). Ngày 06/7/2004, cụ Đỗ Thị C2 lập “Tờ di chúc” để lại cho ông
Văn E được thừa hưởng căn nhà 300 m
2
đất nền nhà để thờ phụng ông bà; để
lại cho Thị L được thừa hưởng mảnh đất vườn dừa diện tích 4.575 m
2
(Bút
lục số 149, 150).
Xét thấy, các di chúc là “Giấy thừa kế” ngày 24/9/1999, “Tờ di chúc để lại tài
sản cho các con” ngày 06/3/2000, cụ C2 chỉ lăng tay được UBND V Đông
chứng thực; “Tờ di chúc” ngày 06/7/2004, cụ C2 chỉ gạch thập lăng tay, được
UBND xã V Đông chứng thực ngày 07/7/2004. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay,
Võ Thị L, ông Trần Văn P người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Văn E, ông
Phạm Quang H người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Văn S đều thừa
nhận cụ C2 không biết chữ. Các di chúc này không người làm chứng trong khi cụ
C2 không biết chữ nên các di chúc này vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 661 và
khoản 3 Điều 655 của Bộ luật dân sự năm 1995. Ngoài ra, đối với Tờ di chúc ngày
06/7/2004, cụ C2 không biết chữ nhưng UBND V lại chứng thực ghi: “Người lập
di chúc đã đọc lại bản di chúc này, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong di chúc
đã ký vào di chúc trức sự có mặt của tôi”.
Khoản 2 Điều 661 của Bộ luật dân sự năm 1995 quy định: Trong trường hợp
người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc
không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải c nhận
trước mặt công chứng viên hoặc người thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân
dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên, người thẩm quyền chứng thực của Uỷ
ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di
chúc và người làm chứng”.
8
Khoản 3 Điều 655 của Bộ luật dân sự năm 1995 quy định: “Di chúc của người
bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập
thành văn bản chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ
ban nhân dân xã, phường, thị trấn”.
Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định Tờ di chúc ngày 06/7/2004 có hiệu lực pháp
luật không đúng với quy định trên của Bộ luật dân sự năm 1995. Do Giấy thừa kế
ngày 24/9/1999, Tờ di chúc để lại tài sản cho các con ngày 06/3/2000 Tdi chúc
ngày 06/7/2004 hiệu nên các thửa đất 501, 502 phải được chia thừa kế theo pháp
luật. Tòa án cấp thẩm chưa chia thừa kế theo pháp luật di sản của cụ C2 các
thửa đất 501, 502; chưa vđồ phân chia phần thừa kế đối với các thửa đất 501,
502 trên nên Tòa án cấp phúc thẩm không thể sửa bản án sơ thẩm cần phải hủy
bản án thẩm, chuyển hồ vụ án cho Tòa án cấp thẩm giải quyết lại theo thủ
tục sơ thẩm.
[4] Xét ý kiến của vị Kiểm sát viên, như phân tích ở phần trên, Hội đồng xét xử
xét thấy có cơ sở chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Văn S không phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm. Ông S thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc
thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 308 và Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Hủy toàn bộ bản án dân sự thẩm số: 187/2025/DS-ST ngày 27 tháng 9 m
2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Vĩnh Long.
Giao hồ vụ án về cho Tòa án nhân dân Khu vực 8 Vĩnh Long giải quyết
lại sơ thẩm theo thủ tục chung.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Văn S không phải chịu án phí dân s
phúc thẩm. Ông S thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc
thẩm.
Về tiền tạm ứng án phí dân sự thẩm, tiền tạm ứng chi phí tố tụng sẽ được
quyết định khi vụ án được giải quyết lại.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Vĩnh Long; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND Khu vực 8 – Vĩnh Long;
- Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, TDS.
9
Đặng Văn Hùng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 590/2026/DS-PT Bản án số 590/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 590/2026/DS-PT Bản án số 590/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất