Bản án số 57A/2023/DS-PT ngày 25-07-2023 của TAND tỉnh Quảng Nam về về tranh chấp hợp đồng góp vốn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 57A/2023/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 57A/2023/DS-PT ngày 25-07-2023 của TAND tỉnh Quảng Nam về về tranh chấp hợp đồng góp vốn
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Nam
Số hiệu: 57A/2023/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/07/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị H và Nguyễn Thị C tranh chấp hợp đồng góp vốn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NAM
Bản án số: 57A/2023/DS-PT
Ngày: 25-7-2023
V/v tranh chấp hợp đồng góp vốn.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Quốc Bảo.
Ông Nguyễn Văn Dũng;
Ông Nguyễn Hữu Thịnh.
- Thư phiên tòa: Trần ThBích Cẩm - Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam: Ông Nguyễn
Quang Minh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 25 tháng 7 m 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 22/2023/TLPT-DS ngày 22 tháng 5
năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng góp vốn”.
Do Bản án dân s thẩm số: 51/2023/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2023
của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 53/2023/QĐ-PT ngày
11 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1953.
Địa chỉ: Số N đường L, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.
mặt.
2. Bị đơn: bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1969.
Địa chỉ: Tổ B, khối phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.
mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (đồng thời là người làm
chứng): bà Trần Thị Thu T, sinh năm 1969.
Địa chỉ: Khối phố S, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
4. Người kháng cáo: b đơn bà Nguyễn Th C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo đơn khởi kiện, các văn bản trong hồ vụ án tại phiên tòa,
nguyên đơn là bà Huỳnh Th H trình bày:
Ngày 25/6/2018, bà Nguyễn Thị C có rủ bà H chung tiền để mua tài sản là
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 129, tờ bản đồ số 20
theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở số 0301090xxx
do Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam cấp ngày 28/9/2001, trị giá 680.000.000
đồng. Số tiền góp vốn mua chung như sau: ban đầu bà H góp 380.000.000 đồng,
C góp 300.000.000 đồng; sau đó, H cần tiền nên lấy lại 80.000.000 đồng,
vì vậy số tiền hai bên góp vốn mua chung cụ thể là: bà H góp 300.000.000 đồng,
C góp 380.000.000 đồng. quá tin tưởng bạn n H đã đưa tiền mặt
cho C để C mua nhà, đất nêu trên để C đứng tên một mình trên sổ
đỏ. Các bên thỏa thuận, sau khi mua xong, nếu được giá thì sẽ bán chia tiền
theo tỷ lệ góp vốn.
Tngày 17/5/2019 đến tháng 3/2022, C nói với H căn n
mua chung này chưa bán được thì cho thuê. Tiền thuê nhà 02 tháng là 2.500.000
đồng, chia mỗi người mỗi tháng. Do đó, trong khoảng thời gian này, C đã
đưa cho H tổng cộng 30.000.000 đồng, trong đó khi 04 tháng C mới
đưa tiền cho H, C nói do dịch Covid sửa nnên bà H hoàn toàn tin
tưởng bà C. Đến ngày 15/3/2022, người hỏi mua nhà nên H đã dẫn đến
căn nhà mua chung này để bán, H gọi điện thoại cho bà C hỏi bán bao nhiêu
thì bà C nói 900.000.000 đồng. Sau khi người đồng ý mua, H nói bà C
chụp bìa đỏ để gửi cho người mua thì C hẹn mãi. vậy, bà H trực tiếp đến
gặp người thuê nhà thì họ cho biết là đang thuê nhà của M chứ không phải
của C. Lúc đó H mới biết C đã tự ý bán căn nhà không thông qua ý
kiến của H. Sau đó, H đến đòi tiền góp vốn nhiều lần nhưng C không
trả H ghi âm lại các cuộc nói chuyện giữa các bên để làm chứng cứ,
lúc đưa tiền góp vốn cho bà C, do tin tưởng bạn bè nên H không yêu cầu bà C
lập hợp đồng góp vốn.
Nay, bà Huỳnh Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc
Nguyễn Thị C phải hoàn trả cho Huỳnh Thị H số tiền đã góp vốn để mua
chung nhà đất là 270.000.000 đồng (sau khi trừ số tiền cho thuê nhà
30.000.000 đồng mà bà C đã giao cho bà H trước đây).
Tại các văn bản trong hồ vụ án, bị đơn Nguyễn Thị C trình
bày:
C không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H, vì cho rằng giữa bà C
H không việc góp vốn để mua chung nhà đất như H trình bày.
Nếu H cho rằng H đưa tiền cho bà C để góp vốn mua chung nhà đất thì
yêu cầu bà H đưa giấy tờ chứng minh.
Mối quan hệ giữa bà H C làm ăn cho ợn tiền qua lại, C chỉ
mượn tiền của H hiện nay còn nH, số tiền nợ cụ thể bao nhiêu thì
C không nhớ , sổ sách, giấy tờ nợ H người giữ. Đề nghị H đưa
sổ ghi nợ để C biết số tiền nợ, nếu H khởi kiện số tiền C còn nợ thì
C trả nợ, chứ không có việc bà H đưa tiền góp vốn với bà C.
3
Đối với những đoạn ghi âm H xuất trình, C thừa nhận nói
trong những đoạn ghi âm này, nhưng do trước thời điểm con H bà H đến
nói chuyện với C thì bà H đến gặp C yêu cầu C trả lời như vậy
với con H, chứ không phải C thừa nhận trong đoạn ghi âm là hai bên
góp vốn. C thừa nhận lúc mua nhà đất, bà T nợ tiền của C. Lúc đó,
T bán nhà được chia số tiền 300.000.000 đồng nhưng không chịu trả nợ
cho C nên C nói với T mua chung nhà t T mới đưa số tiền
300.000.000 đồng cho C C mới ghi Giấy nhận tiền góp vốn với T
ngày 26/6/2018 để trừ số tiền T còn nbà C. Còn việc C nói với T
nguồn tiền C mua nhà của T 300.000.000 đồng bà H 380.000.000
đồng là để T đồng ý cấn trừ tiền nợ, chứ không phải lúc đó H góp vốn
với bà C.
Tại các văn bản trong hồ vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đồng thời là người làm chứng, bà Trần Thị Thu T trình bày:
Năm 2018, T có đưa cho C số tiền 300.000.000 đồng để chung mua
nhà, đất tại thửa đất số 129, tờ bản đồ số 20, diện tích 28,2m
2
tại TN, phường
P, thành phố T theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà quyền sử dụng đất
số 0301090xxx do Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam cấp ngày 28/9/2001, trị giá
tài sản lúc mua 680.000.000 đồng. Khi chung tiền mua nhà, đất, C nói
với T tiền mua nhà, đất 680.000.000 đồng, T góp 300.000.000 đồng,
H góp 380.000.000 đồng, sau này bán lại lời thì chia cho cả 03 người. tin
tưởng bà C nên T mới đưa tiền cho C. Lúc bán lại nhà, C không trả tiền
cho T cấn trừ 01 i quán ăn cho T. Quán này do C thuê để bán
nhưng không khách nên mới cấn trừ qua cho T với số tiền 200.000.000
đồng, số tiền còn lại C vẫn chưa trả cho T T sẽ khởi kiện C trong
vụ án khác.
Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án dân sự thẩm số 51/2023/DS-
ST ngày 31/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đã
căn cứ vào các Điều 27, 35, 39 của Bộ luật Ttụng dân sự; các Điều 116, 117,
119, 385, 401 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Thị H
về việc “Tranh chấp hợp đồng góp vốn” đối với bị đơn bà Nguyễn Thị C.
2. Buộc Nguyễn Thị C phải nghĩa vụ hoàn trả cho Huỳnh Thị H
số tiền 270.000.000 (Hai trăm bảy mươi triệu) đồng .
Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định về nghĩa vụ thi hành án, án phí
và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 31/3/2023, bị đơn Nguyễn Th C đơn
kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án
thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
4
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại din Vin kiểm sát nhân dân tỉnh Qung
Nam phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai
đoạn phúc thẩm: Thẩm phán được phân công trực tiếp giải quyết vụ án đã thực
hiện đúng các quy định của pháp luật về việc thụ lý vụ án, về thời hạn giải quyết
vụ án, về việc chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu để tham gia xét
xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự,
thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền,
nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều
308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng
xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Huỳnh Thị H không rút đơn
khởi kiện, bị đơn Nguyễn Th C giữ nguyên kháng cáo; các đương sự không
thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Th C thì thấy:
[2.1] Trong qtrình giải quyết vụ án, C thừa nhận ngày 25/6/2018 bà
C nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất tại thửa
đất số 129, tờ bản đồ số 20 (theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà quyền
sử dụng đất số 0301090xxx do y ban nhân dân tỉnh Quảng Nam cấp ngày
28/9/2001) như H trình bày. Tuy nhiên, về nguồn tiền nhận chuyển nhượng
thì C khai là của Trần Thị Thu T 300.000.000 đồng của bà C
380.000.000 đồng. C không thừa nhận bà H góp vốn, chỉ thừa nhận H
cho bà C vay tiền và cho rằng bà H là người giữ giấy vay tiền nên bà C không
nhớ số tiền vay cụ thể bao nhiêu; tuy nhiên, C lại không xuất trình được
chứng cứ chứng minh quan hệ vay tiền giữa C với H cũng không được
H thừa nhận.
[2.2] Theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản gắn
liền với đất do Tòa án cấp sơ thẩm thu thập trong hồ sơ vụ án, thể hiện: ngày
25/6/2018, bà Nguyễn Thị C có nhận chuyển nhượng nhà và đất từ bà Phùng Thị
T1 đối với thửa đất số 129, tờ bản đồ số 20, giá chuyển nhượng theo hợp đồng là
80.000.000 đồng; tuy nhiên, tại Tòa án cấp thẩm C thừa nhận giá chuyển
nhượng thực tế là 680.000.000 đồng. Tại nội dung trích xuất các đoạn ghi âm về
cuộc nói chuyện giữa bà H, con bà H và bà C mà nguyên đơn cung cấp, thể hiện:
C thừa nhận H góp 300.000.000 đồng để mua nhà, đất như H trình
bày. Tại cấp thẩm phiên tòa phúc thẩm, bà C thừa nhận lời nói của C
trong những đoạn ghi âm này nhưng cho rằng do bà H trao đổi trước nhờ
5
C khi gặp con của H sẽ nói như vậy; tuy nhiên, C lại không xuất trình
được chứng cứ chứng minh cho lời khai của mình. Hơn nữa, theo lời khai của bà
Trần Thị Thu T thì nguồn tiền nhận chuyển nhượng nhà, đất nêu trên do bà T
góp 300.000.000 đồng và H góp 380.000.000 đồng, vì thời điểm mua nhà, đất
C có nói cho bà T biết việc này. Với những tài liệu, chứng cứ lời khai của
các đương sự như đã nêu trên, Hội đồng xét xphúc thẩm xét thấy việc Tòa án
cấp thẩm xác định giữa H C xác lập giao dịch góp vốn để mua
nhà, đất (bằng lời nói) việc thỏa thuận của các bên thỏa mãn điều kiện
hiệu lực của giao dịch dân sự, phù hợp với quy định tại các Điều 116, 117
119 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có hiệu lực là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.3] Hiện nay, bà C đã chuyển nhượng nhà, đất cho người khác nên phải
có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà H số tiền 300.000.000 đồng mà bà H đã góp vốn.
Tuy nhiên, bà H thừa nhận trước đây C giao cho H số tiền cho thuê nhà
30.000.000 đồng nên chỉ yêu cầu bà C hoàn trả số tiền 270.000.000 đồng. Do
đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, buộc C phải
có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền 270.000.000 đồng cho bà H là phù hợp.
[2.4] Ti cp phúc thẩm, b đơn Nguyn Th C không cung cấp được
tài liệu, chng c mới nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không căn cứ đ
chp nhận kháng cáo ca C, gi nguyên bản án sơ thẩm theo như đ ngh ca
Kiểm sát viên.
[3] Về án pdân sự phúc thẩm: do kháng cáo không được Hội đồng xét
xử phúc thẩm chấp nhận nên C phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào số tiền
tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Th C, ginguyên
Bản án dân sự thẩm số: 51/2022/DS-ST ngày 31-3-2023 của Tòa án nhân dân
thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015; các Điều 116, 117, 119, 385 401 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điều 26 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. X:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị H đối
với bị đơn bà Nguyễn Thị C về việc tranh chấp hợp đồng góp vốn.
Buộc Nguyễn Thị C phải nghĩa vụ hoàn trả cho Huỳnh Thị H số
tiền 270.000.000 (Hai trăm bảy mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
6
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468
của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyễn Th C phải chịu stiền 13.500.000
(Mười ba triệu năm trăm nghìn) đồng.
Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyễn Th C phải chịu số tiền 300.000 (Ba
trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm C đã nộp
300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0010104 ngày 05/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ,
tỉnh Quảng Nam.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (25/7/2023).
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Quảng Nam;
- TAND thành phố Tam Kỳ;
- VKSND thành phố Tam Kỳ;
- Chi cục THADS thành phố Tam Kỳ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ v án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Phạm Quốc Bảo
Tải về
57A-2023-DS-PT-QUANG NAM 57A-2023-DS-PT-QUANG NAM

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

57A-2023-DS-PT-QUANG NAM 57A-2023-DS-PT-QUANG NAM

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất