Bản án số 178/2026/KDTM-PT ngày 07/05/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 178/2026/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 178/2026/KDTM-PT ngày 07/05/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về mua bán hàng hóa
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 178/2026/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/05/2026
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Sửa bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PH H CHÍ MINH
Bn án s: 178/2026/KDTM-PT
Ngày: 07/5/2026
V/v đòi lại tin khi chm dt hp
đồng
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
NHÂN DANH
C CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PH H CHÍ MINH
- Thành phn Hội đồng xét x phúc thm gm có:
Thm phán - Ch ta phiên toà: Bà Phùng Th Như Mai
Các Thm phán: Bà Trương Thị Qunh Trâm
Bà Ngô Th Phúc Ho
- Thư phiên tòa: Phan Th Thu Hin Thư Tòa án, Tòa án nhân
dân Thành ph H Chí Minh.
- Đại din Vin kim sát nhân dân Thành ph H Chí Minh tham gia
phiên tòa: Nguyn Th Lan - Kim sát viên.
Ngày 13/4/2026 ngày 07/5/2026, ti tr s Tòa án nhân dân Thành ph H
Chí Minh xét x phúc thm công khai v án kinh doanh thương mại th s:
392/2025/TLPT-KDTM ngày 24 tháng 12 năm 2025 về: “Tranh chấp đòi lại tin
sau khi chm dt hợp đồng
Do Bn án kinh doanh thương mại thẩm s 198/2025/KDTM-ST ngày
13/10/2025 ca Tòa án nhân dân khu vc 2 b kháng cáo.
Theo Quyết định đưa v án ra xét x s 1372/2026/QĐ-PT ngày 03 tháng 3
năm 2026 và Quyết định hoãn phn tòa s 4188/2026/QĐ-PT ngày 26 tháng 3 năm
2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty TNHH T.
Trụ sở: đường T, Phường F, Quận H nay phường Đ, Thành phố Hồ Chí
Minh
Người đại diện theo pháp luật: Ông Làu Công K
Người đại diện theo ủy quyền: Ông H Gia Đ theo Giấy ủy quyền ngày
08/4/2026; Ông Tham VĐ1 theo Giấy ủy quyền ngày 16/4/2026.
2. Bị đơn: Công ty TNHH V. Mã số doanh nghiệp: 0314557345
Trụ sở: Đường s H, Khu phố B, phường H, thành phố Thủ Đức nay
phường H, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Quốc Minh K. Thường trú: Thôn L,
xã NS, huyện N, tỉnh NT nay là phường Đ, tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Thành C, sinh năm 1977. Địa chỉ liên
hệ: N Phường V, Quận C nay là phường X, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Vĩ H, sinh năm 1983.
Địa chỉ: đường T, Phường H, Quận K nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh
4. Người làm chứng: Ông Tham Đ2, sinh năm 1990. Địa chỉ: F chung
N, Phường G, Quận E nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại
phiên tòa, nguyên đơn Công ty TNHH T có ông Hàng Hoa Q là người đại diện theo
ủy quyền trình bày:
Ngày 14/02/2020, Công ty TNHH T (Bên A) do ông Trương Vỹ H làm Giám
đốc hợp đồng mua bán hàng hóa số 14022020/TY- VN với Công ty TNHH V
(Bên B). Bên A đặt mua của bên B hàng hóa chai Pet nhựa trong suốt (dung tích
100ml, vòi phun van 20/20, nắp nhỏ, hàng nhập khẩu, xuất xứ tại Philippines) với
tổng giá trị hợp đồng là 3.950.000.000, chưa bao gồm thuế VAT.
Phương thức thanh toán, nghiệm thu được hai bên thống nhất: Ngay sau khi
hợp đồng, bên A đưa cọc trước cho bên B 40% giá trị hợp đồng (tương ứng số
tiền 1.580.000.000 đồng), stiền còn lại sẽ thanh toán nốt khi bên A nhận được
hàng hóa đơn VAT hợp lệ... Bên B trách nhiệm giao hàng cho bên A trong
vòng 12 ngày. Thời gian giao hàng được tính từ ngày bên B nhận được 40% tiền
cọc của bên A. Trong trường hợp, bên B giao hàng không đúng hẹn như trên hợp
đồng, thì bên B trách nhiệm bồi thường 5% mỗi ngày trên tổng giá trị đơn hàng
cho bên A. Từ khi phía bên A chuyển đủ tiền đặt cọc 1.580.000.000 đồng cho bên
B thì bên B nại ra nhiều do đkhông giao hàng hoặc gửi sản phẩm thay thế
nhưng không đạt đúng yêu cầu hàng mẫu như lúc ban đầu đã thống nhất giữa hai
bên nên bên A không chấp nhận.
Ngày 26/02/2020, bên A và bên B đã ký kết “Biên bản thanh lý hợp đồng” với
nội dung: Bên B đồng ý hoàn trả số tiền 1.580.000.000 đồng cho bên A nhưng đến
nay bên B vẫn chưa thanh toán.
Đến ngày 07/5/2020, công ty V nhân ông Trương Vỹ H đã tự ý ký thêm
01 Hợp đồng mua bán hàng hóa, theo đó ông Trương Vỹ H tự ý “chuyển toàn b
số tiền 1.580.000.000 đổng đã thanh toán theo hợp đồng số 14022020/TY-VN (ủy
nhiệm chi ngày 14/02/2020 của công ty T tại Ngân hàng A), kèm theo tiền lãi của
số tiền này tính từ ngày 14/02/2020 đến ngày 07/5/2020 15.158.125 đồng, tổng
cộng 1.595.158.125 đồng sang thanh toán cho hợp đồng này”. Nhưng các thành
viên góp vốn của Công ty TNHH T (Công ty T) không đồng ý ký kết hợp đồng này
nên không được Công ty T đóng dấu, ban hành. Đây chỉ hợp đồng dự thảo giữa
ông Trương Vỹ H nên nhân ông Trương Vỹ H phải tự chịu trách nhiệm đối với
hợp đồng này, không liên quan gì đến pháp nhân của Công ty T.
Tại phiên tòa, nguyên đơn công ty T xác định hợp đồng mua bán hàng hóa số
14022020/TY-VN ngày 14/02/2020 đã chấm dứt theo “Biên bản thanh lý hợp đồng
ngày 26/02/2020” nên công ty T không yêu cầu Tòa án tuyên bố hủy bỏ hợp đồng
mua bán hàng hóa số 14022020/TY-VN ngày 14/02/2020. Nguyên đơn chỉ còn các
yêu cầu:
1. Tuyên hợp đồng mua bán hàng hóa (Không số) kết ngày 07/5/2020
giữa Công ty TNHH V và nhân ông Trương Vỹ H hiệu giải quyết hợp
đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.
2. Buộc Công ty TNHH V phải trả cho Công ty T số tiền 1.580.000.000 đồng
của việc thanh hợp đồng 14022020/TY-VN ngày 14/02/2020 tiền lãi tính từ
3
ngày 27/02/2020 với lãi suất theo quy định pháp luật. Trường hợp Hội đồng xét x
chấp nhận yêu cầu tính lãi thì nguyên đơn đồng ý tính lãi với lãi suất 10%/năm theo
quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự tính từ ngày 27/02/2020 cho đến thời điểm
xét xử.
Bị đơn Công ty TNHH V ông Ngô Quốc Minh K người đại diện theo
pháp luật và có ông Lê Thành C là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Công ty V xác nhận ngày 14/02/2020 kết hợp đồng mua bán hàng hóa
số 14022020/TY-VN với công ty T ngày 26/02/2020, công ty V công ty T
cùng nhau thỏa thuận thống nhất hủy bỏ Hợp đồng Mua Bán số 14022020/TY-VN
ngày 14/02/2020. Công ty V đồng ý hoàn trả cho công ty T số tiền đã cọc
1.580.000.000 (Một tỷ, năm trăm tám mươi triệu) đồng. Tuy nhiên, công ty V chưa
thực hiện việc trả tiền cho công ty T thì đến ngày 07/05/2020, Công ty V (Bên A)
Hợp đồng mua bán hàng hóa với công ty T (Bên B), nội dung như sau: Đối
tượng của của hợp đồng 367.125 bộ thân chai PET trong suốt đầu xịt 20, loại
100ml, với tổng giá trị hợp đồng đã bao gồm VAT 10% 1.595.158.125 (Một tỷ,
năm trăm chín mươi lăm triệu, một trăm năm mươi tám nghìn, một trăm hai mươi
lăm) đồng.
Về phương thức thanh toán, Bên B thanh toán cho Bên A bằng cách chuyển số
tiền 1.580.000.000 (Một tỷ, năm trăm tám mươi triệu) đồng đã thanh toán theo Hợp
đồng số 44022020/TY-VN ngày 14/02/2020 (Ủy nhiệm chi ngày 14/02/2020 của
Công ty T tại Ngân hàng A), kèm theo tiền lãi của s tiền này tính từ ngày
14/02/2020 đến ngày 07/05/2020 là 15.158.125 (Mười lăm triệu, một trăm năm
mươi tám nghìn, một trăm hai mươi lăm) đồng, tổng cộng 1.595.158.125 (Một
tỷ, năm trăm chín mươi lăm triệu, một trăm năm mươi tám nghìn, một trăm hai
mươi lăm) đồng sang thanh toán cho hợp đồng y. Vthời hạn giao hàng, chia
làm 2 đợt giao vào ngày 11/05/2020 (150.000 chai đầu xịt), ngày 29/05/2020
(217.125 thân chai), riêng đầu xịt sẽ giao trong vòng 15 ngày kể từ ngày
29/05/2020.
Ngày 28/05/2020, Bên A gửi Thông báo v/v tiếp tục thực hiện Hợp đồng mua
bán hàng hóa đến Bên B. Với nội dung đnghị Bên B hoàn tất đóng dấu công ty,
để Bên A sở pháp giao hàng cho Bên B theo đúng thời hạn hợp đồng, nếu
Bên B không thực hiện thì Bên A không nghĩa vụ phải giao hàng cho Bên B,
đồng thời không phải chịu trách nhiệm đối với bất K tổn thất nào xảy ra.
Ngày 17/06/2020, Bên A gửi Thông báo lần 2 v/v tiếp tục thực hiện Hợp đồng
mua bán hàng hóa đến Bên B. Với nội dung đề nghị Bên B tiếp nhận hàng đợt 1
theo hợp đồng. Trường hợp Bên B không tiếp nhận hàng trong vòng 07 (Bảy)
ngày kể từ ngày được giao hàng mà Bên B không có bất K phản hồi nào, thì căn cứ
quy định tại Khoản 7.2 Điều 7 Hợp đồng mua bán hàng hóa ngày 07/05/2020 xem
như Bên B đã đơn phương chấm dứt hợp đồng, đồng thời đối với mọi quyền lợi của
Bên B thì n A không chịu trách nhiệm, bên B cũng không được quyền tranh
chấp, khiếu nại gì về sau.
Ngày 24/06/2020, Bên A gửi Thông báo lần 3 v/v tiếp tục thực hiện Hợp đồng
mua bán hàng hóa đến Bên B. Với nội dung Bên B không bất K phản hồi nào
khi nhận được các thông báo trước từ Bên A, đồng thời đề nghị Bên B tiếp tục thực
4
hiện Hợp đồng mua bán hàng hóa ngày 07/05/2020 bằng việc tiếp nhận đơn hàng
đầu tiên do Bên A giao theo hợp đồng.
Trường hợp Bên B không tiếp nhận hàng trong vòng 07 (Bảy) ngày kể từ
ngày được giao hàng Bên B không bất K phản hồi nào, thì căn cứ quy định
tại Khoản 7.2 Điều 7 Hợp đồng mua bán hàng hóa ngày 07/05/2020 xem như Bên
B đã đơn phương chấm dứt hợp đồng, đồng thời đối với mọi quyền lợi của Bên B
thì Bên A không chịu trách nhiệm, Bên B cũng không được quyền tranh chấp,
khiếu nại gì về sau.
Ngày 22/07/2020, vào lúc 14 giờ 00 phút, Bên A ủy quyền cho bà Ngô Ái Mỹ
N giao Thông báo lần cuối v/v tiếp tục thực hiện Hợp đồng mua bán hàng hóa lập
ngày 22/7/2020 của Bên A. Đồng thời u cầu Văn phòng Thừa phát lại Quận T,
đại diện ông Trịnh Văn T tiến hành lập Vi bằng số 584/2020/VB-TPLQ.TĐ lập
ngày 27/7/2020.
Ngày 24/07/2020, ông Tham Đ2 - Giám đốc công ty T gửi Thư phản hồi
Bên A yêu cầu bên A thanh toán 1.595.158.125 (Một tỷ, năm trăm chín mươi lăm
triệu, một trăm năm mươi tám nghìn, một trăm hai mươi lăm) đồng cho Bên B.
Công ty V xác định Hợp đồng mua bán hàng hóa ngày 07/05/2020 hiệu
lực thi hành, bởi vì: Việc hai bên đã thống nhất chấm dứt Hợp đồng mua bán số
14022020/TY-VN ngày 14/02/2020 và kết Hợp đồng mua bán hàng hóa ngày
07/05/2020 cho thấy ý chí ràng của cả hai bên chấm dứt quan hệ hợp đồng
và bắt đầu một mối quan hệ hợp đồng mới.
- Thẩm quyền người ký kết: Việc ông Trương Vỹ H ký kết hợp đồng mua bán
hàng hóa ngày 07/05/2020 là phù hợp với quy định thẩm quyền của người đại diện
theo pháp luật của công ty kết hợp đồng. Bên cạnh đó, từ ngày 14/02/2020 đến
22/07/2020, ông giám đốc Trương Vỹ H đã nhiều lần đại diện cho công ty T ký kết
các hợp đồng, biên bản thanh hợp đồng đã được công ty T thực hiện. Các
thành viên góp vốn của công ty T (Bên B) cho rằng không đồng ý ký kết Hợp đồng
mua bán hàng hóa ngày 07/05/2020, nhưng trong thời gian dài từ 07/05/2020, Bên
B hoặc các thành viên góp vốn của Bên B hoàn toàn không thông báo mặc dù công
ty V (Bên A) đã gửi thông báo rất nhiều lần đến Bên B. Điều này cho thấy rằng các
thành viên góp vốn đã biết chấp thuận việc Giám đốc quyền kết các hợp
đồng.
- Khoản 3 Điều 43 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Doanh nghiệp sử
dụng dấu trong các giao dịch theo quy định của pháp luật”. Việc ông Giám đốc
Trương Vỹ H tên trên hợp đồng, tuy không đóng dấu của Công ty T nhưng
điều đó không nghĩa hợp đồng không phát sinh hiệu lực ràng buộc quyền
nghĩa vụ của công ty T.
- Việc thực hiện nghĩa vụ của Bên A: Bên A đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ
theo hợp đồng, bao gồm việc thông báo giao hàng, yêu câu Bên B xác nhận hợp
đồng tiếp nhận hàng, chứng tỏ thiện chí thực hiện hợp đồng. Đồng thời Bên A
đã tiến hành lập vi bằng chứng minh Bên A đã cố gắng hết khả năng để giao hàng
nhưng bị từ chối.
5
- Việc không hợp tác của Bên B: Bên B không tiếp nhận hàng hóa mua bán đã
vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và khiến Bên A rơi vào tình huống khó xử. Hành vi của
Bên B đã y thiệt hại cho Bên A, bao gồm việc hàng hóa tồn kho, chi phí bảo
quản và các chi phí phát sinh khác.
Từ những do nêu trên, bị đơn Công ty V không đồng ý với yêu cầu của
nguyên đơn Công ty T. Bị đơn xác định Hợp đồng mua bán hàng hóa ngày
07/5/2020 giữa Công ty V ng ty T hiệu lực pháp luật. Do Công ty T đơn
phương chấm dứt hợp đồng nên phải chịu mất toàn bộ số tiền 1.580.000.000 (Một
tỷ năm trăm tám mươi nghìn) đồng (Chuyển từ tiền thanh Hợp đồng mua bán số
14022020/TY-VN ngày 14/02/2020). Bị đơn xác định ông Ngô Quốc Minh K
người đại diện theo pháp luật của công ty V không thừa nhận việc ông Tham Vĩ Đ2
trình bày ngày 17/9/2020, ông Ngô Quốc Minh K đã đồng ý trả lại số tiền theo
biên bản thanh hợp đồng 1.580.000.000 (Một tỷ năm trăm tám mươi triệu)
đồng cho ng ty T.
Trong thời gian Hội đồng xét xử nghị án, vào ngày 09/10/2025, công ty V do
ông Ngô Quốc Minh K là người đại diện theo pháp luật gửi “Đơn yêu cầu”, đề nghị
Hội đồng xét xử áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp thương mại
02 năm kể từ thời điểm quyền lợi ích hợp pháp bị xâm phạm quy định tại Điều
319 Luật Thương mại 2005, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết vụ án do
hết thời hiệu khởi kiện. Đồng thời yêu cầu tuyên bố hợp đồng mua bán hàng hóa
ngày 07/5/2020 vô hiệu cũng đã hết thời hạn
Người làm chứng ông Tham Đ2 trình bày: Vào lúc 14 giờ ngày 22/7/2020,
tại địa chỉ số Đường số C, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ
Chí Minh trụ sở công ty T , ông Đ2 gặp chị N 01 anh không họ tên báo
đại diện phía công ty V đến gửi thông báo giao nhận hàng lần cuối, yêu cầu
phía công ty T thực hiện việc giao hàng theo hợp đồng mua bán hàng hóa do ông H
vào ngày 07/05/2020. Lúc đó ông Đ2 đã phản hồi nhận thông báo để xác
nhận lại với cấp trên và sẽ liên hệ ông K để giải quyết vụ việc trên.
Vào ngày 24/7/2020, phía công ty T gửi thư phản hồi không chấp nhận v
thông báo yêu cầu nhận hàng từ phía công ty V. Sau đó, ông Đ1 đã nhiều lần gọi
điện để thể trao đổi với ông K để giải quyết về vụ việc trên. Ngày 17/9/2020,
ông K gửi tin nhắn cho ông Đ1 hẹn gặp để giải quyết vào chiều thứ bảy lúc 15
giờ ngày 19/9/2020 tại văn phòng công ty tại địa chỉ số Đường số D, Khu đô thị V,
thành phố Thủ Đức. Ông Đ1 ông K đã gặp thương lượng, phía công ty V đã
đồng ý trả lại cho công ty T số tiền theo biên bản thanh hợp đồng
1.580.000.000 (Một tỷ năm trăm tám mươi triệu) đồng, nhưng không lập biên
bản. Sau đó, ông Đ1 không thể liên hđược với ông K. Công ty V cũng không
bất K phản hồi nào nữa. Ông Đ1 đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Công ty T.
Tại phần Quyết định, Bản án kinh doanh thương mại thẩm số
198/2025/KDTM-ST ngày 13/10/2025 của a án nhân dân Khu vực 2 đã tuyên
như sau:
6
1. Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn công ty T về việc hủy bỏ “Hợp đồng mua
bán hàng hóa số 14022020/TY-VN ngày 14/02/2020” kết giữa công ty T
công ty V .
2. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn Công ty T. Buộc bị đơn Công
ty V hoàn trả cho Công ty T số tiền 1.580.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm tám
mươi triệu đồng) theo “Biên bản thanh hợp đồng” ngày 26/02/2020 thanh đối
với “Hợp đồng mua bán hàng hóa số 14022020/TY-VN ngày 14/02/2020”.
Các bên thực hiện thanh toán tiền ngay sau khi bản án hiệu lực pháp luật,
tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định
tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn công ty T về việc yêu cầu tuyên bố hợp
đồng mua bán hàng hóa ngày 07/5/2020 hiệu giải quyết hậu quả hợp đồng
vô hiệu.
Ngoài ra, bn án còn tuyên v án p và quyn kháng cáo ca các đương sự.
Ngày 17/10/2025, bị đơn công ty V kháng cáo bản án thẩm đề nghị sửa
Bản án sơ thẩm, đình chỉ vụ án vì đã hết thời hiệu khởi kiện.
Ngày 27/10/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 kháng nghị,
đề nghị hủy Bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các đương sự giữ nguyên ý kiến yêu cầu nêu trên. Ngày 21/4/2026 Viện
kiểm sát nhân dân Khu vực 2 quyết định số 601/QĐ-VKS-DS về việc rút quyết
định kháng nghị phúc thẩm.
Đại din Vin kim t nhân dân Thành phố HChí Minh phát biểu ý kiến:
Qua kiểm sát vụ án từ khi thụ vụ án đến thời điểm này thấy rằng Thẩm
phán đã chấp hành đúng quy định về thẩm quyền giải quyết vụ án, Tòa án có quyết
định đưa vụ án ra xét xử và gửi hcho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn,
cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng Viện kiểm sát
theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay, phiên
tòa tiến hành đúng trình tự pháp luật T tụng dân sự.
Về nội dung: n cứ Khoản 2 Điều 308 B luật Tố tụng n sự m 2015 sửa
đổi, bổ sung năm 2025, chấp nhận một phn kng cáo của bị đơn, sửa một phần Bản
án sơ thẩm s198/2025/KDTM-ST ngày 13/10/2025 của Tòa án nhân n Khu vự 2,
Thành phố Hồ C Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa; nghe ý kiến ca các đương sự; ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân n
Thành phố Hồ Chí Minh về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ
7
án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Vhình thức thời hạn kháng cáo: Ngày 13/10/2025, Toà án nhân dân
Khu vực 2 ban hành Bản án số 198/2025/KDTM-ST. Ngày 17/10/2025, bị đơn có
đơn kháng cáo. Ngày 27/10/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2
kháng nghị. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 273 khoản 1 Điều 280 Bộ
Luật Tố tụng dân sự 2015 thì kháng cáo của bị đơn và kháng nghị của Viện kiểm
sát nhân dân Khu vực 2 là còn trong thời hạn nên chấp nhận.
[2] Về tố tụng:
Nguyên đơn Công ty TNHH T khởi kiện tranh chấp hợp đồng mua bán đối
với bị đơn là Công ty TNHH V, có địa chỉ phường H, Thành phố Hồ Chí Minh nên
căn cứ Khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 36; điểm a
Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Nghị quyết số 225/2025/QH15
ngày 27/6/2025 của Quốc hội, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân
dân thành phố Thủ Đức nay a án nhân dân Khu vực 2 Thành phố Hồ Chí
Minh. Do có kháng cáo đối với Bản án sơ thẩm n căn cứ điểm b khoản 3 Điều 38
Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 225/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc
hội, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết vụ án theo
thủ tục phúc thẩm.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo:
Hội đồng xét xử xét kháng cáo của bị đơn cho rằng vụ án đã hết thời hiệu khởi
kiện như sau:
Tại Đơn khởi kiện ngày 23/7/2024 được gửi đến Tòa án nhân dân thành phố
Thủ Đức (nay Tòa án nhân dân Khu vực 2) cùng ngày, nguyên đơn công ty T
3 yêu cầu khởi kiện như sau:
1. Tuyên hủy Hợp đồng mua bán hàng hóa số 14022020/TY-VN ngày
14/02/2020 giữa công ty V và công ty T.
2. Tuyên Hợp đồng mua bán hàng hóa ngày 07/5/2020 giữa công ty V
ông Trương Vỹ H hiệu giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu theo quy
định pháp luật.
3. Buộc công ty V phải trả cho công ty T 2.894.560.000 đồng gồm
1.580.000.000 đồng tiền gốc và 1.314.560.000 đồng tiền lãi.
Vụ án được xét xử vào các ngày 22/9/2025, ngày 07 ngày 13/10/2025.
Ngày 09/10/2025 tại phiên tòa sơ thẩm, bđơn đã đưa ra yêu cầu áp dụng thời
hiệu và đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ vụ án. Yêu cầu này của bị đơn là phù hợp
với quy định tại khoản 2 Điều 149 Bộ luật Dân sự năm 2015 (yêu cầu áp dụng thời
hiệu phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết
vụ việc). Vì vậy, yêu cầu áp dụng thời hiệu của bị đơn là có cơ sở để xem xét.
Hội đồng xét xử xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
(1) Nguyên đơn yêu cầu hủy hợp đồng mua bán hàng hóa số 14022020/TY-
VN ngày 14/02/2020 đồng. Tại phiên tòa, Nguyên đơn đã tự nguyện rút một phần
yêu cầu khởi kiện về việc hủy Hợp đồng mua bán hàng hóa số 14022020/TY-VN
ngày 14/02/2020 nên Hội đồng xét xử thẩm đã đình chỉ một phần yêu cầu khởi
8
kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015.
(2) Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc Tuyên Hợp đồng mua
bán hàng hóa ngày 07/5/2020 giữa công ty V ông Trương Vỹ H hiệu giải
quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 07/5/2020, công ty V và ông Trương Vỹ H
đại diện pháp luật của công ty T hợp đồng mua bán hàng hóa. Hợp đồng ngày
07/5/2020 chưa được công ty T đóng dấu phát hành. Căn cứ khoản 3 Điều 43 Luật
Doanh nghiệp năm 2020 quy định “Doanh nghiệp sử dụng dấu trong các giao dịch
theo quy định của pháp luật”. Như vậy, việc sử dụng dấu Doanh nghiệp trong giao
dịch không phải là quy định bắt buộc tùy vào thỏa thuận của các bên. Hội đồng
xét xử xem xét về thỏa thuận của các bên trong giao dịch cụ thể này như sau: Ngày
28/5/2020, Công ty V có Thông báo gửi đến công ty T với nội dung như sau:
Vào ngày 07/5/2020, Công ty TNHH V (gọi tắt công ty V) Công ty
TNHH T (gọi tắt là Công ty T) có ký với nhau Hợp đồng mua bán hàng hóa vviệc
mua bán sản phẩm: Thân chai PET trong suốt dầu xịt phi 20 loại 100ml. Tuy
nhiên, người đại diện của công ty T là ông Trương Vỹ H chỉ mới ký tên và điểm chỉ
trên hợp đồng mà chưa đóng dấu pháp nhân của công ty T vào hợp đồng này.
Căn cứ theo Hợp đồng mua bán hàng hòa nêu trên thì đợt giao hàng đầu tiên
là vào ngày 11/5/2020. Tuy nhiên, do hiện nay hợp đồng chưa được đóng dấu pháp
nhân của công ty T nên công ty V chưa sở pháp đgiao hàng cho công ty
T được.”
Điều này chứng tỏ, mặc pháp luật không quy định bắt buộc nhưng cả hai
công ty T V đều tập quán thương mại xác định hợp đồng chỉ phát sinh hiệu
lực khi đóng dấu của pháp nhân. Không chcông ty T không công nhận hợp
đồng này vì không được công ty đóng dấu mà phía V cũng không công nhận giá trị
hợp đồng khi không thực hiện trách nhiệm giao hàng phát sinh từ hợp đồng ngày
07/5/2020 thể hiện qua rất nhiều thông báo và đề nghị đóng dấu hợp đồng nêu trên.
Tại thời điểm diễn ra giao dịch, nếu V chấp nhận tính pháp của hợp đồng không
dấu pháp nhân phía T thì V phải thực hiện nghĩa vụ giao hàng theo lập luận
của V toàn bộ số tiền mua hàng đã thanh toán xong bằng hình thức cấn trừ nợ. Tuy
nhiên, các tài liệu chứng cứ tại phiên tòa phía V cũng xác định không thực hiện
nghĩa vụ giao hàng thực tế nào. Các thông báo ngày 17/6/2020, ngày 24/6/2020 đều
chỉ nêu đề nghị ng ty T tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán hàng a ngày
07/5/2020 nêu trên, đề nghị công ty T tiếp nhận đơn hàng đầu tiên” không
bất K hành vi giao hàng c thể. Tại Điều 7 của Hợp đồng 07/5/2020 cũng chỉ ghi
nhận “Khi hàng đã đến địa điểm giao hàng mà bên B hủy đơn hàng hoặc cố tình từ
chối nhận hàng hoặc trì hoãn việc nhận hàng thì bên B vẫn phải thanh toán tiền
mua hàng đủ cho bên A, chịu thêm chi phí vận chuyển, lưu giữ hàng tại kho bãi,
bên B còn phải chịu phạt với số tiền tương ứng 8% (tám phần trăm) giá trị đợt
hàng đó...”. Như thỏa thuận này thì trách nhiệm của bên A giao hàng bên B
nghĩa vụ nhận hàng thanh toán. Bên B nhận hàng hay không vẫn phải
thanh toán tiền mua hàng đủ cho bên A. vậy, căn cứ để xác định Hợp đồng
07/5/2020 chưa được các bên giao kết hoàn chỉnh chưa thực hiện. Số tiền
9
1.580.000.000 đồng đã thanh toán theo Hợp đồng số 14022020/TY-VN ngày
14/02/2020 chưa được chuyển giao từ biên bản thanh ngày 26/02/2020 sang hp
đồng ngày 07/5/2020.
Kể từ ngày 27/7/2020 công ty V lập vi bằng thể hiện thông báo liên quan đến
thực hiện hợp đồng 07/5/2020 đến ngày Nguyên đơn khởi kiện 23/7/2024 trên 2
năm nên cũng hết thời hiệu yêu cầu tuyên giao dịch hiệu theo quy định tại Điều
132 Bộ luật Dân sự m 2015. Cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết yêu cầu của nguyên
đơn về việc tuyên Hợp đồng mua bán hàng hóa ngày 07/5/2020 hiệu phù hợp
với quy định tại điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
(3) Xét yêu cầu hoàn trả tiền của nguyên đơn căn cứ theo Biên bản thanh
ngày 26/02/2020: Hợp đồng mua bán hàng hóa số 14022020/TY-VN ngày
14/02/2020 các bên đã thống nhất chấm dứt và Biên bản thanh ngày
26/02/2020 xác định thỏa thuận về việc giải quyết các quyền nghĩa vụ mới. Do
đó, quyền và nghĩa vụ của các bên sẽ căn cứ trên Biên bản thanh lý này chứ không
căn cứ vào Hợp đồng mua bán hàng hóa số 14022020. Điều 429 Bộ luật Dân sự
2015 quy định thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp hợp đồng 03 năm kể từ
ngày người quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền lợi ích hợp pháp của
mình bị xâm phạm. Hội đồng xét x xét thấy, tại Biên bản thanh ngày
26/02/2020, các bên không thỏa thuận về thời hạn bị đơn phải trả tiền cho nguyên
đơn. Tuy nhiên, sau đó, tại Thư phản hồi ngày 24/7/2020 do chính công ty T
nguyên đơn gửi cho công ty V, bđơn thể hiện nội dung Chúng tôi yêu cầu
Công ty TNHH V (gọi tắt là Công ty V) trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày phát hành
văn bản này (chậm nhất 14h ngày 27/07/2020) có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ, đầy
đủ số tiền (kèm lãi) 1.595.158.125 đồng...”. Tại bản tự khai ngày 06/5/2025, ông
Tham Đ2 đại diện của công ty T một lần nữa trình bày sau khi công ty T gửi
Thư phản hồi, ngày 17/9/2020, ông K là giám đốc công ty V hẹn ông ngày
19/9/2020 gặp nhau để thảo luận về hợp đồng hoàn tiền, ông K đã hứa hoàn trả
cho thời hạn 1 tuần. Sau đó ông K không thực hiện lời hứa nên ngày 10/11/2010
ông đã nhắn tin để hẹn gặp ông K nhưng không liên lạc được. Như vậy, có cơ sở để
xác định ngày 27/09/2020 (thời hạn ông K hứa trả trong 1 tuần từ ngày 19/9/2020)
ngày nguyên đơn biết v quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Nhưng từ ngày 27/9/2020 đến ngày 23/7/2024 nguyên đơn mới nộp đơn khởi kiện
mà không trình bày được bất K sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nào
khiến nguyên đơn không thực hiện được quyền khởi kiện của mình. Thời hạn 3
năm được tính từ ngày 27/9/2020 đến ngày 26/9/2023, kể cả trường hợp tính từ
ngày 10/11/2020 lần cuối ông Đ1 liên lạc với ông K để trao đổi về việc yêu cầu
thanh toán thì hạn chót của thời hạn 3 năm cũng chỉ đến hết ngày 09/11/2023. Tại
phiên tòa, nguyên đơn trình bày đã nhiều lần đòi nợ với bị đơn cũng như đến
quan công an tố cáo hành vi lừa đảo của bị đơn để xác định nguyên đơn liên tục
yêu cầu bị đơn thanh toán tiền. Nhưng nguyên đơn không cung cấp được bất K tài
liệu chứng cứ nào chứng minh đã thực hiện việc đòi tiền sau thời điểm ngày
27/9/2020. Ngày 23/7/2024 nguyên đơn mới khởi kiện tranh chấp đối với Biên bản
thanh lý ngày 26/02/2020 đã hết thời hiệu theo quy định tại Điều 429 B luật
Dân sự năm 2015 như đã phân tích. Tuy nhiên, số tiền 1.580.000.000 đồng tài
sản của nguyên đơn đã được bđơn xác nhận cam kết hoàn trả theo Biên bản
thanh ngày 26/02/2020. Như đã phân tích tại phần (2) nêu trên, không sự
10
chuyển giao thực tế nào về quyền nghĩa vụ từ Bản thỏa thuận thanh ngày
26/02/2020 sang Hợp đồng ngày 07/5/2020. Do đó, số tiền gốc của nguyên đơn
1.580.000.000 mà bị đơn cam kết thanh toán theo bản thỏa thuận 26/02/2020 vẫn là
tài sản của nguyên đơn và bị đơn thừa nhận nghĩa vụ hoàn trả của mình tại bản thỏa
thuận này. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 155 Bộ luật Ttụng dân sự, việc đòi lại số
tiền này của nguyên đơn thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Cấp
thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn thanh
toán số tiền 1.580.000.000 đồng, không chấp nhận yêu cầu thanh toán tiền lãi
căn cứ và đúng quy định pháp luật.
(4) Bản án thẩm không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền lãi 1.314.560.000 (một tỷ ba trăm mười bốn
triệu năm trăm sáu mươi nghìn) đồng nhưng không nhận định không nêu tại
phần quyết định của Bản án, không buộc nguyên đơn chịu án phí đối với phần yêu
cầu không được chấp nhận này sai sót. Hội đồng xét xử phúc thẩm bổ sung
nội dung này như sau: Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn vviệc buộc bị
đơn thanh toán số tiền lãi 1.314.560.000 đồng. Nguyên đơn phải chịu án phí trên số
tiền yêu cầu không được chấp nhận là 51.436.800 (năm mươi mốt triệu bốn trăm ba
mươi sáu nghìn tám trăm) đồng.
Kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ để chấp nhận.
Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 đã rút kháng nghị.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phù
hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
vậy, Hội đồng xét xử sửa Bản án thẩm của Tòa án nhân dân Khu vực 2
như nhận định nêu trên.
[4] Về án phí:
Án phí sơ thẩm được điều chỉnh như nhận định nêu trên.
Do sửa bản án thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí phúc
thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 36; điểm a Khoản
1 Điều 39, Khoản 1 Điều 147, Điều 184, điểm g khoản 1 Điều 217, Điều 220, Điều
227, Điều 228, Điều 232, khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều
278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Nghị quyết số 225/2025/QH15 ngày 27/6/2025 ca Quốc hội,
- Khoản 2 Điều 149, Điều 132, Điều 155, Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015;
- Khoản 3 Điều 43 Luật Doanh nghiệp năm 2020;
- Ngh quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân Tối cao;
11
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017;
- Luật Thi hành án dân sự;
Xử:
Sửa Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 198/2025/KDTM-ST ngày
13/10/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2:
1. Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn Công ty TNHH T về việc hủy bỏ “Hợp
đồng mua bán hàng hóa số 14022020/TY-VN ngày 14/02/2020” kết giữa công
ty T và công ty V .
2. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn Công ty TNHH T. Buộc bị
đơn Công ty TNHH V hoàn trả cho Công ty TNHH T số tiền 1.580.000.000 đồng
(Một tỷ năm trăm tám mươi triệu đồng) theo “Biên bản thanh hợp đồng” ngày
26/02/2020 thanh lý đối với Hợp đồng mua bán ng hóa s 14022020/TY-VN
ngày 14/02/2020”.
Các bên thực hiện thanh toán tiền ngay sau khi bản án hiệu lực pháp luật,
tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định
tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Công ty TNHH T về việc buộc
bị đơn Công ty TNHH V thanh toán số tiền lãi 1.314.560.000 (một tỷ ba trăm mười
bốn triệu năm trăm sáu mươi nghìn) đồng.
4. Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn Công ty TNHH T về việc yêu cầu tuyên
bố hợp đồng mua bán hàng hóa ngày 07/5/2020 hiệu giải quyết hậu quả
hợp đồng vô hiệu.
5. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
- Công ty TNHH V phải chịu số tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là
59.400.000 (Năm mươi chín triệu bốn trăm nghìn) đồng. Công ty TNHH V chưa
nộp án phí.
- Công ty TNHH T phải chịu án phí không giá ngạch 3.000.000 (Ba triệu)
đồng và án phí có giá ngạch 51.436.800 (năm mươi mốt triệu bốn trăm ba mươi sáu
nghìn tám trăm) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp
44.945.600 (Bốn mươi bốn triệu chín trăm bốn mươi lăm nghìn sáu trăm) đồng
theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ pTòa án số 0044058 ngày 11/10/2024 của
Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức nay là Phòng Thi hành án Khu vực
2 Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty TNHH T còn phải nộp thêm 9.491.200 (chín
triệu bốn trăm chín mươi mốt nghìn hai trăm) đồng.
6. Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:
12
Hoàn trả cho Công ty TNHH V số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp
2.000.000 (hai triệu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0031577 ngày 28
tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu
cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo
quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- Tòa Phúc thẩm TANDTC tại Tp. Hồ
Chí Minh;
- VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
- Viện Công tố và kiểm sát xét xử
phúc thẩm tại Tp. Hồ Chí Minh;
- TAND khu vực 2 Tp. Hồ Chí Minh;
- Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2
Tp. Hồ Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu: VP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phùng Thị Như Mai
Tải về
Bản án số 178/2026/KDTM-PT Bản án số 178/2026/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 178/2026/KDTM-PT Bản án số 178/2026/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất