Bản án số 550/2026/DS-PT ngày 25/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 550/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 550/2026/DS-PT ngày 25/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 550/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Mai Thị Bé L - Bùi Thị D
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 550/2026/DS-PT Bản án số 550/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 550/2026/DS-PT Bản án số 550/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 550/2026/DS-PT
Ngày: 25/6/2026
V/v tranh chấp “Chia tài sản
chung của hộ”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Tính.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng.
Ông Lê Thành Tôn.
- Thư phiên tòa: Thị Hồng Linh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Ông Bùi Văn Bình - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09/02/2026, 09/3/2026, 09/4/2026, 05/6/2026, 18/6/2026,
22/6/2026 25/6/2026 tại trsở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp t xử phúc
thẩm công khai vụ án thụ số: 1063/2025/TLPT-DS ngày 31 tháng 12 năm
2025 về việc tranh chấp “Chia tài sản chung của hộ”.
Do bản án dân sự thẩm số: 150/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực xx - Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 407/2026/QĐ-PT ngày
15 tháng 01 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 320/2026/QĐ-
PT ngày 09 tháng 02 năm 2026; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số:
388/2026/QĐPT-DS ngày 09 tháng 3 năm 2026; Quyết định tạm ngừng phiên
tòa số: 449/2026/QĐPT-DS ngày 09 tháng 4 năm 2026; Thông báo vviệc thay
đổi thời gian mở phiên tòa xét xử phúc thẩm số: 427/TB-TA ngày 05 tháng 5
năm 2026; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 547/2026/QĐPT-DS ngày 05
tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Mai Thị L, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp A, xã T,
tỉnh Đồng Tháp. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Thị
Ngọc H, sinh năm 1966. Địa chỉ: Số A, khu phố H, phường T, tỉnh Đồng Tháp
(có mặt).
2. Bị đơn: Chị i Thị D, sinh năm 1980. Địa chỉ: Ấp A, T, tỉnh Đồng
Tháp. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Chị Trần Thị Cẩm T, sinh
năm 1996. Địa chỉ: Ấp M, xã T, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
3.1. Anh Mai Trọng N, sinh năm 2007. Địa chỉ: Ấp A, T, tỉnh Đồng
Tháp (vắng mặt).
3.2. Anh Mai Trọng H1, sinh năm 2011. Người đại diện theo pháp luật của
anh H1: Chị Bùi Thị D, sinh năm 1980. Cùng địa chỉ: Ấp A, T, tỉnh Đồng
Tháp (có mặt).
3.3. Anh Phan Văn H2, sinh năm 1976. Địa chỉ: Ấp A, T, tỉnh Đồng
Tháp (có mặt).
3.4. Nông trường T (Công ty Cổ phần R). Địa chỉ: Ấp T, xã L, tỉnh Đồng
Tháp. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Văn Đ, sinh năm 1969. Địa chỉ:
KM A QL A, xã L, tỉnh Đồng Tháp (xin vắng mặt).
4. Người kháng cáo: Bị đơn chị Bùi Thị D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo án sơ thẩm
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị
Mai Thị L cùng người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Thị
Ngọc H trình bày:
Vào ngày 01/01/1995 ông Mai Văn L1, sinh năm 1963 chết năm 2000
chồng của Nguyễn Thị N1, là cha ruột của chị Mai Thị Bé L và anh Mai Văn
N2 hợp đồng hộ nhận khoán đất trồng khóm của Nông trường T (Công ty cổ
phần R) đối với diện tích 1,32 ha 0,17 ha, tổng cộng diện tích 1,49 ha đất tọa
lạc tại ấp A, T, tỉnh Đồng Tháp (địa chỉ cũ: Ấp A, T, huyện T, tỉnh Tiền
Giang) lúc đó hộ gia đình nhận khoán đất gồm ông Mai Văn L1, bà Nguyễn Thị
N1, chị Mai Thị L, anh Mai Văn N2. Đến năm 2000 ông Mai n L1
Nguyễn Thị N1 chết. Đến ngày 15/5/2001 anh Mai Văn N2 đại diện hộ tiếp
hợp đồng hộ nhận khoán đất trồng khóm của Nông trường T với diện tích 1,49
ha lúc đó hộ gồm chị Mai Thị L, anh Mai Văn N2. Đến năm 2002 anh Mai
Văn N2 chuyển nhượng phần đất nhận khoán diện tích khoảng 3,2 ha cho người
khác, còn lại diện tích đất nhận khoán là 1,17 ha. Sau đó đến năm 2007 anh Mai
Văn N2 mới kết hôn với chị Bùi Thị D nhưng thành viên hộ nhận khoán đất vẫn
còn 02 thành viên anh Mai Văn N2 và chị Mai Thị L. Đến năm 2018 anh
Mai Văn N2 chết những người kế thừa quyền nghĩa vụ của anh Mai Văn
Nghĩa L2 chị Bùi Thị D cùng 02 con Mai Trọng NMai Trọng H1.
Chị Mai Thị Bé L khởi kiện yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của hộ chia
chị Mai Thị L anh Phan Văn H2 diện tích đất nhận khoán 5.430,7m
2
(diện tích đo đạc thực tế) đất nhận khoán từ Nông trường T trong tổng diện tích
14.110,2m
2
, đất tọa lạc tại ấp A, T, tỉnh Đồng Tháp (địa chỉ cũ: Ấp A, T,
huyện T, tỉnh Tiền Giang) các cây trồng, công trình trên đất do chị Mai Thị
L anh Phan Văn Hoàng T1 xây cất theo chứng thư thẩm định gngày
19/8/2025 của Công ty CP T2.
Chị Mai Thị Bé L không đồng ý yêu cầu khởi kiện phản tố của bị đơn chị
Bùi Thị D yêu cầu quản toàn bộ phần đất nhận khoán yêu cầu chị Mai Thị
3
Bé L và anh Phan Văn H2 bồi thường thiệt hại thành quả trên phần đất khoán do
chị Mai Thị Bé L và anh Phan Văn H2 đang canh tác.
Trong đơn khởi kiện phản tố, bản tự khai trong quá trình tố tụng bị
đơn chị Bùi Thị D cùng người đại diện theo ủy quyền chị Trần Thị Cẩm T trình
bày:
Chị Bùi Thị D không đồng ý với toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn chị Mai
Thị L anh Phan Văn H2. Chị Bùi Thị D yêu cầu phản tố công nhận
chị Bùi Thị D người có quyền sử dụng hợp pháp đối với diện tích 14.110,2m
2
(diện tích đo đạc thực tế) đất nhận khoán từ Nông trường T (Công ty cổ phần R),
theo biên bản giao nhận diện tích đất khoán ngày 10/4/2018. Buộc chị Mai Thị
L anh Phan Văn H2 di dời các công trình trên đất và chị Bùi Thị D được
hưởng hoa lợi từ cây trồng trên đất.
Trong bản tự khai và trong quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan anh Phan Văn H2 trình bày: Anh thống nhất với ý kiến, trình bày yêu
cầu khởi kiện của vợ anh là chị Mai Thị Bé L.
Trong văn bản Nông trường T (Công ty cổ phần R) trình bày:
Anh Mai Văn N2 hợp đồng hộ nhận khoán đất trồng khóm của Nông
trường T (Công ty cổ phần R) đất tọa lạc tại ấp A, xã T, tỉnh Đồng Tháp (địa chỉ
cũ: Ấp A, T, huyện T, tỉnh Tiền Giang) đến khi anh Mai Văn N2 bị tai nạn
giao thông chết năm 2018. Chị Bùi Thị D vợ anh Mai Văn N2 yêu cầu
Nông trường T (Công ty cổ phần R) xác nhận diện tích đất nhận khoán chuyển
qua tên chị Bùi Thị D tiếp tục canh tác. Nông trường T (Công ty cổ phần R) xem
xét chị Bùi Thị D người thừa kế gần nhất nên lập biên bản bàn giao phần
đất của anh Mai Văn N2 nhận khoán cho chị Bùi Thị D nhận khoán để có sở
Nông trường Tân Lập (Công ty cổ phần R) quản lý, còn đối với tài sản cây
trồng trên đất Nông trường T (Công ty cổ phần R) không ý kiến xin vắng
mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Bản án dân sự thẩm s150/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực xx Đồng Tháp, đã áp dụng:
Căn cứ các Điều 134, 135, 136, 138, 142, 143, 207, 208, 212, 218, 219,
500, 501, 502, 483, 484, 487, 488, 489, 649, 650, 651 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điều 100, 167, 168 Luật đất đai năm 2013; Điều 134, 135, 136, 137 Luật đất đai
năm 2024; Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Mai Thị Bé L.
1. Công nhận cây trồng, công trình trên đất diện tích đất 5.430,7m
2
(diện tích đo đạc thực tế) do chị Mai Thị Bé L nhận khoán; do chị Mai Thị Bé L
anh Phan Văn H2 trồng cây xây cất trên đất khoán theo chứng thư thẩm
định giá ngày 19/8/2025 của Công ty CP T2 trên diện tích đất 5.430,7m
2
(diện
tích đo đạc thực tế) trong phần đất nhận khoán từ Nông trường T (Công ty cổ
4
phần R) trong tổng diện tích 14.110,2m
2
, đất tọa lạc tại ấp A, T, tỉnh Đồng
Tháp (địa chỉ cũ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang) do chị Mai Thị Bé L và
anh Phan Văn Hoàng T1 và xây cất.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện phản tố của chị Bùi Thị D về
việc khởi kiện phản tố yêu cầu:
Công nhận cây trồng, công trình trên đất do anh Mai Văn N2 đã chết
những người kế thừa quyền nghĩa vụ của anh Mai Văn N2 gồm: Chị Bùi Th
D, Mai Trọng N Mai Trọng H1. Chị Bùi Thị D đại diện hợp pháp cho Mai
Trọng NMai Trọng H1. Cây trồng, công trình trên đất do anh Mai Văn N2
ch Bùi Thị D trồng xây cất trên diện tích đất 2.119,8m
2
diện tích đất
11.990,4m
2
(diện tích đo đạc thực tế) theo chứng thư thẩm định giá ngày
19/8/2025 của Công ty CP T2 diện tích đất 2.119,8m
2
diện tích đất
11.990,4m
2
(diện tích đo đạc thực tế) trong diện tích đất nhận khoán từ Nông
trường T (Công ty cổ phần R) trong tổng diện tích 14.110,2m
2
, đất tọa lạc tại ấp
A, T, tỉnh Đng Tháp (địa chỉ cũ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang) và
các cây trồng, công trình trên đất do anh Mai Văn N2chị Bùi Thị D trồng
xây cất theo chứng thư thẩm định giá ngày 19/8/2025 của Công ty CP T2.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện phản tố của chị Bùi ThD về việc
khởi kiện phản tố yêu cầu chị Mai Thị L anh Phan Văn H2 bồi thường
thiệt hại trên phần đất nhận khoán diện tích 5.430,7m
2
(diện tích đo đạc thực
tế) đất nhận khoán tNông trường T (Công ty cổ phần R) trong tổng diện tích
14.110,2m
2
, đất tọa lạc tại ấp A, T, tỉnh Đồng Tháp (địa chỉ cũ: Ấp A, T,
huyện T, tỉnh Tiền Giang).
Tất cả thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật, (có sơ đồ kèm theo).
4. Về chi phí tố tụng buộc bị đơn chị Bùi Thị D có nghĩa vụ trả chi phí tố
tụng cho nguyên đơn chị Mai Thị L số tiền chi phí thẩm định, đo đạc, định
giá số tiền 15.000.000 đồng, thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo nghĩa
vụ thi hành án của đương sự.
Ngày 14 tháng 10 năm 2025, bị đơn chị Bùi Thị D đơn kháng o yêu
cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp sửa bản án thẩm theo hướng không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Mai Thị Bé L. Chấp nhận yêu cầu
phản tố của bị đơn Bùi Thị D.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện bị đơn chị Bùi Thị D là chị Trần Thị Cẩm T tranh luận: Chị D
vẫn giữ yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn chị Mai Thị L. Do chị D người đứng tên trên
hợp đồng nhận khoán hiện tại nên chị D không khởi kiện, xin rút lại toàn bộ yêu
cầu khởi kiện phản tố đối với nguyên đơn chị Mai Thị L anh Phan Văn
H2.
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị Mai Thị L Thị
Ngọc H tranh luận: Chị D kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ
5
chứng minh cho nội dung kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp
nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn chị Bùi Thị D.
- Anh Phan Văn H2 tranh luận: Tôi thống nhất với lời trình bày và yêu
cầu của chị L do bà H đại diện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký,
Hội đồng xét xcác đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố
tụng Dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308
Bộ luật tố tụng dân sự hủy bản án dân sự sơ thẩm giao hồ sơ về Tòa án nhân dân
Khu vực xx Đồng Tháp xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát
viên và những quy định pháp luật, Tòa án nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Cấp thẩm xác định tranh chấp
dân sự về “Chia tài sản chung của hộ” theo quy định tại Điều 219 của Bộ luật
Dân sự là có căn cứ.
[2]. Xét thời hạn kháng cáo: Ngày 30/9/2025, Tòa án nhân dân Khu vực
xx - Đồng Tháp ban hành bản án số 150/2025/DS-ST, đến ngày 14 tháng 10
năm 2025, bị đơn chị Bùi Thị D nộp đơn kháng cáo. Như vậy, kháng cáo của bị
đơn còn trong thời hạn theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên
được xem xét.
[3]. Xét việc rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện phản tố của bị đơn chị Bùi Thị
D hoàn toàn tự nguyện, các đương scòn lại thống nhất nên Hội đồng xét xử
căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận việc rút yêu cầu
tuyên đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố.
[4]. Xét nội dung kháng cáo: Bị đơn chị Bùi Thị D yêu cầu cấp phúc thẩm
sửa bản án thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn Mai Thị Bé L.
[4.1]. Về yêu cầu chia đất của nguyên đơn chị Mai Thị Bé L:
Xét thấy, ông Mai Văn L1, sinh năm 1963 chết năm 2000, ông L1
chồng của bà Nguyễn Thị N1 N1 chết năm 2000; ông L1 N1 là cha mẹ
ruột của chị Mai Thị L anh Mai Văn N2. Vào ngày 01/01/1995 ông Mai
Văn L1 hợp đồng hộ nhận khoán đất trồng khóm của Nông trường T (Công
ty cổ phần R) đối với diện tích 1,32 ha 0,17 ha đất tọa lạc tại ấp A, xã T, tỉnh
Đồng Tháp (địa chỉ cũ: ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang) lúc đó hộ gia đình
nhận khoán đất trồng khóm gồm ông Mai Văn L1, Nguyễn Thị N1, chị Mai
Thị L, anh Mai Văn N2. Đến năm 2000 ông L1 N1 chết. Đến ngày
15/5/2001 anh Mai Văn N2 đại diện hộ tiếp hợp đồng hộ nhận khoán đất
6
trồng khóm của Nông trường T (Công ty cổ phần R) với diện tích 1,49 ha. Lúc
đó hộ nhận khoán còn lại gồm chị Mai Thị L anh Mai Văn N2. Đến năm
2002 anh Mai Văn N2 chuyển nhượng phần đất nhận khoán diện tích khoảng
0,32 ha cho người khác, còn lại diện tích đất nhận khoán 1,17 ha. Đến năm
2007 anh Mai Văn N2 kết hôn với chị Bùi Th D nhưng thành viên hộ nhận
khoán đất vẫn còn 02 thành viên anh Mai Văn N2 và chị Mai Thị L. Đến
năm 2018 anh Mai Văn N2 chết những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của anh
Mai Văn Nghĩa L2 chị Bùi Thị D vợ cùng 02 con Mai Trọng N Mai
Trọng H1. Chị Bùi Thị D là vanh Mai Văn N2 yêu cầu Nông trường T
(Công ty cổ phần R) xác nhận diện tích đất nhận khoán chuyển qua tên chị Bùi
Thị D tiếp tục canh tác. Nông trường T (Công ty cổ phần R) xem xét chị Bùi Thị
D người thừa kế gần nhất nên có lập biên bản bàn giao phần đất của ông Mai
Văn N2 nhận khoán cho chị Bùi ThD nhận khoán để cơ sở Nông trường T
(Công ty cổ phần R) quản lý, còn đối với tài sản cây trồng trên đất Nông
trường T (Công ty cổ phần R) không có ý kiến. Nông trường T (Công ty cổ phần
R) chỉ làm biên bản bàn giao đất nhận khoán cho chị Bùi Thị D c này chị Mai
Thị L cùng chồng anh Phan Văn H2 còn đang canh tác sử dụng phần đất
nhận khoán.
Chị L thành viên trong hộ của anh Mai Văn N2 từ ngày 15/5/2001, lúc
này anh N2 đại diện htiếp hợp đồng nhận khoán đất trồng khóm của Nông
trường T (Công ty cổ phần R) diện tích 1,49 ha. Qua xác nhận của Nông trường
T (Công ty cổ phần R) lúc chuyển tên qua chị D đứng tên nhận đất nhận khoán
từ hợp đồng do anh N2 ký thì chị L và anh H2 đang trồng cây trên đất và thực tế
chị L đã canh tác trên phần đất diện tích đất 5.430,7m
2
(diện tích đo đạc thực tế)
do anh N2 nhận khoán từ trước đó nhưng khi anh N2 còn sống không có yêu cầu
chị L trả đất và chị D cũng không có chứng cứ chứng minh anh N2 đòi đất do
chị L canh tác. Do đó, cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia cho chị L
phần đất diện ch đất 5.430,7m
2
(diện tích đo đạc thực tế) công trình, cây
trồng trên đất trong tổng diện tích 14.110,2m
2
, đất tọa lạc tại ấp A, T, tỉnh
Đồng Tháp do anh N2 đứng tên hộ nhận khoán là có căn cứ.
[4.2]. Chị D kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ
chứng minh cho yêu cầu của mình nên không sở để Hội đồng xét xử chấp
nhận.
[4.3]. Đến phiên tòa phúc thẩm, phần đất tranh chấp đã bị thu hồi để xây
dựng Khu công nghiệp T. Ủy ban nhân dân xã T 3, tỉnh Đồng Tháp đã ban hành:
Quyết định số 1711/QĐ-UBND ngày 25/11/2025 về việc “Phê duyệt phương án
bồi thường, hỗ trợ, tái định khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện Dự án đầu
xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp T”; Phương án số
236/PA-UBND ngày 25/11/2025 về việc “bồi thường, hỗ trợ, tái định khi
Nhà nước thu hồi đất để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu
hạ tầng Khu công nghiệp T”; Phương án chi tiết số 382/PACT-UBND ngày
25/11/2025 về việc “hỗ trợ hộ ông Mai Văn N2 (mất) Bùi Thị D (đại diện) để
thực hiện Dự án đầu xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công
nghiệp T” tổng số tiền hỗ trợ cho hộ anh Mai Văn N2 do Bùi Thị D đại diện
được nhận 6.293.366.460 đồng. Trong đó, trên phần đất tranh chấp do chị L
7
yêu cầu theo “Biên bản về việc kiểm đếm cây trái hoa màu bị thiệt hại để thực
hiện Dự án đầu xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp T
ngày 17/4/2025 của Ban quản dự án phát triển qũy đất huyện T, tỉnh Tiền
Giang (nay tỉnh Đồng Tháp) đối với hộ nhận khoán Bùi Thị D, trên đó phần
cây trồng do chị Mai Thị Bé L trồng trên diện tích 5.430,7 m
2
như sau:
1. Mít 778 cây, trong đó: cây cho thu hoạch ổn định 276, cây cho thu
hoạch chưa ổn định 275, cây chưa cho thu hoạch từ một năm tuổi trở lên 178
cây, cây chưa cho thu hoạch dưới một năm tuổi sinh trưởng tốt là 22 cây, cây già
lão 27 cây.
Theo đơn giá bồi thường được tính như sau:
- Mít loại A 276 cây, đúng mật độ đơn giá bồi thường 2.383.500 đồng
thành tiền 657.846.000 đồng.
- Mít loại B 275 cây, số cây đúng mật độ 158 cây đơn giá bồi thường
1.980.500 đồng thành tiền 312.919.000 đồng; số cây vượt dưới 100% là 117 cây
có đơn giá bồi thường 990.250 đồng thành tiền 115.859.250 đồng.
- Mít loại C 178 cây, số cây vượt dưới 100% 178 cây đơn giá bồi
thường 705.250 đồng thành tiền 125.534.500 đồng.
- Mít loại D 22, số cây vượt dưới 100% 22 cây đơn giá bồi thường
73.750 đồng thành tiền 1.622.500 đồng.
- Mít loại E 27, số cây vượt dưới 100% 27 cây đơn giá bồi thường
523.000 đồng thành tiền 14.121.000 đồng.
2. Dừa 300 cây trong đó: cây cho thu hoạch chưa ổn định 28, cây chưa
cho thu hoạch từ một năm tuổi trở lên 260 cây, cây chưa cho thu hoạch dưới một
năm tuổi sinh trưởng tốt là 12 cây.
Theo đơn giá bồi thường được tính như sau:
- Dừa loại B 28 cây, Cây trồng thứ 2 nên mật độ cây lấy 50 % .
- Dừa loại C 260 cây, số cây đúng mật độ 75 cây đơn giá bồi thường
1.266.500 đồng thành tiền 94.987.500 đồng; số cây vượt dưới 100% là 74 cây
đơn giá bồi thường 633.250 đồng thành tin 46.860.500 đồng; số cây vượt từ
100% trở lên là 111 cây có đơn giá bồi thường 126.650 đồng thành tiền
14.058.150 đồng;
- Dừa loại D 12, số cây vượt từ 100% trở lên 12 cây đơn giá bồi
thường 20.650 đồng thành tiền 247.800 đồng.
3. sữa (HK) 348 cây, trong đó: cây chưa cho thu hoạch từ một năm
tuổi trở lên 47 cây, cây chưa cho thu hoạch dưới một năm tuổi sinh trưởng tốt
301 cây.
Theo đơn giá bồi thường được tính như sau:
- sữa loại C 47 cây, đơn giá 2.391.500 đồng, hsố đơn giá 10%, số
lượng áp giá 338, đơn giá bồi thường 239.150 đồng thành tiền 80.832.700 đồng;
8
sữa loại D 301 cây, đơn giá 329.000 đồng, hệ số đơn giá 10%, số lượng áp
giá 338, đơn giá bồi thường 32.900 đồng thành tiền 11.120.200 đồng.
4. Xoài khác 177 cây, trong đó: cây chưa cho thu hoạch dưới một m
tuổi sinh trưởng tốt là 177 cây.
Theo đơn giá bồi thường được tính như sau:
- Xoài khác loại D 177 cây, đơn giá 273.500 đồng, hệ số đơn giá 10%, số
lượng áp giá 338, đơn giá bồi thường 27.350 đồng thành tiền 9.244.300 đồng;
5. Thanh long 315 trụ, trong đó: Cây già lão 315 trụ.
Theo đơn giá bồi thường được tính như sau:
- Thanh Long trồng trụ loại E 315 cây, đơn giá 464.000 đồng, hệ số đơn
giá 10%, số lượng áp giá 338, đơn giá bồi thường 46.400 đồng thành tiền
15.683.200 đồng;
6. Nhà kho: 17.257.104 đồng.
7. Ống nước phi 27: 1.300.000 đồng.
8. Bồn nước: 528.000 đồng.
9. Hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề tìm kiếm việc làm: 5.430,7 m
2
x
80.000 x 1,5 = 651.684.000 đồng.
10. Htrợ ổn định sản xuất kinh doanh khi nhà nước thu hồi đất: 5.430,7
m
2
x 5.000 = 27.153.500 đồng.
11. Hỗ trợ ổn định đời sống: Chị L 2 người con: 03 người x 6.175.440
đồng = 18.526. 320 đồng.
Tổng các khoản bồi thường, hỗ trợ chị L được nhận: 2.199.129.204 đồng.
[4.4]. Đối với thành viên trong hộ nhận khoán còn lại gồm Mai Trọng N,
Mai Trọng H1 (con chị D anh N2); Phan Thị Lệ H3, Phan Nhật H4 (con ch
L anh H2), các thành viên nêu trên trong qtrình nhận khoán các cháu n
nhỏ không công sức đóng góp vào quá trình canh tác, sử dụng đất nên không
được hưởng các chính sách hỗ trợ, chỉ được hưởng chính ch “Hỗ trợ ổn định
đời sống” được tính trên số nhân khẩu trong hộ. Trong vụ tranh chấp này hai
cháu Phan Thị Lệ H3, Phan Nhật H4 (con chị L anh H2) đã được nhận hỗ trợ
chung chị L tại phần [4.3]. Hai cháu Mai Trọng N, Mai Trọng H1 (con chị D
anh N2) sđược hưởng chung chị D trong phần bồi thường, hỗ trợ đối với phần
đất còn lại đã nhận khoán sau khi trừ đi phần diện tích đất đã công nhận cho chị
L.
[4.5]. Đối với giá trị cây trồng, công trình trên đất trước đây cấp thẩm
giải quyết dựa trên chứng thư thẩm định giá ngày 19/8/2025 của Công ty CP T2
là có căn cứ. Do đất tranh chấp bị thu hồi, đã có phương án đền bù hỗ trợ chi tiết
cho từng hộ nhận khoán nên Hội đồng xét xử căn cứ trên Phương án chi tiết số
382/PACT-UBND ngày 25/11/2025 về việc “hỗ trợ hộ ông Mai Văn N2 (mất)
Bùi Thị D (đại diện) đthực hiện Dự án đầu xây dựng kinh doanh kết cấu
hạ tầng Khu công nghiệp T” tổng số tiền hỗ trợ cho hộ anh Mai Văn N2 chị
9
Bùi Thị D đại diện được nhận 6.293.366.460 đồng để giải quyết triệt để vụ
án. Chị L được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên chị L, anh H2, cháu Phan Thị
Lệ H3, Phan Nhật H4 (con chị L và anh H2) được hưởng toàn bộ tiền đền bù, hỗ
trợ trên phần đất diện tích 5.430,7m
2
bị thu hồi, do chị L đại diện nhận với số
tiền 2.199.129.204 đồng. Chị D đang đứng tên hợp pháp trên hợp đồng nhận
khoán của hộ, chị D hiện không có tranh chấp nên chị D cũng là đại diện cho hai
cháu Mai Trọng N, Mai Trọng H1 (con chị D anh N2) được nhận tiền đền
đối với phần đất bị thu hồi còn lại của hộ nhận khoán Mai Văn N2 đã chết
chuyển lại cho hộ Bùi Thị D với số tiền 4.094.237.256 đồng.
[4.6]. Ủy ban nhân dân T 3, tỉnh Đồng Tháp quan được giao
nhiệm vụ chi trả tiền đền bù, htrợ khi Nhà nước thu hồi đất đối với phần đất
tranh chấp trọng vụ án nên kiến nghị Ủy ban nhân dân T, tỉnh Đồng Tháp
thực hiện việc chi trả tiền đền bù, hỗ trợ cho các đương sự theo quy định, cụ thể
chi trả cho chị L số tiền 2.199.129.204 đồng, chi trả cho chị D số tiền
4.094.237.256 đồng, chị L, chị D phải chịu các khoản chi phí, lệ phí nhận tin
đền bù nếu có theo quy định.
[4.7]. Từ nhận định nêu trên, do có tình tiết mới về thu hồi đất tranh chấp,
đã phương án bồi thường chi tiết, mặt không sở chấp nhận kháng
cáo của bị đơn chị Bùi Thị D nhưng cần sửa án thẩm để đảm bảo cho việc thi
hành án giải quyết một cách triệt để vụ án. Trên sở yêu cầu khởi kiện của
chị L tính cụ thể số tiền khi thu hồi đất chị L được nhận để giao cho chị thay vì
giao đất như cấp sơ thẩm, việc sửa án không có lỗi của cấp sơ thẩm.
[5]. Về chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định, đo đạc, định giá s tiền
15.200.000 đồng chi phí xác minh thu thập tài liệu chứng cứ số tiền
2.000.0000 đồng do chị L tạm ứng đã quyết toán xong, chị L được chấp nhận
yêu cầu khởi kiện yêu cầu chị D trả lại có căn cứ nên chấp nhận, buộc
chị D trả lại cho chị L 17.200.000 đồng.
[6]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
[6.1]. Bị đơn chị Bùi Thị D phải chịu 600.000 đồng án phí dân sự sơ
thẩm, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai
thu số xxxx, ngày 12/9/2025 của Thi hành án Dân sự tỉnh Đồng Tháp nên còn
phải nộp tiếp số tiền 300.000 đồng.
[6.2]. Chị Mai Thị L phải chịu số tiền 75.982.584 đồng, khấu trừ vào
7.500.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số xxxx, ngày 28/3/2025 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang (nay là Thi hành
án dân sự tỉnh Đồng Tháp). Như vậy, chị L phải nộp tiếp 69.482.584 đồng.
[7]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp
căn cứ một phần, tuy nhiên việc hủy án không cần thiết vì khi cấp thẩm
xét xđất đã Quyết định thu hồi nhưng chưa phương án đền cụ thể.
Tại cấp phúc thẩm, đã phương án đền chi tiết đối với phần đất tranh chấp
nên chỉ cần sửa án đảm bảo giải quyết đầy đủ, triệt để yêu cầu của đương sự,
phù hợp với thực tế khách quan, hủy án trả về cấp thẩm giải quyết cũng
không làm thay đổi nội dung vụ án, việc giải quyết lại sẽ kéo dài thời gian ảnh
10
hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự. Do đó, Hội đồng xét xử
chấp nhận một phần đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát, sửa án bản án dân s
sơ thẩm.
[8]. Các phần khác của bản án n sự sơ thẩm đã phát sinh hiệu lực pháp
luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 148, khoản 2 Điều 308 Bộ Luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 134, 135, 136, 138, 142, 143, 207, 208, 212, 218, 219,
500, 501, 502, 483, 484, 487, 488, 489, 649, 650, 651 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điều 100, 167, 168 Luật đất đai năm 2013; Điều 134, 135, 136, 137 Luật đất đai
năm 2024; Điều 227, Điều 228, Khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị
quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ
Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí lệ phí
Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn chị Bùi Thị D, sửa Bản
án dân sự thẩm số 150/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực xx - Đồng Tháp.
1.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị L, chị L được chia
cây trồng, công trình trên đất diện tích đất 5.430,7m
2
(diện tích đo đạc thực
tế) có giá trị đền bù, hỗ trợ do bị thu hồi đất với số tiền 2.199.129.204 đồng.
1.2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện phản tố của chBùi Thị D về việc:
- Công nhận cây trồng, công trình trên đất do anh Mai Văn N2 đã chết
những người kế thừa quyền nghĩa vụ của anh Mai Văn N2 gồm chị Bùi Th
D, Mai Trọng NMai Trọng H1.
- Yêu cầu chị Mai Thị Bé Lanh Phan Văn H2 bồi thường thiệt hại trên
phần đất nhận khoán diện tích 5.430,7m
2
(diện tích đo đạc thực tế) đất nhận
khoán từ Nông trường T.
1.3. Kiến nghị Ủy ban nhân dân T, tỉnh Đồng Tháp thực hiện việc chi
trả tiền đền bù, hỗ trợ cho các đương stheo quy định (cụ thể chi trả cho chL
số tiền 2.199.129.204 đồng, chi trả cho chị D số tiền 4.094.237.256 đồng), chị L,
chị D phải chịu các khoản chi phí, lệ phí nhận tiền đền bù nếu có theo quy định.
1.4. Về chi phí tố tụng:
- Buộc chị Bùi ThD trả lại cho chị Mai Thị Bé L 17.200.000 đồng, thực
hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
- Kể từ khi chị L đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị D chậm thực hiện
nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng chị D còn phải trả lãi theo mức lãi suất được quy
11
định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian
chậm thi hành án.
1.5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Chị Bùi Thị D phải chịu s tiền 600.000 đồng, khấu trừ vào số tiền
300.000 đồng tạm ứng án phí chị D đã nộp theo biên lai thu số xxxx, ngày
12/9/2025 của Thi hành án Dân sự tỉnh Đồng Tháp. Vậy chị D còn phải nộp tiếp
số tiền 300.000 đồng.
- Chị Mai Thị L phải chịu số tiền 75.982.584 đồng, khấu trừ vào số
tiền 7.500.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số xxxx, ngày 28/3/2025
của Chi cục Thi nh án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang (nay Thi
hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp). Như vậy, chị L phải nộp tiếp 69.482.584 đồng.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: ChBùi Thị D phải chịu số tiền 300.000
đồng, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị D đã nộp theo biên
lai thu số 0004670, ngày 14/10/2025 của Thi hành án Dân sự tỉnh Đồng Tháp.
Vậy chị D đã nộp xong án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân stngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9
Luật thi nh án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Án tuyên lúc 14 giờ 40 phút kết thúc lúc 14 giờ 55 phút cùng ngày
25.6.2026, có mặt bà H3, chị L, anh H2, chị D, chị T, các đương sự còn lại vắng
mặt.
Nơi nhận:
- Tòa Phúc Thẩm TANDTC tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND Khu vực xx - Đồng Tháp;
- Phòng THADS khu vực xx - Đồng Tháp;
- Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp;
- Công bố bản án CTTĐT;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án;
DSPT-2026-T (TK Linh).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Trần Hữu Tính
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 550/2026/DS-PT Bản án số 550/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 550/2026/DS-PT Bản án số 550/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất