Bản án số 527/2024/DSPT ngày 26/08/2024 của TAND TP. Hà Nội về các tranh chấp dân sự trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 527/2024/DSPT

Tên Bản án: Bản án số 527/2024/DSPT ngày 26/08/2024 của TAND TP. Hà Nội về các tranh chấp dân sự trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng
Quan hệ pháp luật: Các tranh chấp dân sự trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hà Nội
Số hiệu: 527/2024/DSPT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/08/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: QUÁCH THỊ HẠNH - CTY TRU DU
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI Độc lập - Tự do - H phúc
Số: 527/2024/DS - PT.
Ngày: 26/08/2024
V/v tranh chấp: Hợp đồng mua bán tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa : Nguyễn Thị Hồng H.
Các Thẩm phán :Bà Trần Thị Liên Anh
Bà Ngô Tuyết Băng
Thư ký ghi biên bản phiên toà :Nguyễn Thị Thu Hương
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội : Ngô Phương Liên KSV
Ngày 26 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nội, xét xử
công khai vụ án Dân sự phúc thẩm thụ số: 625/DS - PT ngày 20/12/2023 về Tranh
chấp mua bán tài sản”.
Do Bản án Dân ssơ thẩm số 199/2023/DS ST ngày 25 tháng 09 năm 2023 của
Toà án nhân dân Quận Đống Đa bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 333/QĐXX.DSPT ngày 03 tháng 07 năm
2024, Quyết định hoãn phiên toà số 405/2024/QĐ-PT ngày 19/8/2024 của Toà án nhân
dân thành phố Hà Nội giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Quách Thị H sinh năm 1975.
ĐKNKTT: P201, C13, phường Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân, Hà Nội.
Bị đơn: Công ty Cổ phần T ( gọi tắt Công ty).
Trụ sở: Tầng 1 Vinaproinco, Số 28, phố Trần Quý Cáp, quận Đống Đa, Hà Nội;
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức Tú- Tổng giám đốc.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Nguyễn Thị Quý
ĐKNKTT: Số 32, ngõ Vạn Kiếp, phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội;
Nơi cư trú: Số 147, phố Nhật Chiêu, phường Nhật Tân, quận Tây Hồ, Hà Nội.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn người liên quan: Luật Đào
Xuân Sơn- Công ty Luật TNHH Justiva Law.
2/ Ông Vũ Văn Phúc , sinh năm 1944
3/ Bà Nguyễn Thị Chiều, sinh năm 1944
Cùng trú tại: Phú Đa, Thị trấn Bần Yên Nhân, Huyện Mỹ Hào , Tỉnh Hưng Yên
4/ Anh Vũ Đăng Huy , sinh năm 2002
5/ Chị Vũ Linh Đan, sinh năm 2005
Hiện đang học tại Phần Lan
Người đại diện theo uỷ quyền của Ông Văn Phúc, Nguyễn ThChiều, Anh
Đăng Huy, Chị Vũ Linh Đan là Bà Quách Thị H.
Bà H, ông Tú, luật sư Sơn có mặt, các đương sự khác vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/5/2022 và các lời bà Quách Thị H trình bày:
Ngày 15/4/2020, Quách Th H đặt cọc cho ông Nguyễn Đức - Tổng
Giám đốc ng ty số tiền 300.000.000 đồng ngày 16/4/2020 đặt cọc tiếp số tiền
300.000.000 đồng, tổng số tiền bà H đã đặt cọc là 600.000.000 đồng để mua 01 giàn máy
sản xuất khẩu trang tự động. Hình thức đặt cọc bằng tiền mặt chuyển khoản, giấy
xác nhận của ông Tú. Đến ngày 17/4/2020, H đã Hợp đồng kinh tế số
018/HĐKT/TD-QTH với Công ty đmua một dây chuyền máy sản xuất khẩu trang tự
động với tổng giá trị Hợp đồng 3.600.000.000 đồng. Việc thương lượng hợp đồng
được diễn ra tại phòng 1002, nhà A1- X2, phường HĐình, quận Thanh Xuân, Nội.
Cùng ngày 17/4/2020 H đã trả cho ông thêm số tiền 1.800.000.000 đồng. Tổng
số tiền bà H đã trả cho ông Tú là 2.400.000.000 đồng.
Dây chuyền được lắp đặt tại nhà số 9, ngõ 364/94/2, đường Giải Phóng, phường
Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, Nội. Theo Điều 4 của Hợp đồng, đến ngày 21/4/2020,
Bên bán phải hoàn thành việc lắp đặt, vận hành sản xuất ra khẩu trang theo các thông s
kỹ thuật được ghi trong Hợp đồng. Tuy nhiên, đến ngày 25/4/2020, Bên bán mới cho
chạy thử nhưng vẫn chưa đạt được yêu cầu. Sau đó Bên bán tiếp tục chỉnh sửa đến ngày
29/4/2020 vẫn chưa thực hiện xong việc vận hành bàn giao như Hợp đồng đã ký nên
Bên bán đã đồng ý lấy lại giàn máy, trả lại số tiền H đã thanh toán cho Bên bán
2.400.000.000 đồng chịu phạt theo Hợp đồng. Bên bán hẹn H s thanh hợp
đồng, nhận lại máy, trả tiền vào hồi 13 giờ ngày 30/4/2020, sau đó hẹn lùi lại vào 15 giờ
ngày 30/4/2020 (có tin nhắn của ông xác nhận). Đến 15 giờ ngày 30/4/2020, Bên bán
không thực hiện việc thanh hợp đồng còn đưa một số người xâm phạm trái phép
chỗ của H, lục soát đđạc, quay phim, chụp ảnh yêu cầu H vào một n
bản đó H không biết, việc này bà H đã đơn tố cáo gửi Công an quận Hoàng
Mai vào ngày 01/5/2020. Sau đó Bên bán niêm phong giàn máy và bỏ đi. Từ đó đến nay,
H đã nhiều lần liên lạc, nhắn tin, gọi điện nhưng ông không trả lời. Ông đã
nhận 2.400.000.000 đồng nhưng chưa cung cấp các loại hồ sơ, giấy tờ về nguồn gốc,
xuất xứ, kiểm định chất lượng và các loại giấy tờ liên quan đến hồ sơ pháp lý của bộ máy
trên (theo hợp đồng) mặc dù bà H đã yêu cầu rất nhiều lần.
Dây chuyền máy lắp đặt cho H không đúng loại máy ghi trong Hợp đồng, bà
H kiểm tra không thấy có seri hay số máy được đóng vào máy như các loại máy khác mà
chỉ một tấm tôn ghi tên máy được dán bằng băng dính vào cánh cửa tủ máy; kích
thước của máy trên thực tế không đúng như kích thước được ghi trong hợp đồng.
Việc lắp đặt, vận hành không đạt được c yêu cầu ghi trong hợp đồng về tốc đ
số lượng khẩu trang từ 80 đến 120 chiếc/phút, về chất lượng cũng không đạt được tỷ lệ
98% sản phẩm hoàn thiện để có thể lưu hành được như trong cam kết của Hợp đồng, một
số modum của máy thiếu phụ tùng và chưa chạy được, việc vận hành vẫn mang tính chất
bán tự động. Ông đã thống nhất với H trả lại tiền và chuyển máy đi vào ngày
30/4/2020 nhưng đã không thực hiện, mà tiến hành niêm phong giàn máy rồi bỏ đi. Hiện
tại, giàn máy vẫn đang trong tình trạng niêm phong từ ngày 30/4/2020 đến nay.
H đề nghị Tòa án giải quyết buộc Công ty, đại diện theo pháp luật ông
Nguyễn Đức Tú phải trả lại stiền 2.400.000.000 đồng, kèm số tiền phạt là 300.000.000
đồng theo Hợp đồng kinh tế số 018/HĐKT/TD-QTH ngày 17/4/2020 và tiền lãi ngân
hàng của số tiền 2.700.000.000 đồng tính từ ngày 17/4/2020 đến thời điểm Tòa án xét xử
thẩm yêu cầu Công ty phải di chuyển dây chuyền máy sản xuất khẩu trang hiện
đang lắp đặt tại địa chỉ nhà số 9, ngõ 364/94/2, đường Giải Phóng, phường Thịnh Liệt,
quận Hoàng Mai, Hà Nội ra khỏi địa chỉ trên.
Về yêu cầu phản tcủa bị đơn, H không đồng ý với yêu cầu của Công ty buộc
H phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền 1.200.000.000 đồng và tiền lãi
theo mức lãi suất 8,5%/năm tính từ ngày 30/4/2020 đến thời điểm xét xử sơ thẩm.
Công ty do ông Nguyễn Đức Tú đại diện trình bày:
Công ty có mua một giàn máy sản xuất khẩu trang. Ngày 14/4/2020, ông Tú có rao
bán giàn máy sản xuất khẩu trang thì ông Thành Lâm liên hệ đmua giàn máy. Tối
ngày 14/4/2020, theo yêu cầu của ông Lâm, ông đã đưa ông Lâm và Quách Thị H
(vợ ông Lâm) đi xem giàn máy và các giấy tờ liên quan đến giàn máy.
Chiều ngày 15/4/2020, ông Lâm gọi điện cho ông Tú và đồng ý mua giàn máy với
giá 3.600.000.000 đồng. Ông đã soạn sẵn Hợp đồng gửi qua email cho ông Lâm
xem chỉnh sửa trước. Tối ngày 15/4/2020 ông qua nhà ông Lâm tại phòng 1001,
tòa A1-X2, chung cư tại ngõ 214 Nguyễn Xiển, phường Hạ Đình, quận Thanh Xuân,
Nội đđặt cọc hợp đồng, ông Lâm H đã đồng ý với bản hợp đồng ông
gửi qua email, chuyển cho ông Tú 300.000.000 đồng đặt cọc và có nói với ông Tú không
cần giấy đặt cọc, cũng như hợp đồng, khi nào giao máy thì sẽ thanh toán số tiền một
lần theo thỏa thuận hợp đồng. Đến tối ngày 15/4/2020, ông Lâm điện thoại nói
chuyển ngay giàn máy xuống tới địa chỉ xưởng thì ông Lâm sẽ chuyển nốt tiền, hợp
đồng. Ông đã chuyển giàn máy xuống theo ý bên mua vào lúc 23h50 cùng ngày, Ông
xe bên bán chuyển máy đến địa chỉ thì ông Lâm nói chưa thuê được người
bốc xếp bảo là cứ để xe và máy ở đấy mai thanh toán tiền và ký hợp đồng.
Khoảng 8h30 sáng ngày 16/4/2020, ông xuống bãi xe điện thoại cho ông
Lâm. Bên ông Lâm có thuê xe nâng và đội bốc vác nhận máy từ trên xe và tự vận chuyển
toàn bộ máy vào sân nhà ông Lâm. Trong quá trình vận chuyển, bên vận chuyển ông
Lâm đã tháo mấy thùng gỗ bọc bên ngoài, rơi các chi tiết nhỏ dọc đường, bên bán
phải đi nhặt lại, vào đến nhà ông Lâm thì thấy giữa sân không mái, cũng không
để che đậy hàng hóa. Ông Tú có đề cập vấn đề này với ông Lâm thì ông Lâm khẳng định
rằng không sao, cam kết có thì bên mua sẽ tự chịu trách nhiệm ông Lâm đã nhận
hàng. Ông Tú có gọi mẹ làNguyễn Thị Quý xuống chứng kiến và hỗ trợ. Sau khi toàn
bộ giàn máy, vật tư đã vào sân nhà ông Lâm, ông đề nghị ông Lâm hợp đồng và
thanh toán tiền thì ông Lâm bảo ông Tú lên gặp H tại nhà riêng. Sau đó ông
Quý đã đi lại nhiều lần để gặp ông Lâm H nhưng vẫn không được hợp đồng và
không lấy được tiền theo thỏa thuận. Ông đề nghị nếu không hợp đồng thì sẽ
lấy lại giàn máy trả lại tiền cọc, nhưng bên mua lại thuyết phục bên bán. Đến 19h
ngày 16/4/2020 bên mua mới trả thêm 300.000.000 đồng. Sau đó, ông Lâm và bà H tiếp
tục kéo dài thời gian, không trả hết tiền cũng không hợp đồng. H tự soạn hợp
đồng đơn phương đưa ra các điều khoản mới cực kỳ bất lợi cho bên bán, điều khoản
nếu máy lỗi do nhà sản xuất không hoạt động thì sẽ phạt 480.000.000 đồng. Ông Tú thấy
không bình thường nên quay về xưởng gặp ông Lâm đề nghị trả lại tiền cọc lấy lại
máy, thì ông Lâm mới nói với H bỏ hết các điều khoản đơn phương của bên mua
sẽ thực hiện theo nội dung hợp đồng trong mail đã thống nhất. Đến ngày 17/4/2020 ông
mới nhận được thêm 1.800.000.000đồng. Ngày 21/4/2020, dây chuyền máy móc đã
hoạt động trơn tru, sản xuất ra sản phẩm và bên bán yêu cầu bên mua làm nghiệm thu và
thanh hợp đồng. Trong quá trình lắp đặt máy móc thì mặt bằng không đảm bảo gây
ảnh hưởng đến tiến độ thời gian quá trình lắp đặt hiệu chỉnh máy móc (mặt bằng đến
ngày 30/4/2020 vẫn đang sửa chữa hoàn thiện lợp mái). Ngày 21/4/2020 bên mua đã
mang mẫu khẩu trang đi kiểm tra ngoài thị trường thông báo với bên bán đạt yêu
cầu, nhưng bên mua lại đưa ra mong muốn hiệu chỉnh một số lỗi nhỏ, chỉnh sửa khẩu
trang cho đẹp hơn theo yêu cầu riêng của bên mua. Bên bán đã vô cùng thiện chí, thực
hiện theo yêu cầu của bên mua nhưng bên mua vẫn tiếp tục đưa ra những yêu cầu không
trong hợp đồng. Khi n bán đề nghị thanh toán nốt tiền thì bên mua tìm mọi do
không thanh toán. Đến thời điểm này thị trường khẩu trang bắt đầu hạ nhiệt quan
nhà nước siết chặt việc cấp phép cho sở nhỏ sản xuất khẩu trang. Ngày 28/4/2020,
bên bán điện thoại cho bên mua để thống nhất, hai bên mua bán không đi đến kết quả
cũng phải thanh hợp đồng, nếu không thương lượng được thì để pháp luật phân xử,
ông Lâm đã đe dọa xử lý ông Tú. Ông Tú lo sợ nên ngày 30/4/2020 ông Tú đã mời Thừa
phát lại lập biên bản giàn máy ghi nhận mong muốn của hai bên để làm căn cứ thanh
hợp đồng. Khi ông cùng Thừa phát lại đang làm việc với bà H thì ông Lâm về
đuổi hết mọi người ra ngoài xưởng, không cho lại trong khu vực giàn máy. Ông Lâm
H yêu cầu bên bán phải nhận lại máy móc, trả hết tiền đã nhận Công ty sẽ bị phạt
một khoản tiền 480.000.000 đồng, rồi ông Lâm lại hạ xuống 300.000.000 đồng.
Ông Lâm còn hứa sẽ cho riêng ông 100.000.000 đồng (với cách nhân) để cùng
nộp vào tiền phạt nhưng ông không đồng ý. Ông Lâm tuyên bố cứ để máy xưởng
hết 20 ngày không nghiệm thu và không ai được động đến để trừ hết số tiền
1.200.000.000 đồng, không phải trả cho Công ty nữa. Ông Lâm lấy lại chùm chìa khóa
xưởng đã giao cho ông Tú. Sau đó bên mua làm đơn tố cáo tới nhiều cơ quan chức năng
những nội dung không liên quan tới hợp đồng làm ảnh hưởng tới những người liên quan
đến ông Tú, nhằm hạ bệ uy tín, phá sản Công ty. Sau khi bên bán bị bên mua đuổi ra
ngoài, ông ra Công an phường Thịnh Liệt trình bày sự việc, Công an phường
trao đổi lại tại địa điểm xưởng, bên bán không gây mất trật tự an ninh, hai bên mua
bán chưa thống nhất được thì ra cơ quan pháp luật nơi ký hợp đồng phân xử.
Nay trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông không đồng ý, đề nghị Tòa
án giải quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 05/4/2023 ông gửi đơn yêu cầu phản tố, đề nghị Tòa án giải quyết
buộc H phải thanh toán số tiền còn lại 1.200.000.000 đồng theo Hợp đồng kinh tế số
018/HĐKT/TD-QTH ngày 17/4/2020 và phải thanh toán tiền lãi theo mức lãi suất
8,5%/năm (trung bình của 03 Ngân hàng thương mại) tính từ thời điểm H chậm thực
hiện nghĩa vụ thanh toán là ngày 30/4/2020 đến thời điểm xét xử sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị Quý trình bày:
Anh Nguyễn Đức Tú là con rể của Quý, anh Tú là Tổng Giám đốc của Công ty.
Giữa bà Quý và ông Lâm, bà H không có quan hệ quen biết, cũng không làm ăn cùng với
nhau. Khoảng tháng 4/2020, Công ty bán cho ông Lâm, H 01 dây chuyền sản xuất
khẩu trang. Việc giao dịch mua bán chủ yếu là do ông Lâm và anh Tú giao dịch qua điện
thoại, zalo chứ chưa Hợp đồng. Khi máy từ Trung Quốc về, ông Lâm trực tiếp đi
xem máy khi máy đang trên công ten thuê người chuyển máy luôn về kho của
ông Lâm, mặc ông Lâm chưa trả tiền. Máy đã về kho của ông Lâm thì giữa hai bên
mới viết Giấy cam kết nhận tiền, Quý vào Giấy cam kết này nhưng Quý chỉ
chứng kiến việc giao nhận 300.000.000 đồng đầu tiên, còn những lần giao nhận tiền tiếp
theo anh nhận với ông Lâm, H chứ Quý không biết cụ thể anh bán máy
khẩu trang cho ông Lâm giá bao nhiêu và ông Lâm đã trả cho anh Tú bao nhiêu tiền. Sau
khi Giấy cam kết, giữa ông Lâm anh mới Hợp đồng kinh tế số 018 ngày
17/4/2020, nhưng khi Hợp đồng đứng tên Quách Thị H, mặc mọi giao dịch chỉ
do ông Lâm làm, bà H không tham gia.
Sau khi y được lắp đặt, chạy thử, ra khẩu trang thì hết giãn cách hội, ông
Lâm, bà H thấy mặt hàng khẩu trang không còn bán chạy nữa nên bắt đầu viện lý do máy
nhập lậu, tốc độ máy không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật để yêu cầu phải trả lại tiền phạt
600.000.000 đồng. Quý anh yêu cầu ông Lâm mời đơn vị thẩm định hoặc
các quan thẩm quyền đến thẩm định thì ông Lâm bảo không phải mời ai điện
thoại cho Quý đe dọa giết anh nếu không trả lại tiền tiền phạt. Quý nói
với anh lấy máy về nhưng anh bảo ông Lâm không đồng ý đòi phạt
600.000.000 đồng. Bà Quý khuyên anh Tú mời các cơ quan chức năng vào cuộc để phân
định đúng sai. Sau đó anh mời thừa phát lại chứng kiến việc máy chạy, vận hành
tốt, H cũng chứng kiến việc này. Khi thừa phát lại đang làm việc thì ông Lâm đe
dọa rồi đuổi mọi người ra, khóa cửa xưởng lại. Từ đó anh không vào được xưởng
nữa. Sau đó ông Lâm gửi đơn kiện anh Quý Công an quận Hoàng Mai, Chi
cục Thuế quận Đống Đa, tố cáo anh Tú nhập lậu máy, trốn thuế, ông Lâm n kiện, vu
khống cả con trai Quý anh Quốc Nam về việc cho thuê nhà không đảm bảo về
phòng cháy chữa cháy. Tất cả những việc ông Lâm kiện đều là vu khống, không đúng s
thật, mục đích chỉ để bắt ép anh phải trả lại tiền chịu phạt. Ngoài ông Lâm, H
cũng nhắn tin vào máy của Quý đe dọa sẽ giết anh nếu không trả lại tiền và
chịu phạt.
Nay H kiện, quan điểm của Quý Quý không liên quan đến việc bà H
khởi kiện, bà Quý chỉ ký chứng kiến việc giao tiền lần đầu là 300.000.000 đồng, ngoài ra
Quý không chứng kiến gì khác, việc chứng kiến cũng là do lo cho anh Tú nên Quý
mới làm hộ chứ không được hưởng lợi việc này. Khoảng đầu năm 2021 anh
nộp đơn khởi kiện H Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân yêu cầu trả nốt stiền
1.200.000.000 đồng nhưng sau đó anh lâm bệnh nặng nên không tiếp tục đến Tòa án
giải quyết được, theo bà Qđược biết anh mới chỉ gửi đơn chứ chưa được Tòa án
thụ lý, chưa nộp tiền tạm ứng án phí. Sau đó một thời gian anh đi chữa bệnh nước
ngoài, địa chỉ cụ thể thì Qkhông anh nhiều người thân nhiều nước.
Trụ sở Công ty vẫn Trần Quý Cáp nhưng do anh ốm đau khoảng 04 năm nay nên
hầu như cũng không còn hoạt động. Quý mong muốn Tòa án giải quyết buộc H
phải trả cho anh số tiền 1.200.000.000 đồng mua y còn thiếu nhưng đó chỉ
mong muốn của Quý, còn cụ thể phải do anh yêu cầu Tòa án giải quyết chứ
không quyền yêu cầu. Do Quý không liên quan đến việc này cũng bận công
việc nên đề nghị Tòa án không triệu tập xin vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc của
Tòa án.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Nguyên đơn người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình
bày: Đề nghị Tòa án giải quyết buộc Công ty, đại diện là ông Nguyễn Đức Tú phải trả lại
cho H số tiền 2.400.000.000 đồng số tiền phạt 300.000.000 đồng, H không yêu
cầu ông phải thanh toán lãi chậm trả. Yêu cầu ông phải di chuyển giàn máy khẩu
trang ra khỏi nhà xưởng tại địa chỉ số 9, ngõ 364/94/02, đường Giải Phóng, phường
Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội.
- Bđơn người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày: Nguyên
đơn đã không thực hiện đúng nghĩa vụ của người mua được thỏa thuận trong Hợp đồng
kinh tế đã ký kết, trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho bên bán, trong khi bên
bán đã thực hiện đúng đầy đủ nghĩa vụ của mình giao hàng đúng thời hạn, đúng
chủng loại chất lượng như đã thỏa thuận. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu nguyên đơn phải tiếp tục thực hiện Hợp
đồng, thanh toán nốt số tiền còn lại 1.200.000.000 đồng. Bị đơn xin rút yêu cầu
nguyên đơn phải chịu lãi trên số tiền chậm trả.
Bản án Dân sự thẩm số 199/2023/DS ST ngày 25 tháng 09 năm 2023 của
Toà án nhân dân Quận Đống Đa đã quyết định như sau:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Quách Thị H đối với Công ty Cổ
phần T.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty Cổ phần T buộc bà Quách Thị H
phải thanh toán cho Công ty Cổ phần T số tiền 1.200.000.000 đồng.
3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Quách Thị H và yêu cầu phản tố của Công ty
Cổ phần T về yêu cầu thanh toán lãi chậm trả
4. Buộc Công ty Cổ phần T, đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Đức phải
trả lại cho Quách Thị H số tiền 2.400.000.000 đồng ng ty Cổ phần T phải nhận
lại dây chuyền máy sản xuất khẩu trang tự động 02 cửa, nhãn hiệu KX-KZJJ008, kích
thước (4200x3600x1900) (hiện đang lắp đặt tại địa chỉ nhà số 9, ngõ 364/94/2, đường
Giải Phóng, phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xthẩm cho đến khi thi hành án xong, bên
phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức
lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơnQuách Thị H phải chịu án phí dân s
thẩm đối với yêu cầu không được chấp nhận 15.000.000đồng. H đã nộp số tiền
25.000.000đồng tạm ứng án phí theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí ngày 08/11/2022 của
Chi cục Thi hành án Dân sự quận Đống Đa, Nội (Thông báo số 1613 ngày
02/11/2022, thông báo QVSPOX69LZ). Quách Thị H được hoàn trả lại
10.000.000 đồng.
Bị đơn Công ty Cổ phần T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả
cho nguyên đơn 80.000.000đồng án phí dân sự thẩm đối với yêu cầu phản tố
không được chấp nhận 48.000.000đồng. Công ty Cổ phần T đã nộp số tiền
24.000.000đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 71796 ngày
21/4/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Đống Đa, Nội. Công ty Cổ phần T
còn phải nộp tiếp 104.000.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Sau khi xét xử sơ thẩm :
Bà Quách thị H kháng cáo một phần bản án yêu cầu đòi tiển phạt.
Công ty kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại cấp phúc thẩm:
Bà Quách thị H trìnhy: Bà H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đòi số tiền phạt
do vi phạm Hợp đồng với số tiền 300.000.000 đồng.
Công ty Luật thống nhất trình bày: Công ty không đồng ý với kháng cáo
của H cho rằng Công ty lỗi nên phải chịu phạt 300.000.000 đồng. Công ty cho
rằng đã lắp đặt xong hoàn chỉnh máy nên Công ty không đồng ý nhận lại máy
Công ty đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo, yêu cầu phản tố buộc
bà H trả nốt cho Công ty số tiền 1.200.000.000 đồng theo Hợp đồng.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội quan
điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân Thành phố Nội tiến hành thụ giải
quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đơn kháng cáo của Quách thị H Công ty trong thời hạn
Luật định và hợp lệ.
Hợp đồng mua bán do các bên kết trên sở tự nguyện, nội dung và hình thức
của hợp đồng phù hợp với pháp luật nên phát sinh hiệu lực. Căn cứ các tài liệu trong
hồ thấy rằng hệ thống máy đã được lắp đặt tuy nhiên sản phẩm sản xuất ra chưa đạt
yêu cầu theo Hợp đồng nên H yêu cầu chấm dứt Hợp đồng hoàn trả tiền là căn
cứ, do vậy không chấp nhận kháng cáo và yêu cầu phản tố của Công ty.
Toà án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu đòi tiền phạt của H căn cứ,
tuy nhiên lại không tuyên do vậy căn cứ khoản 2 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị
Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Bà H và Công ty sửa bản án sơ thẩm về
cách tuyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà
và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
* Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của Quách thị H và Công ty trong thời hạn Luật định hợp
lệ.
* Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền:
- Quách thị H khởi kiện Công ty về tranh chấp Hợp đồng mua bán tài sản,
do vậy Toà án cấp thẩm xác định quan hệ pháp luật của vụ án Tranh chấp Hợp
đồng mua bán tài sản phù hợp với quy định tại khoản 3 điều 26 Bộ luật tố tụng dân
sự.
- Điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân s2015 quy định: Thẩm quyền
giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau: Toà án nơi bị
đơn trụ sở”. Thấy rằng Công ty là bị đơn trụ sở tại Quận Đống Đa, thành phố
Nội, do vậy Toà án nhân dân Quận Đống Đa thụ và giải quyết theo đúng quy định tại
Điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Bà Nguyễn Thị Quý có đơn xin xét xử vắng mặt phù hợp với điều 296 Bộ luật tố
tụng dân sự, nên chấp nhận.
- Tại cấp phúc thẩm H cho rằng khoản tiền mua dây chuyền khẩu trang tài
sản chung vợ chồng, do ông Thành Lâm chồng H đã mất, do vậy Toà án nhân
dân Thành phố Nội đã đưa người thừa kế của ông Lâm Ông Văn Phúc,
Nguyễn ThChiều, Anh Đăng Huy, Chị Linh Đan vào tham gia tố tụng với
cách là Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, những người này đều ủy quyền cho bà
H tham gia tố tụng và không có yêu cầu gì khác.
* Về nội dung:
Ngày 17/4/2020 Quách Thị H Công ty do ông Nguyễn Đức giám đốc
đại diện đã Hợp đồng kinh tế số 018/HĐKT/TD-QTH, theo đó Công ty bán cho
Quách Thị H 01 dây chuyền máy sản xuất khẩu trang tự động 02 cửa, nhãn hiệu KX-
KZJJ008, kích thước (4200x3600x1900), hàng mới 100% do Trung Quốc sản xuất, tốc
độ 80-120 chiếc khẩu trang/phút, giá bán 3.600.000.000 đồng. Thấy rằng hai bên kết
hợp đồng trên sở tự nguyện, nội dung hình thức của Hợp đồng phù hợp với điều
430 Bộ luật dân sự 2015 nên phát sinh hiệu lực.
Sau khi Hợp đồng, Công ty đã lắp đặt máy H đã trả cho Công ty số tiền
là 2.400.000.000 đồng.
Điều 4 của Hợp đồng quy định: Bên bán phải trách nhiệm lắp đặt, chuyển
giao công nghệ, vận hành thử nghiệm sản xuất ra thành phẩm khẩu trang hoàn
chỉnh, thể sử dụng ngay, thì khi đó mới đủ điều kiện để hai bên tiến hành thủ tục
nghiệm thu máy.
Điều 5 của Hợp đồng quy định: Bên B sẽ hỗ trợ bên A vận hành trong 1 tháng
(kể từ ngày bàn giao máy) nếu có vấn đề kỹ thuật phát sinh, bên B phải công nhân kỹ
thuật hỗ trợ ngay trong vòng 1 ngày kể từ khi xảy ra sự cố
Khoản 1 điều 445 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “ 1. Bên bán phải bảo đảm giá trị
sử dụng hoặc các đặc tính của vật mua bán; nếu sau khi mua bên mua phát hiện
khuyết tật làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị sử dụng của vật đã mua thì phải báo
ngay cho bên bán khi phát hiện ra khuyết tật và quyền yêu cầu bên bán sửa chữa, đổi
vật khuyết tật lấy vật khác, giảm giá bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thỏa
thuận khác.
Căn cứ quy định của Hợp đồng, lời khai của các đương sự đều thể hiện Công ty đã
lắp đặt xong hệ thống máy đang chạy thử, tuy nhiên do sản phẩm tạo ra chưa đúng
theo thoả thuận nên hai bên không thực hiện được việc bàn giao Hệ thống máy móc. Căn
cứ vào lời thừa nhận của nguyên đơn và bị đơn đều thể hiện ngay sau khi lắp đặt máy do
tranh chấp nên hai bên đều quan điểm thống nhất chấm dứt Hợp đồng mua bán,
bên mua yêu cầu trả máy và đòi lại tiền, bên bán đồng ý nhận lại máy trả tiền cho bên
mua, nhưng do không thoả thuận được việc thanh toán tiền nên phát sinh tranh chấp.
Như vậy ngay từ thời điểm sau khi lắp đặt hai bên đã thống nhất chấm dứt Hợp đồng
mua bán với lý do sản phẩm tạo ra không đúng với thoả thuận trong Hợp đồng. Theo quy
định Khoản 1 điều 445 Bluật dân sự 2015, Điều 4 của Hợp đồng đều thể hiện Bên bán
phải bàn giao cho Bên mua tài sản theo đúng thoả thuận trong hợp đồng, trong trường
hợp nêu trên tài sản các bên giao dịch chưa đảm bảo chất lượng theo thoả thuận, do
vậy việc hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng hoàn toàn phù hợp với pháp luật, việc
Công ty có yêu phản tố đòi tiếp tục thực hiện Hợp đồng là không có căn cứ .
Thấy rằng việc H khởi kiện yêu cầu Công ty phải trả lại cho bà H số tiền
2.400.000.000 đồng Công ty phải nhận lại dây chuyền máy sản xuất khẩu trang hiện
đang lắp đặt tại địa chỉ nhà số 9, ngõ 364/94/2, đường Giải Phóng, phường Thịnh Liệt,
quận Hoàng Mai, Nội căn cứ, do vậy không chấp nhận kháng cáo của Công ty
về việc yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng việc Công ty đòi H thanh toán nốt số
tiền 1.200.000.000 đồng.
* Về tiền phạt :
Điều 418 Bộ luật dân sự 2015 quy định:Phạt vi phạm là sự thoả thuận giữa các
bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi
phạm.
H Công ty đều thừa nhận xác nhận hai bên đã thống nhất về việc chấm
dứt hợp đồng với nội dung Công ty lấy lại máytrả lại tiền cho bà H, tuy nhiên hai bên
không thống nhất được về số tiền phạt. Việc không thống nhất về số tiền phạt việc bà
H Công ty không thống nhất được thời gian di chuyển máy kịp thời ra khỏi nhà
xưởng lỗi một phần của H, vậy không sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của bà H yêu cầu Công ty phải trả số tiền phạt là 300.000.000 đồng. Tuy nhiên bản án sơ
thẩm không tuyên nội dung trên nên căn cứ khoản 2 điều 308 bộ luật tố tụng dân sự Hội
đồng xét xử sửa bản án về cách tuyên.
Về án phí : Bà H, Công ty không phải chịu án phí phúc thẩm.
Quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm t nhân dân Thành phố Nội phù hợp
với pháp luật.
Từ những nhận định trên!
Căn cứ điều 418, 430, khoản 1 điều 445 Bộ luật dân sự 2015
Căn cứ điều 147, điều 148, điều 296, khoản 2 điều 308, điều 313, 349 Bộ luật tố
tụng dân sự.
Căn cứ điều 26, khoản 2 điều 29 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí,
lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH
Xử: Không Chấp nhận kháng cáo của bà Quách thị H và Công ty cổ phần T.
Sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số 199/2023/DS ST ngày 25 tháng 09 năm 2023 của
Toà án nhân dân Quận Đống Đa về cách tuyên và quyết định như sau:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Quách Thị H đối với Công ty Cổ
phần T.
Buộc Công ty Cổ phần T phải trả lại cho Quách Thị H số tiền gốc
2.400.000.000 đồng và Công ty Cổ phần T phải nhận lại dây chuyền máy sản xuất khẩu
trang tự động 02 cửa, nhãn hiệu KX-KZJJ008, kích thước (4200x3600x1900) (hiện đang
lắp đặt tại địa chỉ nsố 9, ngõ 364/94/2, đường Giải Phóng, phường Thịnh Liệt, quận
Hoàng Mai, Hà Nội).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xthẩm cho đến khi thi hành án xong, bên
phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức
lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty Cổ phần T buộc bà Quách Thị H
phải thanh toán cho Công ty Cổ phần T số tiền 1.200.000.000 đồng.
3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Quách Thị H và yêu cầu phản tố của Công ty
Cổ phần T về yêu cầu thanh toán lãi chậm trả.
4. Không chấp nhận yêu cầu của Quách Thị H đối với Công ty Cổ phần T về
việc đòi tiền phạt 300.000.000 đồng.
5. Về án phí:
Bà Quách Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu không được chấp
nhận 15.000.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án p 25.000.000 đồng
300.000 đồng theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí ngày 08/11/2022 (Thông báo số 1613
ngày 02/11/2022, thông báo QVSPOX69LZ) Biên lai số 2766 ngày 12/10/2023
của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Đống Đa, Nội. Quách Thị H được hoàn trả
lại 10.300.000 đồng.
Công ty Cphần T phải chịu án phí dân sự thẩm đối với số tiền phải trả cho
nguyên đơn là 80.000.000 đồng án phí dân sthẩm đối với yêu cầu phản tố không
được chấp nhận là 48.000.000đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 24.000.000 đồng
nộp tại Biên lai số 71796 ngày 21/4/2023 Biên lai số 2737 ngày 9/10/2023 của Chi
cục Thi hành án Dân sự Quận Đống Đa, Hà Nội, còn phải nộp 103.700.000 đồng án phí
dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị ỡng chế
thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi
hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày 26/08/2024.
Nơi nhận:
- Tòa án ND Quận Đống Đa
- Chi cục THADS Quận Đống Đa
- Viên kiểm sát ND TP Hà Nội;
- Đương sự. Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Nguyễn Thị Hồng H
Tải về
Bản án số 527/2024/DSPT Bản án số 527/2024/DSPT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 527/2024/DSPT Bản án số 527/2024/DSPT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất