Bản án số 52/2024/KDTM-ST ngày 14/08/2024 của TAND TP. Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 52/2024/KDTM-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 52/2024/KDTM-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 52/2024/KDTM-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 52/2024/KDTM-ST ngày 14/08/2024 của TAND TP. Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam về tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Tam Kỳ (TAND tỉnh Quảng Nam) |
| Số hiệu: | 52/2024/KDTM-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 14/08/2024 |
| Lĩnh vực: | Kinh doanh thương mại |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ngân hàng yêu cầu ông Phan Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim T phải trả số tiền gốc và lãi tính đến ngày 14/8/2024 là 3.468.214.312 đồng Trong đó |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TAM KỲ
TỈNH QUẢNG NAM
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
Bản án số: 52/2024/KDTM-ST
Ngày: 14-8-2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng
và hợp đồng thế chấp tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Ân
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Phạm Bá Sang;
+ Bà Trần Thị Kim Thanh.
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thu Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Anh Vân- Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ,
tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm
thụ lý số 21/2024/TLST- KDTM ngày 17 tháng 4 năm 2024, về việc: “Tranh chấp
hợp đồng tín dụng và tranh chấp hợp đồng thế chấp tài sản”, theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-KDTM ngày 18 tháng 6 năm 2024 và Quyết
định hoãn phiên tòa số 15/2024/QĐST-KDTM ngày 17/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam; Địa chỉ: Số 108
Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh Bình, Chức vụ: Chủ tịch Hội
đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Tấn Đức - Phó Giám đốc Ngân
hàng TMCP Công thương Việt Nam-Chi nhánh Quảng Nam; Địa chỉ: Số 154
đường Phan Bội Châu, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Phan Hồng T, sinh năm 1981; Địa chỉ: Khối phố 3, phường Ph,
thành phố T, tỉnh Qu. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm
1985; Địa chỉ: Khối phố 3, phường Ph, thành phố T, tỉnh Q. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 19/10/2023, ông Phan Hồng T và Ngân hàng TMCP Công thương
Việt Nam có ký kết Hợp đồng tín dụng hạn mức số 265/2023-
HĐCVHM/NHCT482- PGDTK với số tiền cho vay là 5.450.000.000đ (Năm tỷ
bốn trăm năm mươi triệu đồng), thời hạn vay là 12 tháng, lãi suất cho vay trong
hạn tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng là 8,5%/năm và được áp dụng mức lãi suất
theo quy định của Ngân hàng tại từng thời điểm giải ngân, lãi suất quá hạn bằng
150% lãi suất trong hạn, mục đích vay là bổ sung vốn lưu động kinh doanh xe đạp
điện và phụ tùng đi kèm.
Ngoài ra, ông Phan Hồng T và Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam ký
kết hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số HĐ: 10/2021 ngày 26/5/2021 với số tiền là
50.000.000 đồng. Đến ngày 23/3/2023, hai bên đã ký phụ lục hợp đồng sử dụng
thẻ tín dụng điều chỉnh hạn mức tín dụng mới với số tiền là 150.000.000 đồng, lãi
suất áp dụng là 18,5%.
Để đảm bảo cho các khoản vay nói trên, ông Phan Hồng T đã thế chấp quyền
sử dụng đất tại thửa đất số 607 (lô A9-13), tờ bản đồ số 13, khu tái định cư Tam
Anh Nam (giai đoạn 1.1) xã Tam Anh Nam, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam
theo GCN quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số
CO 186203 do UBND huyện Núi Thành cấp ngày 10/07/2018 thuộc quyền sở hữu
của ông Phan Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim T và quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất thuộc thửa đất số 129, tờ bản đồ số 12 tại phường An Sơn, thành phố
Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam theo GCNQSD đất số Đ 883092 do UBND thị xã Tam
Kỳ cấp ngày 01/01/2004 thuộc quyền sở hữu của ông Phan Hồng T và bà Nguyễn
Thị Kim T. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Phan Hồng T đã vi phạm nghĩa vụ
thanh toán nợ gốc và lãi theo các hợp đồng đã ký kết. Ngân hàng đã tạo điều kiện
và phối hợp với ông Phan Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim T nhưng ông Phan Hồng
T và bà Nguyễn Thị Kim T vẫn cố tình không trả nợ.
Nay, Ngân hàng yêu cầu ông Phan Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim T phải trả
số tiền gốc và lãi tính đến ngày 14/8/2024 là 3.468.214.312 đồng
Trong đó:
+ Nợ vay kinh doanh: nợ gốc: 3.090.000.000 đồng, nợ lãi: 149.590.00 đồng,
lãi quá hạn 55.397.000 đồng
+ Nợ thẻ tín dụng: gốc 150.000.000 đồng, dư nợ lãi: 23.232.003 đồng
Buộc ông Phan Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim T phải tiếp tục trả lãi trên số
nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín
dụng, kể từ ngày 15/8/2024 cho tới khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Trường
hợp ông T, bà T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Công
thương có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi
nợ.

3
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng ông Phan Hồng T và bà
Nguyễn Thị Kim T vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành lấy
lời khai và hoà giải.
* Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố
tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà, của nguyên đơn trong
quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa là đúng pháp luật.
Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được tống đạt thông báo hợp lệ
các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng không chấp hành đúng
về quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai
không có lý do. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn
và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, buộc bị đơn ông
Phan Hồng T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim T phải
trả cho Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam số tiền tổng cộng tính đến ngày
14/8/2024 là 3.468.214.312 đồng và tiếp tục tính lãi kể từ ngày 15/8/2024 cho đến
khi thanh toán xong khoản nợ. Trường hợp ông T, bà T không thực hiện nghĩa vụ
trả nợ thì Ngân hàng TMCP Công thương có quyền đề nghị cơ quan thi hành án
dân sự xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam khởi kiện đối với ông Phan Hồng
T và bà Nguyễn Thị Kim T về việc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản
nợ trong hợp đồng tín dụng, đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh
doanh thương mại giữa tổ chức và cá nhân có đăng ký kinh doanh với nhau và đều
có mục đích lợi nhuận nên đây là tranh chấp kinh doanh thương mại về hợp đồng
tín dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông
Phan Hồng T có địa chỉ tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Căn cứ điểm b
khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn
phiên tòa cho ông Phan Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim T, nhưng ông T, bà T vắng
mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành
xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố
tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Công thương Việt
Nam thì thấy:
Vào ngày 19/10/2023, ông Phan Hồng T và Ngân hàng TMCP Công thương

4
Việt Nam có ký kết Hợp đồng tín dụng hạn mức số 265/2023-
HĐCVHM/NHCT482- PGDTK với số tiền cho vay là 5.450.000.000đ (Năm tỷ bốn
trăm năm mươi triệu đồng), thời hạn vay là 12 tháng, lãi suất cho vay trong hạn tại
thời điểm ký hợp đồng tín dụng là 8,5%/năm và được áp dụng mức lãi suất theo
quy định của Ngân hàng tại từng thời điểm giải ngân, lãi suất quá hạn bằng 150%
lãi suất trong hạn, mục đích vay là bổ sung vốn lưu động kinh doanh xe đạp điện và
phụ tùng đi kèm. Ngoài ra, ông Phan Hồng T và Ngân hàng TMCP Công thương
Việt Nam còn ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số HĐ: 10/2021 ngày
26/5/2021 với số tiền là 50.000.000 đồng. Đến ngày 23/3/2023, hai bên đã ký phụ
lục hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng điều chỉnh hạn mức tín dụng mới với số tiền là
150.000.000 đồng, lãi suất là 18,5% /năm.
Để đảm bảo cho các khoản vay nói trên, ông Phan Hồng T và bà Nguyễn Thị
Kim T đã thế chấp quyền sử dụng đất tại thửa đất số 607 (lô A9-13), tờ bản đồ số
13, khu tái định cư Tam Anh Nam (giai đoạn 1.1) xã Tam Anh Nam, huyện Núi
Thành, tỉnh Quảng Nam theo GCN quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số CO 186203 do UBND huyện Núi Thành cấp ngày
10/07/2018 thuộc quyền sở hữu của ông Phan Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim T và
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 129, tờ bản đồ số 12
tại phường An Sơn, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam theo GCNQSD đất số Đ
883092 do UBND thị xã Tam Kỳ cấp ngày 01/01/2004 thuộc quyền sở hữu của ông
Phan Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim T.
Đối với tài sản đảm bảo nghĩa vụ cho khoản vay đã được các bên ký kết Hợp
đồng thế chấp số 66/2017/HĐTC-PGDTK ngày 28/7/2027 và đăng ký giao dịch bảo
đảm ngày 31/7/2017, tại Mục 1.01 Điều 1 của Hợp đồng thế chấp có thoả thuận về
nghĩa vụ được bảo đảm là toàn bộ nghĩa vụ trả nợ tại các hợp đồng tín dụng mà hai
bên đã ký kết trước, cùng hoặc sau thời điểm ký kết hợp đồng thế chấp. Do đó,
nghĩa vụ tại các hợp đồng tín dụng đều được bảo đảm bằng tài sản thế chấp nêu trên.
Xét thấy, các hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp đã ký kết giữa các bên
trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo về hình thức, nội dung, điều kiện có hiệu lực của
hợp đồng được quy định tại các Điều 117, 118, 119 và Điều 401 của Bộ luật dân
sự năm 2015.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Phan Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim T đã
vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam.
Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc tạo điều kiện nhưng ông T, bà T vẫn
không thực hiện nghĩa vụ đối với Ngân hàng.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, có đủ cơ sở để xác
định ông Phan Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và
lãi vay theo Hợp đồng tín dụng số 265/2023-HĐCVHM/NHCT482- PGDTK ngày
19/10/2023 và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số HĐ: 10/2021 ngày 26/5/2021
(được điều chỉnh bằng phụ lục hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/3/2023) đã
ký với Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam. Tính đến ngày 14/8/2024, ông

5
Phan Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim T còn nợ Ngân hàng TMCP Công thương
Việt Nam tổng số tiền là 3.468.214.312 đồng. Trong đó:
+ Nợ vay kinh doanh: nợ gốc: 3.090.000.000 đồng, nợ lãi: 149.590.00 đồng,
lãi quá hạn 55.397.000 đồng
+ Nợ thẻ tín dụng: gốc 150.000.000 đồng, nợ lãi: 23.232.003 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, ông T, bà T vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, không có ý kiến hoặc văn
bản trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có lời khai cũng
như cung cấp chứng cứ thể hiện đã thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân
hàng. Do vậy, có đủ cơ sở xác định ông T, bà T có vay tiền của Ngân hàng và đến
thời điểm hiện nay đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do vậy, căn cứ Điều 463, và Điều
466 của Bộ luật dân sự năm 2015 cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng
TMCP Công thương Việt Nam về việc buộc ông Phan Hồng T và bà Nguyễn Thị
Kim T phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam số
tiền gốc và lãi tính đến ngày 14/8/2024 số tiền tổng cộng là 3.468.214.312 đồng.
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy việc Ngân hàng TMCP Công thương
Việt Nam khởi kiện yêu cầu ông Phan Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim T phải trả
khoản nợ trong Hợp đồng tín dụng là có cơ sở. Do đó, căn cứ Điều 463 và Điều
466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín
dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam,
buộc bị đơn ông Phan Hồng T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà
Nguyễn Thị Kim T phải có nghĩa vụ trả toàn bộ số nợ gốc và lãi vay tạm tính đến
ngày 14/8/2024 cho Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam theo Hợp đồng tín
dụng số 265/2023-HĐCVHM/NHCT482- PGDTK ngày 19/10/2023 và Hợp đồng
sử dụng thẻ tín dụng số HĐ: 10/2021 ngày 26/5/2021 (được điều chỉnh bằng phụ
lục hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/3/2023) số tiền tổng cộng là
3.468.214.312 đồng. Trong đó:
+ Nợ vay kinh doanh: nợ gốc: 3.090.000.000 đồng, nợ lãi: 149.590.00 đồng,
lãi quá hạn: 55.397.000 đồng
+ Nợ thẻ tín dụng: gốc 150.000.000 đồng, nợ lãi: 23.232.003 đồng
Buộc ông Phan Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim T phải tiếp tục trả tiền lãi phát
sinh của khoản vay từ ngày 15/8/2024 theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số
dụng số 265/2023-HĐCVHM/NHCT482- PGDTK ngày 19/10/2023 và Hợp đồng
sử dụng thẻ tín dụng số HĐ: 10/2021 ngày 26/5/2021 (được điều chỉnh bằng phụ
lục hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/3/2023) cho đến khi thanh toán xong
toàn bộ khoản nợ. Trường hợp ông T, bà T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì
Ngân hàng TMCP Công thương có quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự xử lý
tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

6
[3]. Về chi phí tố tụng: chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.600.000đ (Một
triệu sáu trăm nghìn đồng), ông Phan Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim T phải chịu.
Ông Phan Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim T phải có trách nhiệm hoàn trả lại toàn
bộ số tiền nêu trên cho Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam.
[4] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Công thương Việt
Nam được chấp nhận nên ông Phan Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim T phải chịu
toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
Căn cứ vào các Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91,
Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Toà án, tuyên xử:
[1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Công thương
Việt Nam đối với ông Phan Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim T.
- Buộc ông Phan Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim T phải thanh toán cho Ngân
hàng TMCP Công thương Việt Nam số tiền gốc và lãi tính đến ngày 14/8/2024
tổng cộng là 3.468.214.312 đồng. Trong đó:
+ Nợ vay kinh doanh: nợ gốc: 3.090.000.000 đồng, nợ lãi: 149.590.00 đồng,
lãi quá hạn 55.397.000 đồng
+ Nợ thẻ tín dụng: gốc 150.000.000 đồng, nợ lãi: 23.232.003 đồng
- Buộc ông Phan Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim T phải tiếp tục chịu lãi phát
sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng dụng số 265/2023-HĐCVHM/NHCT482-
PGDTK ngày 19/10/2023 và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số HĐ: 10/2021 ngày
26/5/2021 (được điều chỉnh bằng phụ lục hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày
23/3/2023) kể từ ngày 15/8/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.
Trường hợp ông Phan Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim T không thanh toán
hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ trên thì Ngân hàng TMCP Công thương
Việt Nam có quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đảm bảo là
quyền sử dụng đất tại thửa đất số 607 (lô A9-13), tờ bản đồ số 13, khu tái định cư
Tam Anh Nam (giai đoạn 1.1) xã Tam Anh Nam, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng
Nam theo GCN quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất số CO 186203 do UBND huyện Núi Thành cấp ngày 10/07/2018 thuộc quyền sở
hữu của ông Phan Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim T và Quyền sử dụng đất và tài
sản gắn liền với đất tại thửa đất số 129, tờ bản đồ số 12, phường An Sơn, TP Tam
Kỳ, tỉnh Quảng Nam theo GCN QSD đất số Đ 883092 do UBND thị xã Tam Kỳ cấp

7
ngày 01/01/2004 thuộc quyền sở hữu của ông Phan Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim
T để thu hồi nợ.
Sau khi xử lý xong tài sản bảo đảm nêu trên mà không đủ để tất toán khoản
vay thì ông Phan Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim T phải tiếp tục thực hiện nghĩa
vụ trả nợ theo đúng cam kết đã ký với Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
tại các hợp đồng đã ký kết cho đến khi thanh toán hết số nợ còn lại.
[2]. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.600.000đ (Một
triệu sáu trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Thị Kim T và ông Phan Hồng T phải chịu.
Ông Phan Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim T phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam số tiền 1.600.000đ (Một triệu sáu trăm
nghìn đồng).
Kể từ ngày người có quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án
mà người có nghĩa vụ phải thi hành án không thanh toán khoản tiền chi phí tố tụng
trên thì phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm
2015.
[3]. Về án phí:
Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 101.364.000đ (Một trăm lẻ một
triệu, ba trăm sáu mươi tư nghìn đồng) ông Phan Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim
T phải chịu. Hoàn trả lại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam số tiền tạm
ứng án phí đã nộp là 49.083.000đ (Bốn mươi chín triệu, không trăm tám mươi ba
nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0001304 ngày
17/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ.
[4] Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
sơ thẩm; bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong
hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- TAND tỉnh Quảng Nam;
- VKSND tỉnh Quảng Nam;
- VKSND Tp.Tam Kỳ;
- Chi cục THADS Tp.Tam Kỳ;
- Lưu hồ sơ vụ án + Án văn ;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa
Trần Thị Bích Ân
8
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 04/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm