Bản án số 52/2024/DS-PT ngày 10/07/2024 của TAND tỉnh Phú Yên về tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 52/2024/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 52/2024/DS-PT ngày 10/07/2024 của TAND tỉnh Phú Yên về tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Yên
Số hiệu: 52/2024/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/07/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ YÊN
Bản án số: 52/2024/DS-PT
Ngày: 10-6-2024
V/v “Tranh chấp lối đi”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PYÊN
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa pH tòa: Ông Trần Minh Quang;
Các Thẩm phán: Lê Ngọc Minh và ông Mai Tấn Hoàng ;
Thư pH tòa: Đinh Thị Tân, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú
Yên;
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên: Ông Phan Văn Công
Kiểm sát viên tham gia pH tòa.
Trong các ngày 09 và 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Phú Yên xét xphúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 17/2024/TLPT-DS
ngày 15 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp lối đi chung”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2024/DS-ST ngày 11 tháng 01 năm 2024
của Toà án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 106/2024/QĐXXPT-
DS ngày 20 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Ông Nguyễn M, sinh năm 1956; nơi trú: Khu phố
Ninh Tịnh 5, Phường 9, Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn M: Nguyễn Thị Bích
Thuận, sinh năm 1991, nơi trú: 1953/22/27 Phạm Thế Hiển, Phường 6,
Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn M: Trần
Thị Như Thủy - Luật văn phòng luật Dân Phúc; địa chỉ: 367 Nguyễn
Huệ, Phường 5, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên; mặt.
2/ Bị đơn: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1992 và Hồ Thị Cúc Hg, sinh
năm 1993; nơi cư trú: Khu phố Ninh Tịnh 5, Phường 9, Thành phố Tuy Hòa,
tỉnh Phú Yên; cùng có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Phạm Văn H:
Ông Nguyễn Hg Quê, Luật sư Văn phòng luật sư Phúc Luật; địa chỉ: 03
Mậu Thân, Phường 5, thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên; ông Quê mặt
(vắng mặt khi tuyên án) .
3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Thị Hát, sinh năm 1957; nơi trú: Khu phố Ninh Tịnh 5,
Phường 9, Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
2
Người đại diện theo uỷ quyền của Thị Hát: Nguyễn Thị Bích
Thuận, sinh năm 1991, nơi trú: 1953/22/27 Phạm Thế Hiển, Phường 6,
Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
+ Bà Phạm Thị Đào, sinh năm 1975;
+ Bà Trần Thị Ngọc Ánh, sinh năm 1994;
Cùng trú tại địa chỉ: Thôn Sơn Thọ, xã Sơn Thành Tây, huyện Tây Hòa,
tỉnh Phú Yên; yêu cầu giải quyết vắng mặt.
+ Ông Phan Ngọc Tính, sinh năm 1974 Trần Thị Bích Tiên, sinh
năm 1979; cùng trú tại: Khu phố 3, phường Phú Thạnh, TP. Tuy Hòa, tỉnh
Phú Yên; ông Tính có mặt, bà Tiên vắng mặt.
+ Ông Nguyễn Minh Tuấn, sinh năm 1977 bà Thị Thuận, sinh
năm 1975; địa chỉ: Thôn Long Thủy, An Phú, thành phố Tuy Hòa, tỉnh
Phú Yên; ông Tuấn, bà Thuận vắng mặt.
4/ Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn M.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn ông Nguyễn M trình bày:
Hộ gia đình ông M được Nhà nước cân đối giao đất tại thửa đất số 792, tờ
bản đồ 255D, diện tích 550m
2
, gồm: 200m
2
đất thổ, 200 m
2
đất quy hoạch thổ,
54m
2
đất quy hoạch giao thông 96m
2
đất vườn, tọa lạc tại Ninh Tịnh 5,
Phường 9, thành phố Tuy Hòa. Năm 2010, gia đình ông M bán phần đất
diện ch 113,5m
2
cho bà Hg tách sổ, gia đình ông M được cấp GCNQSD
đất số BA 916647 cấp ngày 21/6/2010, diện tích 286m
2
.
Cha ông Nguyễn Út được Nnước cân đối giao thửa đất số 381, tờ
bản đồ 255D, diện tích 1250m
2
, gồm: 200m
2
đất thổ, 30m
2
đất vườn
1.020m
2
đất vườn tại Ninh Tịnh 5, Phường 9. Cha ông chết để lại cho mẹ ông
Bùi Th Thông quản lý, sử dụng. Sau đó, mẹ ông giao lại cho con
Nguyễn Minh Tuấn (em ruột ông M). Trước đây, đất của ông cha mẹ ông
đều giáp mặt đường Mậu Thân. Ông Tuấn cắt bán phần đất mặt tiền cho ông
Phỉ sử dụng. đất ông Tuấn lùi ra sau, xin đất của cha ông Nguyễn Út để
cất nhà ở, không đường đi nên ông M cho ông Tuấn đi trên đất của ông để
đi ra đường Mậu Thân, thời gian đường đi từ năm 2007; đường đi rộng
1,5m, dài 40m, nằm trong đất của ông nên không thể hiện trên bản đồ.
Khi ông Tuấn chuyển nhượng đất cho bà Trần Thị Ngọc Ánh, bà Ánh bán
cho ông Phạm Văn H thì ông H cũng sử dụng lối đi chung này. Thời gian mua
bán thì không nhưng từ năm 2019 đã xảy ra mâu thuẫn với nhà bà Ánh liên
quan đến đường đi. Ông M đơn báo lên UBND phường, giải quyết
nhưng không thỏa đáng. lối đi này trước đây ông Tuấn mở ra để hai gia
đình cùng sử dụng, bao gồm hộ nhà ông và hộ ông Tuấn.
Do đó, ông M khởi kiện, yêu cầu công nhận lối đi tọa lạc tại Ninh Tịnh 5,
Phường 9, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên hiện đang tranh chấp giữa ông và
3
ông Phạm Văn H lối đi chung. Yêu cầu ông Phạm Văn H không được xây
dựng tường rào, cản trở lối đi chung của hộ gia đình ông.
Người bảo vệ quyền và lợi ích cho ông Nguyễn M trình bày:
Từ thời điểm năm 1994, chiều rộng lô đất của ông M là 19,31m. Sau đó,
ông M chừa một phần ra để làm đường đi nên phần chiều rộng còn lại
18,3m. Trong đó, 5m ngang bán cho ông Hà, còn lại 13,3m thì gia đình ông
M sử dụng. Ông M xác định chiều dài khoảng 1m chừa ra m đường đi. Bị
đơn cho rằng ông Tuấn bán đường đi của riêng bị đơn không căn
cứ. Ngoài ra, ông M còn bán đất cho vợ chồng anh Tính, GCNQSD đất cho
ông Phan Ngọc Tính thể hiện đất lối đi. Về sở pháp luật thì các thửa
đất bên trong phải lối đi nên yêu cầu của ông M căn cứ. Việc UBND
phường cung cấp thông tin hoàn toàn không phù hợp với hồ địa chính,
theo trích lục bản đồ địa chính ngày 08/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng
đăng đất đai thành phố Tuy Hoà, tờ bản đồ số 255-D, đo đạc năm 1994
thể hiện thửa đất số 792, diện tích 550m2, thể hiện chiều rộng 19,3m. Do
đó, yêu cầu Toà án giải quyết công nhận đây là lối đi chung. Yêu cầu đưa Ủy
ban nhân dân Phường 9 vào tham gia tố tụng với cách người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan vì UBND phường 9 cung cấp những tài liệu, chứng cứ
không đúng nên ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn.
Bị đơn ông Phạm Văn H và Hồ Thị Cúc Hg trình bày:
Ông H, bà Hg mua căn nhà thuộc thửa đất số 1514, tờ bản đồ số 255-D từ
ngày 01/5/2020 của Phạm Thị Đào. Khi mua đã con đường hàng rào
bằng gạch. Đào i cho ông biết là con đường này do gia đình
ông Tuấn tự đổ tông xây tường lên, chỉ mình gia đình ông sử dụng.
Ông M cho rằng gia đình ông cản trở là không đúng. Khi ông về ở thì gia đình
ông M có phun thuốc trừ sâu và chất bẩn vào nhà, sau đó đập tường rào. Trước
khi đập thì vợ ông M Hát có qua nói chuyện cho đập tường rào một phần
để làm công việc, khi xong việc thì sẽ trám lại cho ông bà. Sau đó, ông M
Hát qua gặp nói chuyện về việc trổ lối đi, ông không đồng ý ông M,
Hát muốn đi chung thì phải thống nhất ngay từ đầu nhưng ông M, Hát
đưa ra nhiều lý do không nhất quán.
Ngày 06/7/2020, ông H đơn lên UBND phường 9 xin xây dựng tường
rào cao thêm 0,8m tường đã sẵn 1,5m. Ông H thông báo cho ông M,
bà Hát việc xây dựng tường rào và yêu cầu vợ chồng ông M tự tháo dỡ tôn nhà
ông Hát lên ờng thuộc sở hữu của ông bà nhưng bà Hát không đồng ý
tự tháo dỡ. an toàn cho gia đình con cái nên ông đã xây dựng tường
rào dựng cửa cổng nhưng gia đình ông M Hát liên tục những hành
vi đập phá gây thiệt hại.
Về lối đi chung, do ông Nguyễn Minh Tuấn tự chừa đường, tự đổ bê tông
xây tường rào phía Đông của con đường, năm 2016, ông Tuấn chuyển
nhượng lại cho Trần Thị Ngọc Ánh con ruột của Phạm Thị Đào. Sau
đó, bà Đào chuyển nhượng lại nhà và đất cho vợ chồng ông H. Đối với lối đi ra
đường Mậu Thân thì khi mua chỉ mình gia đình ông sử dụng, không ai
4
khác sử dụng. Ông M cho rằng gia đình gia đình ông cản trở là không đúng.
Do đó, việc ông M cho rằng đất đường đi phần đất của gia đình ông M
trong đó nên được quyền đi chung không đúng, yêu cầu Tòa án xác minh
nguồn gốc con đường đi, giải quyết theo quy định pháp luật để đảm bảo quyền
và lợi ích hợp pháp cho gia đình ông bà.
Thửa đất bán cho ông Tính, bà Tiên là đất vườn nằm trong thửa 792 của
gia đình ông M. Thửa đất anh Tính mua sau thời điểm con đường nhưng
đường này không thể hiện đường đi vào trong mảnh đất của ông Tính mà ch
thể hiện tứ cận đất của anh Tính. Nên việc ông M cho rằng đó là lối đi chung
là không đúng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Hát trình bày:
Thống nhất ý kiến của nguyên đơn, yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy
định pháp luật.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Ngọc Tính Trần
Thị Bích Tiên trình bày:
Năm 2019, ông bà nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông
Nguyễn M, diện ch 95,3m
2
, thửa đất số 255-D, loại đất trồng cây hàng năm
khác, địa chỉ thửa đất Khu phố Ninh Tịnh 5, Phường 9, thành phố Tuy Hòa.
Việc chuyển nhượng hợp pháp, được Sở tài nguyên môi trường tỉnh Phú
Yên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/01/2019. Khi nhận
chuyển nhượng thì ông bà đã thanh toán, chờ thủ tục chuyển mục đích sử dụng
đất xong mới giao tiền đủ. Khi xem xét đất để mua thì không cổng đường
đi, nhưng cổng vào đất của ông bà. Ông M cũng cam kết đường đi,
đã mở sẵn, ông M cũng phần đất chừa đường đi của ông M n ông yên
tâm mua. Thời điểm mua đất thì nhà ông H chưa đó. Khi đến xem đất thì
cổng trổ ra bên hông đường luồng khoảng hơn 1m để đi. Sau đó, nhà ông H
mua lại nhà đất này, không biết ai xây bít cái cổng này nên đất của ông
không có lối đi.
Ông qua nhà ông H để tHg lượng, cũng đnghị được trả tiền để
đường đi nhưng ông H không đồng ý. Nay ông M yêu cầu công nhận lối đi
chung, ông cũng đồng ý hiện nay, ông không sử dụng đất được
không đường đi chung. Yêu cầu Toà án giải quyết để đảm bảo quyền lợi
cho ông bà.
Bà Trần Thị Ngọc Ánh và bà Phạm Thị Đào trình bày:
Tại bản khai ngày 22/5/2023: Đào mua diện tích 50m
2
đất , còn
Ánh mua đất vườn đất đường đi của ông Tuấn, bà Thuận. Đường đi do ông
Tuấn đổ bê tông, tường gạch xây cao, không liên quan gì đến đất của ông M kế
bên. Gia đình Đào đó từ năm 2016 đến năm 2020, con đường chỉ gia
đình sdụng để đi lại. Khi mua lại thì cửa cổng phía ngoài đường Mậu
Thân, gia đình đvậy ở, không di dời cổng hay tôn tạo thêm. Trong quá
trình sdụng thì thời điểm ông M cũng tự cưa tường rào để mở lối đi qua,
bà cũng báo cáo công an phường 9. Sau đó, gia đình ông M tự lấp lại, không đi
qua lối này. Sau đó, Đào đã bán nhà đất toàn bộ diện tích đất hàng năm
5
khác đất đường đi cho ông H, Hg. Đào, Ánh không ý kiến
đối với yêu cầu khởi kiện của ông M Đào, Ánh cho rằng đã bán hết
nhà và đất, cả lối đi nên ông H, bà Hg là người quyết định, yêu cầu Toà án giải
quyết. Bà Đào, bà Ánh yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Ông Nguyễn Minh Tuấn và Thị Thuận đã được Toà án triệu tập
hợp lệ nhưng không mặt tại Toà án, không trình bày, từ chối trình bày
cho rằng không liên quan đến vụ án. Toà án tống đạt, tiến hành niêm yết theo
quy định pháp luật.
Tại bản án dân sự thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 11 tháng 01 năm
2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa quyết định, áp dụng: Các Điều
26, 35, 39, 92, 147, 157, 158,165, 166, khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân
sự; khoản 1 Điều 254 BLDS năm 2015; Khoản 15, khoản 16 Điều 3, Điều 95,
Điều 96, Điều 171 Luật đất đai năm 2013; điểm đ, khoản 1 Điều 12, Điều 14
và Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn M về
việc yêu cầu công nhận lối đi chung. Vì không có căn cứ.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án pdân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng
quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
Ngày 25/01/2024 nguyên đơn ông Nguyễn M kháng cáo cho rằng Toà
cấp sơ thẩm không đưa UBND phường 9, thành phố Tuy Hoà tham gia tố tụng
với tư cách người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ảnh hưởng đến quyền
lợi của nguyên đơn; yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu kháng cáo,
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận 59m
2
đất tranh chấp
trong vụ án là lối đi chung.
Tại pH tòa phúc thẩm:
-Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn người bảo vệ quyền
lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
và yêu cầu kháng cáo;
-Bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn không chấp
nhận kháng cáo của nguyên đơn, yêu cầu Toà giữ nguyên bản án sơ thẩm.
-Đại diện Viện kiểm sát trình bày ý kiến vttụng: Thẩm phán, Hội
đồng xét xử, Thư những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo
quy định của pháp luật; về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3
Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, huỷ bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi ngH cứu các tài liệu tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại pH tòa,
trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, kết quả tranh luận của đương
sự và ý kiến của Kiểm sát viên tại pH tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục ttụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu công nhận 59m
2
đất
lối đi chung, đã được Toà án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên thụ lý
6
giải quyết theo quy định của pháp luật. Không đồng ý với kết quả giải quyết của
Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà, nguyên đơn kháng cáo, nên vụ án được Toà
án nhân dân tỉnh Phú Yên thụ giải quyết theo quy định tại các Điều 38, Điều
293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của nguyên đơn đưa Uỷ ban nhân dân phường 9, thành phố
Tuy Hoà vào tham gia tố tụng với cách người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan. Thấy rằng, trong quá trình giải quyết vụ án, Toà cấp thẩm đã tiến hành
thu thập tài liệu chứng cứ của các quan liên quan. Ủy ban nhân dân phường 9,
thành phố Tuy Hòa đã cung cấp đầy đủ tài liệu chứng cứ hồ quản đất đai
qua các thời kỳ địa pHg nhưng không ý kiến về nội dung giải quyết vụ án.
Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp về lối đi chung, không thuộc trường hợp yêu
cầu Tòa phải hủy Quyết định biệt của quan, tổ chức, nên không bắt buộc
phải đưa Cơ quan, tổ chức vào tham gia tố tụng theo Điều 34 của Bộ luật tố tụng
dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc
đưa Ủy ban nhân dân phường 9, thành phố Tuy Hòa vào tham gia tố tụng với
cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[2] Xét toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy:
[2.1] Xét nguồn gốc đất tranh chấp:
Căn cứ lời khai của các đương skết quả thu thập chứng cứ xác định
được: Toàn bộ diện tích đất hộ gia đình ông M đang quản lý, sử dụng nguồn
gốc do cha mông M để lại được Nnước n đối giao tại thửa đất s792,
tờ bản đồ 255D, diện tích 550m
2
, tọa lạc tại Ninh Tịnh 5, Phường 9, thành phố
Tuy Hòa. m 2010, gia đình ông M bán phần đất diện tích 113,5m
2
cho
Hg tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình ông M được cấp
GCNQSD đất số BA 916647, cấp ngày 21/6/2010, diện tích 286m
2
.
Cha ông M Nguyễn Út được Nnước cân đối giao thửa đất số 381, tờ
bản đồ 255D, diện tích 1.250m
2
, tại Ninh Tịnh 5, Phường 9. Cha ông chết đlại
cho mẹ ông là bà Bùi Thị Thông quản lý, sử dụng. Sau đó, Thông giao lại cho
con Nguyễn Minh Tuấn (em ruột ông M). Ông Tuấn đã chuyển nhượng một
phần diện tích đất cho Trần Thị Ngọc Ánh Ánh chuyển nhượng cho vợ
chồng ông Phạm Văn H, bà Hồ Thị Cúc Hg.
Như vậy, toàn bộ diện tích đất lối đi các đương stranh chấp một
phần diện tích đất nguồn gốc của ông Út, Thông cha mẹ ông M, ông
Tuấn. Sau khi ông Út, bà Thông chết thì toàn bộ diện tích đất của cha mẹ ông M,
ông Tuấn được tách làm 02 thửa, gồm: Thửa 792 ông M quản lý, sử dụng và thửa
381 do ông Tuấn quản lý, sử dụng cùng thuộc tờ bản đ255D, tọa lạc tại Ninh
Tịnh 5, Phường 9, thành phố Tuy Hòa.
Căc cứ biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 26/12/2022 xác định lối
đi tranh chấp tứ cận: Phía Nam giáp đường Mậu Thân thuộc khu phố Ninh
Tịnh 5, Phường 9, Thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú n; phía Bắc giáp nhà bị đơn
Phạm Văn H; Phía Tây giáp nhà ông Phỉ; Phía Đông giáp nhà Trần Thị Hg,
đất nhà ông Nguyễn M.
7
Tại biên bản xác minh tại UBND Phường 9 ngày 21/6/2022 và ngày
17/10/2023 xác định lối đi do các đương stranh chấp (đường đi) một phần
diện tích thửa 381, tờ bản đồ 255-D do ông Nguyễn Út đứng tên, tự chừa ra làm
đường đi. Năm 1994, không thể hiện con đường đi tại hai thửa đất 792 thửa
đất 381. Theo bản đồ đo đạc năm 2018 thì xuất hiện con đường đi này. Đường đi
này không phải là đường đi công cộng do Nhà nước quản lý.
Tại biên bản xác minh tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố
Tuy Hòa cung cấp: Trích lục bản đồ địa chính khu đất ngày 15/6/2020 thể hiện
phía Tây thửa 1210 thửa 792 (ông M đang sử dụng) đường hẻm. Trong hồ
xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn M, Thị
Hát, được U ban nhân dân thành phố Tuy Hòa cấp số BA933207, ngày
12/2/2010, tại biên bản kiểm tra hiện trạng sử dụng đất ngày 05/01/2010 xác định
Tây giáp hẻm tự m”.
Từ các chứng cứ thu thập nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn không sở, không phù hợp với hiện trạng sử
dụng đất của nguyên đơn, không phù hợp với hồ quản đất đai tại địa pHg.
Nguyên đơn khởi kiện nhưng không cung cấp tài liệu chứng cứ gì để xem xét.
Toà cấp thẩm đã thu thấp chứng cứ, nhận định đầy đủ. Nguyên đơn
kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới để xem xét. Do đó,
Hội đồng xét xử không sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên
đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về chi ptố tụng án pdân sự thẩm: Hội đồng xét xử không
chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án thẩm, nên
án phí dân sthẩm chi phí tố tụng được giải quyết theo bản án dân sự
thẩm số 02/2024/DS-ST, ngày 11-01-2024 của Toà án nhân dân thành phố Tuy
Hoà, tỉnh Phú Yên.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn người cao tuổi nên được
miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn
M;
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án
dân sự thẩm số 02/2024/DS-ST, ngày 11-01-2024 của Tòa án nhân dân thành
phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên;
Áp dụng các Điều 26, 147, 157, 158, 165 Điều 293 của Bộ luật ttụng
dân sự; Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí a án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông
Nguyễn M đối với bị đơn Phạm Văn H, Hồ Thị Cúc Hg về tranh chấp lối đi
8
chung vì không có căn cứ (Vị trí, diện tích lối đi theo kết quả đo đạc của Công ty
TNHH TH Ý ngày 26/12/2022 kềm theo hồ sơ vụ án).
2. Về chi phí tố tụng án phí dân sự thẩm: Giải quyết theo bản án dân
sự thẩm số 02/2024/DS-ST, ngày 11/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố
Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn M được miễn án
phí dân sự phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kt ny tun án./.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
-TAND TP Tuy Hòa;
-Phòng NVKT&THA;
- VKSND tỉnh Phú Yên;
-TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
- Lưu hồ sơ.
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PH TÒA
Trần Minh Quang
Tải về
Bản án số 52/2024/DS-PT Bản án số 52/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 52/2024/DS-PT Bản án số 52/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất