Bản án số 498/2026/HS-ST ngày 14/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 498/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 498/2026/HS-ST ngày 14/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 498/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/08/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bản án số 498 ngày 14/8/2026
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 498/2026/HS-ST Bản án số 498/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 498/2026/HS-ST Bản án số 498/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 1 – ĐỒNG NAI Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 498/2026/HS-ST
Ngày: 14/8/2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Nh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nguyệt T
Ông Huỳnh Phi H
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhi – Thư ký Tòa án
nhân dân Khu vực 1 – Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Đồng Nai tham
gia phiên tòa: Ông Võ Hồng T – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đồng
Nai đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 458/2026/TLHS-
ST ngày 15/7/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
496/2026/QĐXXST-HS ngày 29/7/2026 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn P, sinh năm 1983; tên gọi khác: không; giới tính: Nam;
căn cước công dân: ************ cấp ngày 01/3/2023 nơi cấp Cục quản lý
hành chính về Trật tự xã hội; nơi cư trú: 542/8, Hồ Ngọc L, khu phố 26,
phường Bình Trị Đông B, Quận Bình T, Tp. Hồ Chí Minh (nay là phường An
Lạc, Tp. Hồ Chí Minh); nơi đăng ký thường trú: số 90, ấp Phú Thạnh, xã
Phước Th, huyện Châu Th, tỉnh Bến Tr (nay là phường Phú T, tỉnh Vĩnh L);
quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không;
trình độ học vấn: Lớp 02/12; con ông: Nguyễn Văn H, sinh năm 1946 (đã
chết); con bà: Trương Thị X, sinh năm 1949 (Còn sống);gia đình có 10 anh
em, bị cáo là con thư 05, có vợ là Nguyễn Thị Hồng Th (sinh năm 1980) và
có 02 con sinh năm 2011, 2013. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại
- Người bào chữa cho bị cáo Phong:
1. Bà Dương Thị T, sinh năm 1991
2. Bà Nguyễn Thu H, sinh năm 1991
Cùng địa chỉ: Phòng A0703 Chung cư Central P, 854-856 Tạ Quang B,
phường 5, quận 8 (nay là phường Chánh H), Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị hại:
1. Công ty TNHH sản xuất thương mại và dịch vụ Khánh An Ph – Đại
diện Anh Lê Duy Th, sinh năm 1983.
2
Địa chỉ: Tổ 1, khu phố Tân B, phường Tân H, Thành phố Tân Uyên,
Bình D (nay là khu phố Bến S, phường Tân H, Thành phố Hồ Chí Minh).
2. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1983
Địa chỉ: Khu tái định cư, khu phố 8A, phường Long B, Thành phố
Biên H, tỉnh Đồng N (nay là phường Long B, tỉnh Đồng Nai)
(Bị cáo có mặt; người bào chữa có mặt; bị hại có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 05/10/2024, chị Nguyễn Thị H, ngụ tại: xóm 1, xã Khánh Thuỷ,
huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình (nay là xã Khánh Hội, tỉnh Ninh Bình)
đăng thông tin lên mạng Facebook để bán 2500 kg phế liệu là các bao mạt
nhôm thì anh Phạm Hữu Đ, ngụ tại: xã Bình Thạnh, huyện Hồng Ngự, tỉnh
Đồng Tháp (nay là phường Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp) gọi điện thoại liên hệ
với chị H hỏi mua số phế liệu trên với giá 28.000 đồng/1 kg (Hai mươi tám
nghìn đồng/1 kg) thì chị H đồng ý. Tiếp đó, anh Đ liên lạc qua zalo với
Nguyễn Văn P để bán lại số phế liệu của chị H thì P đồng ý mua với giá
34.000 đồng/1 kg (Ba mươi bốn nghìn đồng/1 kg). Sau đó, anh Đ gọi điện
thoại cho chị H thỏa thuận sẽ thuê xe tải đến chở số phế liệu mạt nhôm của
chị H đến Trạm cân của Công ty TNHH “Thanh B” tại địa chỉ 173/374 đường
Điểu Xiển, khu phố 8, phường Long B, thành phố Biên H, tỉnh Đồng Nai (nay
là phường Long B, thành phố Đồng N) để cân sau đó sẽ thanh toán tiền thì chị
H đồng ý. Sau khi thông báo cho P đến Trạm cân của Công ty TNHH “Thanh
B” để giao hàng thì anh Đ liên hệ thuê xe ô tô tải biển số: 61H-142.91 của
Công ty TNHH sản xuất thương mại & dịch vụ Khánh An P do anh Lê Duy
T, ngụ tại: tổ 1, khu phố Tân B, phường Tân H, thành phố Tân Uyên, tỉnh
Bình Dương (nay là phường Tân Hiệp, thành phố Hồ Chí Minh) điều khiển
đến khu vực phòng trọ của chị H tại khu phố 8A, phường Long B, thành phố
Biên H, tỉnh Đồng Nai (nay là phường Long B, thành phố Đồng Nai) để chở
các bao mạt nhôm của chị H, còn chị H điều khiển xe mô tô chạy theo sau.
Khi đến Trạm cân của Công ty TNHH “Thanh B” thì anh Đ yêu cầu anh T
điều khiển xe ô tô tải biển số: 61H-142.91 vào trạm cân để cân rồi lấy phiếu
cân, còn anh Đ, chị Hu và P đợi bên ngoài. Sau khi cân xe xong, anh T điều
khiển xe ra ngoài đậu trước trạm cân rồi anh T đưa phiếu cân xe cho anh Đ và
anh Đ đưa cho P xem nên P yêu cầu anh Đ mở thùng xe cho P lên kiểm tra
hàng. Khi anh Đ và P lên thùng xe thì P dùng tay cầm thấy mạt nhôm mềm
nhuyễn nên P nghi ngờ chất lượng không đảm bảo. Lúc này P lấy 01 chiếc bật
3
lửa gas trong túi quần và bật lửa đốt thử 01 sợi mạt nhôm đang cầm trên tay
thì sợi mạt nhôm bốc cháy và tia lửa bắn ra rơi xuống thùng xe làm cháy các
bao mạt nhôm trên thùng xe, thấy vậy P dùng chân đạp vào các bao mạt nhôm
nhưng không dập được lửa nên P cùng anh Đ nhảy xuống xe và truy hô lên.
Nghe vậy, anh T dùng bình chữa cháy xịt vào đám cháy trên thùng xe rồi điều
khiển xe ô tô tải biển số: 61H-142.91 chạy ra 01 quán nước ven đường gần đó
và tiếp tục dùng vòi nước xịt lên thùng xe để chữa cháy nhưng không dập tắt
được đám cháy. Hậu quả của vụ cháy làm cháy hoàn toàn 2500 kg phế liệu
mạt nhôm của chị H và xe ô tô tải biển số: 61H-142.91 của anh Lê Duy T.
Sau khi sự việc xảy ra, anh Lê Duy T đã trình báo Công an phường Long B
lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên H (nay
là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đồng Nai) để điều tra, làm
rõ. Ngày 19/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên H (nay
là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đồng Nai) đã khởi tố vụ án,
khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn P về tội “Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng
đến tài sản” để điều tra, xử lý.
Tại bản kết luận giám định số 2175/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của
Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:
“1. Vùng cháy đầu tiên và điểm xuất phát cháy
- Vùng cháy đầu tiên là thùng chứa hàng hóa của xe 61H1-142.91.
- Điểm xuất phát cháy không đủ cơ sở kết luận.
2. Nguyên nhân gây cháy
Do tác động của con người (do vô ý bất cẩn …) làm cháy phoi nhôm bám
dính dầu khoáng và phụ gia sử dụng trong quá trình cắt gọt kim loại, gây cháy rồi
cháy lan gây ra vụ cháy.”
Tại bản kết luận định giá số 02/KL-SXD-HĐĐGTS ngày 11/6/2026 của
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự lĩnh vực xây dựng Ủy ban
nhân dân thành phố Đồng Nai kết luận: “01 (một) xe ô tô tải biển số: 61H-
142.91 trị giá 470.000.000 đồng (Bốn trăm bảy mươi triệu đồng), 2500 kg
mạt nhôm trị giá 63.750.000 đồng (Sáu mươi ba triệu bảy trăm năm mươi
nghìn đồng).”
Vật chứng của vụ án:
- 01 (một) xe ô tô biển số 61H1-142.91 bị cháy hư hỏng hoàn toàn, 01 giấy
mua bán và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
tỉnh Đồng Nai đã trả lại cho anh Lê Duy T;
- 01 (một) bật lửa gas hiệu Haphoco là công cụ Nguyễn Văn P sử dụng
vào việc phạm tội.
4
Về dân sự:
+ Bị cáo Nguyễn Văn P đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị H
45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng) và chị H không có yêu cầu gì
khác.
+ Bị cáo Nguyễn Văn P đã bồi thường cho Công ty TNHH sản xuất
thương mại & dịch vụ Khánh An P 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng)
và Công ty TNHH sản xuất thương mại & dịch vụ “Khánh An P” không có
yêu cầu gì khác.
Tại bản cáo trạng số 299/CT-VKSKV1-ĐN ngày 13/7/2026, Viện kiểm
sát nhân dân Khu vực 1 – Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Phong theo
khoản 2 Điều 180 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực
1 – Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp
dụng khoản 2 Điều 180; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình
sự năm 2015 để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Vô ý gây thiệt hại
nghiêm trọng đến tài sản” với mức cải tạo không giam giữ 02 năm đến 02
năm 06 tháng.
Luật sư bào chữa cho bị cáo P trình bày: Thống nhất nội dung cáo
trạng truy tố về tội danh, khung hình phạt. Về mức hình phạt đại diện Viện
kiểm sát đưa ra đã cân nhắc và đánh giá đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ của bị
cáo, tuy nhiên ngoài tình tiết giảm nhẹ của Viện kiểm sát đề ra; đề nghị Hội
đồng xét xử xem xét bị cáo có nhân thân tốt, trình độ học vấn thấp; có 02 con
nhỏ, đã khắc phục hoàn toàn hậu quả. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem
xét áp dụng cho bị cáo dưới mức khung hình phạt và nếu áp dụng cải tạo
không giam giữ thì không khấu trừ thu nhập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên
trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ
tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà,
bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng
khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết
định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đều hợp pháp.
5
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn P thừa nhận: Ngày 05/10/2024,
Nguyễn Văn P trong quá trình kiểm tra hàng hóa đã có hành vi dùng 01 chiếc
bật lửa gas đốt thử sợi mạt nhôm trên thùng xe ô tô tải biển số: 61H-142.91
của Công ty TNHH sản xuất thương mại & dịch vụ Khánh An P do anh Lê
Duy T điều khiển đang chở 2500 kg mạt nhôm của chị Nguyễn Thị H gây
cháy dẫn đến làm cháy hoàn toàn xe ô tô tải biển số: 61H-142.91 trị giá
470.000.000 đồng (Bốn trăm bảy mươi triệu đồng) và 2500 kg mạt nhôm trị
giá 63.750.000 đồng (Sáu mươi ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) trên
thùng xe. Đến ngày 19/02/2025 thì Nguyễn Văn P bị khởi tố để điều tra, xử lý.
Tổng giá trị tài sản Nguyễn Văn P đã gây thiệt hại là 533.750.000 đồng
(Năm trăm ba mươi ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và phù
hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ.
Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Vô ý
gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 180 Bộ
luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân Khu vực 1 – Đồng Nai đã
truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn P là nguy hiểm cho xã
hội, xâm phạm trực tiếp tài sản của người khác là khách thể được pháp luật
bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây hoang mang trong
quần chúng nhân dân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm có xã hội, đã dùng thủ
đoạn nguy hiểm xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được Bộ
luật hình sự bảo vệ.
[4] Về các tình tiết tăng nặng: Không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự nguyện bồi
thường thiệt hại, khắc phục hậu quả ; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp
ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo (điểm b, i, s
khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự); người bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo;
gia đình bị cáo có công với cách mạng (có bà được tặng danh hiệu Bà Mẹ
Việt Nam anh hùng; có cậu là liệt sĩ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự).
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả
của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng
chống tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo
không giam giữ đối với bị cáo là đủ để đảm bảo giáo dục, răn đe phòng ngừa
chung cũng đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật nhà
nước.
6
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn P đã bồi thường cho
Công ty TNHH sản xuất thương mại & dịch vụ Khánh An P 400.000.000
đồng (Bốn trăm triệu đồng) và Công ty TNHH sản xuất thương mại & dịch vụ
Khánh An P không có yêu cầu gì khác.
Bị cáo đã bồi thường cho bà Nguyễn Thị H 45.000.000đ, bà H không
có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ
luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bật lửa gas hiệu Haphoco là công cụ
Nguyễn Văn Phong sử dụng vào việc phạm tội.
[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc Hội buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000
đồng án phí dân sự sơ thẩm
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 2 Điều 180; Điều 36; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều
51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phaïm toäi “Vô ý gây thiệt hại nghiêm
trọng đến tài sản”.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn P 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ.
Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường An
Lạc, Thành phố Hồ Chí Minh nhận được Quyết định thi hành án và bản án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn P cho Ủy ban nhân dân phường phường An
Lạc, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo
không giam giữ. Bị cáo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và
được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân nơi giám sát, giáo dục đồng ý bằng văn
bản. Bị cáo Nguyễn Văn P phải thực hiện những nghĩa vụ trong quá trình cải
tạo không giam giữ tại địa phương theo quy định của Luật thi hành án hình
sự.
2. Về phần dân sự: áp dụng điều 584, 585, 586 và 589 bộ Luật Dân sự
Buộc bị cáo phải bồi thường cho Công ty TNHH sản xuất thương mại &
dịch vụ Khánh An P số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
Tạm giữ số tiền 50.000.000 đồng theo biên lai 0000118 ngày 14/8/2025 tại
7
Thi hành án Dân sự tỉnh Đồng Nai (nay là thành phố Đồng Nai) để đảm bảo
thi hành án.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bật lửa gas hiệu Haphoco là công cụ
Nguyễn Văn Phong sử dụng vào việc phạm tội. (theo biên bản giao nhận vật
chứng, tài sản ngày 24/7/2025).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc Hội. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Phong phải nộp 200.000đ (hai trăm
nghìn) án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn đồng)
án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án theo quy định của pháp luật. Các đương sự vắng mặt được
quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án
được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- Tòa án tỉnh Đồng Nai (1);
- Viện kiểm sát nhân dân KV1-ĐN (2);
- Công an tỉnh Đồng Nai (2);
- Phòng thi hành án dân sự KV1-ĐN(1);
- Bị cáo (1);
- Bị hại (1)
- Lưu hồ sơ vụ án (3).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Nguyễn Trần N
8
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Trần Nhàn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 498/2026/HS-ST Bản án số 498/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 498/2026/HS-ST Bản án số 498/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất