Bản án số 47/2026/HNGĐ-ST ngày 22/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 47/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 47/2026/HNGĐ-ST ngày 22/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 47/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/07/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: TRẦN THỊ KIM N "LY HÔN" NGUYỄN NGỌC Đ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 47/2026/HNGĐ-ST Bản án số 47/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 47/2026/HNGĐ-ST Bản án số 47/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – TÂY NINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 47/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 22-7-2026
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Dững
2. Ông Huỳnh Minh Quân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4
- Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Bích Duyên – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 108/2026/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 5 năm
2026 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
41/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa
số 28/2026/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim N, sinh năm 1985
Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng
mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Phước Đ, sinh năm 1980
Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07/4/2026, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn bà Trần Thị Kim N trình bày tóm tắt như sau:
Do quen biết và được hai bên gia đình đồng ý nên vào năm 2003 bà và ông
Nguyễn Phước Đ đã xác lập quan hệ vợ chồng, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn
và được Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày
14/11/2005.
Cuộc sống chung của vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2019 thì phát
sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được. Nguyên nhân mâu
2
thuẫn là bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn tiếng nói chung, ông Đ chơi
bời, không lo làm ăn, không quan tâm chăm sóc vợ con nên thường xuyên xảy ra cãi
vã, mặc dù sống chung nhà nhưng từ năm 2019 đến nay bà và ông Đ không ai nói
chuyện với ai, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng
không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên
bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Phước Đ.
Về nuôi con chung: Quá trình chung sống, bà và ông Đ có 02 con chung tên
Nguyễn Thị Thùy T, sinh ngày 26/11/2005 và Nguyễn Ngọc Kiều V, sinh ngày
15/02/2010. Hiện Nguyễn Thị Thùy T đã thành niên và có công việc ổn định nên không
yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu
Nguyễn Ngọc Kiều V. Hiện bà đang làm công nhân thu nhập trung bình mỗi tháng
10.000.000 đồng đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung nên không yêu cầu cấp dưỡng
nuôi con.
Về chia tài sản: Bà không tranh chấp về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
Về nợ chung: Quá trình chung sống, bà và ông Đ không có nợ chung.
Bị đơn ông Nguyễn Phước Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng
nhưng vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án bất kỳ văn bản nào nêu ý kiến cũng
như tài liệu chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Cháu Nguyễn Ngọc Kiều V có nguyện vọng, nếu cha mẹ ly hôn, thì được tiếp
tục sống cùng với mẹ.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục thông báo về phiên họp
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự
nhưng ông Nguyễn Phước Đ đều vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Do đó,
Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Đi diện Viện kim sát nhân dân khu vực 4 – Tây Ninh tham gia phiên tòa phát
biu quan đim:
Về thủ tục: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự và những người tham gia tố
tụng trong vụ án chấp hành pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm
Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung: Về hôn nhân: Quá trình chung sống, bà Trần Thị Kim N và ông
Nguyễn Phước Đ đã phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, ông Đ
không quan tâm chăm sóc gia đình, không lo làm ăn, dẫn đến vợ chồng thường xuyên
cãi vã. Quá trình giải quyết vụ án, ông Đ đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều
vắng mặt, không tham gia tố tụng, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, cũng không có biện pháp hàn gắn quan hệ hôn nhân. Do đó, có đủ căn cứ
xác định tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời
sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị chấp
nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Kim N theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2014; Về con chung: Bà N và ông Đ có hai con chung, trong đó cháu
3
Nguyễn Thị Thùy T, sinh ngày 26/11/2005 đã thành niên nên đề nghị không xem xét
giải quyết. Đối với cháu Nguyễn Ngọc Kiều V, sinh ngày 15/02/2010, hiện đang do bà
N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; đồng thời cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống
cùng mẹ nếu cha mẹ ly hôn. Bà N có việc làm và thu nhập ổn định, bảo đảm điều kiện
chăm sóc, nuôi dưỡng con. Ông Đ không tham gia tố tụng, không có ý kiến về việc
nuôi con. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Ngọc Kiều V cho bà Trần
Thị Kim N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Đối với nghĩa vụ
cấp dưỡng nuôi con, bà Trần Thị Kim N không yêu cầu ông Nguyễn Phước Đ cấp
dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Về tài sản chung và nợ
chung, nguyên đơn không yêu cầu giải quyết, bị đơn không có ý kiến nên đề nghị Hội
đồng xét xử không xem xét. Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ
các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Kim N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bà Trần Thị Kim N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn
Phước Đ, địa chỉ: xã T, tỉnh Tây Ninh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều
35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân
khu vực 4 - Tây Ninh thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Nguyễn Phước Đ đã được Tòa án
thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia vụ án nhưng đều vắng
mặt. Nguyên đơn bà Trần Thị Kim N có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản
2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn
tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ, bà N.
[3] Về nội dung tranh chấp:
[3.1] Về tính hợp pháp của quan hệ hôn nhân: Bà N và ông Đ chung sống với
nhau có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng
nhận kết hôn vào ngày 14/11/2005 (số 97, quyển số 01), nên quan hệ hôn nhân của bà
N và ông Đ là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3.2] Xét yêu cầu ly hôn của bà N, thấy rằng: Theo bà N, sau một thời gian chung
sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn
tiếng nói chung, ông Đ chơi bời, không lo làm ăn, không quan tâm chăm sóc vợ con
nên thường xuyên xảy ra cãi vã, mặc dù sống chung nhà nhưng từ năm 2019 đến nay
bà và ông Đ không ai nói chuyện với ai, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Hơn nữa,
sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt cho ông Đ các văn bản tố tụng để
tham gia vụ án. Tuy nhiên, ông Đ đều vắng mặt và không gửi cho Tòa án văn bản nêu
ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của bà N. Từ đó cho thấy, ông Đ cũng không có
thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nhận thấy, hôn nhân của bà N và ông Đ đã
không còn hạnh phúc, phát sinh mâu thuẫn trong nhiều năm, hiện các bên không còn
quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, một trong hai bên đã không còn thiết tha vun
đắp cuộc sống chung của vợ chồng, điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà N và
ông Đ đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân
không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp
nhận yêu cầu ly hôn của bà N.
4
[3.3] Về nuôi con chung: Quá trình chung sống, bà N và ông Đ có hai con chung
là Nguyễn Thị Thùy T, sinh ngày 26/11/2005 và Nguyễn Ngọc Kiều V, sinh ngày
15/02/2010. Đối với cháu Nguyễn Thị Thùy T đã thành niên, có khả năng lao động và
tự lập được nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Đối với cháu Nguyễn Ngọc
Kiều V, từ khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn đến nay, bà N là người trực tiếp chăm
sóc, nuôi dưỡng, bà N có việc làm và thu nhập ổn định, đủ điều kiện bảo đảm việc
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; ông Đ vắng mặt, không có ý kiến về quyền trực
tiếp nuôi con chung. Quá trình giải quyết vụ án, cháu Kiều V có ý kiến được tiếp tục
sống cùng mẹ nếu cha mẹ ly hôn. Do đó, để đảm bảo sự phát triển ổn định của con
chung nên giao cháu Kiều V cho bà N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và
giáo dục là phù hợp với các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Do bà N không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem
xét giải quyết.
[3.4] Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà N không tranh chấp về tài sản chung
và xác định vợ chồng không có nợ chung. Ông Đ vắng mặt và không có văn bản nêu ý
kiến về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy
định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí sơ thẩm: Bà Trần Thị Kim N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm
theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân
sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản
5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Kim N về
việc “Tranh chấp ly hôn” với bị đơn ông Nguyễn Phước Đ.
1. Về hôn nhân: Cho bà Trần Thị Kim N được ly hôn với ông Nguyễn Phước Đ.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Kiều V, sinh ngày 15/02/2010
cho bà Trần Thị Kim N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con
chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, Toà án có thể ra quyết
định thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng khi có yêu cầu của một hoặc hai bên.
Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để
cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
5
con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con
của người đó.
3. Về án phí: Bà Trần Thị Kim N phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng)
án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm
ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009769 ngày 08/5/2026 của Thi hành án dân
sự tỉnh Tây Ninh. Bà Trần Thị Kim N đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống
đạt hợp lệ.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi
hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 36 và 72 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi
hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tây Ninh;
- VKSND khu vực 4 – Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Đương sự;
- UBND xã Lương Hòa, tỉnh Tây Ninh;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Thị Thúy Hồng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 47/2026/HNGĐ-ST Bản án số 47/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 47/2026/HNGĐ-ST Bản án số 47/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất