Bản án số 56/2026/HNGĐ-PT ngày 24/09/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 56/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 56/2026/HNGĐ-PT ngày 24/09/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 56/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/09/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản sau ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 56/2026/HNGĐ-PT Bản án số 56/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 56/2026/HNGĐ-PT Bản án số 56/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 56/2026/HNGĐ-PT
Ngày 24-9-2026
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi
con, chia tài sản khi ly hôn.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hữu Hiệu
Các Thẩm phán: Bà Trần Minh Phương, ông Bùi Duy Khoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Phương - Thư ký Toà án nhân dân
thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
toà: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng
xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 54/2026/TLPT-
HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2026 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài
sản khi ly hôn; do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 105/2026/HNGĐ-ST
ngày 20 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng bị kháng
cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 59/2026/QĐ-PT ngày 21
tháng 8 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 50/2026/QĐPT-
HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1982; nơi đăng ký thường trú:
Thôn C, xã T, thành phố Hải Phòng; nơi ơ: Đ, thôn Đ, xã A, thành phố Hải Phòng;
có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Đinh
Huy T - Công ty L3, Đoàn luật sư tỉnh T; địa chỉ: Số A T, phường P, tỉnh Thái
Nguyên; có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn C, xã T, thành
phố Hải Phòng; có mặt.
- Người kháng cáo: Anh Nguyễn Văn T1.
Bản án sơ thẩm không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ, vụ án có nội dung tóm tắt
như sau:
2
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị S và anh T1 tự nguyện kết hôn và có đăng
ký kết hôn ngày 12/12/2004 tại UBND xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã
T, thành phố Hải Phòng).
- Chị S trình bày: Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2008. Nguyên
nhân do anh T1 không có trách nhiệm với gia đình, không quan tâm đến vợ con;
vợ chồng thường xuyên cãi vã, anh T1 xúc phạm danh dự, nhân phẩm chị và gia
đình chị; trong vấn đề về kinh tế, chi tiêu trong sinh hoạt, anh T1 luôn cho mình
đúng không tôn trọng ý kiến của chị. Từ năm 2020 mâu thuẫn vợ chồng trầm
trọng, chị S phải tự lái xe tải để chở hàng thuê trang trải cuộc sống gia đình, anh
T1 không có việc làm ổn định, thường xuyên can thiệp gây cản trở cho công việc
của chị. Anh chị đã sống ly thân hơn 1 năm, không còn tình cảm, không quan hệ
vợ chồng, không quan tâm chăm sóc nhau. Chị S đề nghị Tòa án giải quyết cho
chị được ly hôn anh T1.
- Anh T1 trình bày: Tháng 01/2006, anh T1 đi tu nghiệp sinh ở Hàn Quốc
đến năm 2013 thì về nước. Trong thời gian đó, chị S tự ý đi lao động tại Nhật Bản,
để mẹ già và con nhỏ ở nhà khoảng 03 năm thì chị S về nước. Khi anh T1 về nước,
vợ chồng chung sống bình thường. Từ năm 2018 tài sản, thu nhập của vợ chồng
của ai người đó quản lý riêng. Chị S không lo việc gia đình, lại đi lo việc họ hàng,
anh T1 có nói nhưng chị S không nghe, từ đó vợ chồng không nói chuyện với
nhau; anh T1 ở nhà chăm con, chị S đi lấy hàng, tự làm, không bàn bạc với anh.
Đến ngày 25/8/2025, anh T1 bảo chị S tổng kết tài chính, thì chị S vùng vằng
không chịu tổng kết, nên anh có nói nếu không tổng kết thì không làm nữa, khi
nào tổng kết thì tiếp tục làm, nên chị S tự bỏ đi. Anh T1 có đi tìm, liên hệ với chị
S cũng như gia đình chị S nhưng không được. Anh T1 không đồng ý ly hôn, do
chị S không muốn hoà giải nên anh T1 không có biện pháp nào để hoà giải.
2. Về con chung: Chị S và anh T1 có 03 con chung là Nguyễn Thị T2, sinh
ngày 05/9/2005, Nguyễn Thị Khánh N, sinh ngày 14/11/2013 và Nguyễn Khánh
L, sinh ngày 26/9/2015. Hiện nay cháu T2 đã trưởng thành, trên 18 tuổi, khỏe
mạnh đang đi làm công ty nên chị S và anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị S yêu cầu được chị trực tiếp nuôi dưỡng cháu N và cháu L, tự nguyện không
yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T1 tôn trọng nguyện vọng của
con, nếu ai nuôi con thì phải tự nuôi, người còn lại không phải cấp dưỡng. Cháu
N và cháu L đều trình bày có nguyện vọng được ở với mẹ.
3. Về quan hệ tài sản:
3.1. Chị S trình bày:
Chị S và anh T1 có tài sản chung là 01 xe ô tô tải 7,8 tấn, BKS 34C-266.83,
đăng ký tên anh T1. Nguồn tiền mua xe là do vợ chồng tích cóp đi nước ngoài có
được. Chị không đồng ý với việc anh T1 trình bày năm 2019 vay của chị L1
200.000.000đ để mua xe ô tô. Sau khi mua xe xong, hai vợ chồng cùng sử dụng
xe để chở rau đi buôn nhưng do dịch C nên không tiếp tục kinh doanh nữa, sau đó
chạy thuê hàng nếu ai thuê. Chị là người lái xe, còn anh T1 không lái xe vì anh
T1 không có bằng lái xe. Khi chở thuê thì hai vợ chồng cùng phụ giúp nhau bốc
vác hàng lên xe và xuống xe. Chỉ có năm 2022, do anh T1 đi làm ăn ở P nên chị
3
ở nhà thuê người phụ xe. Trong thời gian anh T1 đi làm ăn ở P, chị không biết
anh T1 làm ăn thế nào, mà anh T1 vẫn bảo chị phải gửi tiền vào cho anh T1 để
kinh doanh trong đó, anh T1 chưa bao giờ đưa cho chị một đồng tiền nào, mà chỉ
lấy tiền ở nhà đi.
Hiện nay, xe ô tô đang do anh T1 quản lý, chị S quản lý giấy đăng ký xe ô
tô, đăng kiểm xe ô tô. Tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản thì
anh T1 đã mang xe đi ra khỏi nhà, cố tình giấu xe, gây khó khăn cho giải quyết
vụ án. Chị S đồng ý kết quả định giá xe ô tô là 419.000.000đồng, chị S yêu cầu
được sử dụng xe và sẽ trả cho anh T1 là 209.500.000đồng.
Ngoài ra, vợ chồng có tài sản chung gồm: 01 xe máy SH, mua năm 2017,
đứng tên trong giấy đăng ký xe máy là tên của anh T1, giá mua là 80.000.000đồng,
hiện nay con là cháu T2 đang sử dụng xe máy này, xe này là vợ chồng cho cháu
mượn để cháu T2 làm phương tiện đi lại, không yêu cầu Toà án chia tài sản chung
này.
Về nợ chung: Vợ chồng có vay A - Chi nhánh N1 số tiền
1.300.000.000đồng để đầu tư kinh doanh và có thế chấp bằng quyền sử dụng đất
là tài sản riêng của chị S. Ngày 04/02/2026, đến hạn trả nợ ngân hàng, anh T1
không có ý kiến gì về việc trả nợ khoản vay, vì khoản vay thế chấp bằng quyền
sử dụng đất của chị, nên chị S đã tất toán khoản vay này. Nguồn tiền trả khoản
vay này là tiền chị vay 1.300.000.000đồng của anh Nguyễn Huy T3, sinh năm
1983, địa chỉ: Thôn Đ, xã A, thành phố Hải Phòng, đây là khoản tiền vay riêng
của chị dùng để trả nợ ngân hàng. Đây là khoản nợ chung của vợ chồng, nên chị
và anh T1 mỗi người phải chịu một nửa. Do chị đã trả tiền cho Ngân hàng bằng
tiền riêng của chị, nên anh T1 phải có trách nhiệm trả cho chị số tiền
650.000.000đồng. Đề nghị Toà án đối trừ nghĩa vụ giữa chị và anh T1, thì anh T1
phải trả cho chị số tiền là 440.500.000đồng.
3.2. Anh T1 trình bày:
Vợ chồng có tài sản chung gồm: 01 xe máy SH, mua năm 2017, hiện nay
con anh là cháu T2 đang sử dụng xe máy này, xe này là vợ chồng anh cho cháu
mượn để cháu T2 làm phương tiện đi lại, không yêu cầu Toà án chia tài sản chung
này. Ngoài ra, vợ chồng anh không có tài sản chung nào khác.
Về nợ riêng: Năm 2019, vợ chồng mua xe hết 800.000.000đồng, khi đó số
tiền đi lao động nước ngoài của anh là 600.000.000đồng, nên có vay thêm của các
cháu khác (không cung cấp họ tên, địa chỉ, tài liệu chứng minh) số tiền
200.000.000đồng. Anh T1 xác định xe ô tô là tài sản riêng của anh. Sau này (năm
2019) anh vay của chị L1 (chị gái ruột) 200.000.000đồng (không có giấy tờ vay)
để trả cho các cháu khác (Có lời khai anh T1 trình bày anh vay tiền của chị L1, có
lời khai anh thể hiện chị L1 đưa tiền cho hai vợ chồng (BL 62), có lời khai thể
hiện anh vay 200.000.000đồng trong đó chỉ có 170.000.000đồng là để trả tiền mua
xe ô tô mà trước đó cháu Nguyễn Văn T4 cho mượn tiền, còn 30.000.000đồng là
tiền chị L1 đưa anh cầm hộ. Việc trả tiền cho các cháu thì chị S là người trả vì số
tiền chị L1 đưa cho anh thì chị S cầm. Đây là tài sản riêng, nợ riêng của anh, nên
anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
4
Sau khi mua xe xong, hai vợ chồng cùng sử dụng xe để chở rau đi buôn
nhưng do dịch C nên không tiếp tục kinh doanh nữa, sau đó chạy thuê hàng nếu
ai thuê, còn cách đây khoảng 4 năm thì chủ yếu chở hàng cám - thức ăn chăn nuôi,
cứ ai thuê thì vợ chồng nhận chở thuê. Chị S là người lái xe, còn anh không lái xe
vì anh không có bằng lái xe. Khi chở thuê thì hai vợ chồng cùng phụ giúp nhau
bốc vác hàng lên xe và xuống xe (Chỉ có năm 2022, do anh đi làm ăn ở P nên chị
S ở nhà thuê người phụ xe). Khi vào P anh có thuê địa điểm và thuê một người
nữa để làm chậu cây cảnh và bán, ban đầu kinh doanh được, nhưng chỉ được
khoảng 01 năm khó khăn nên anh về nhà và hai vợ chồng cùng chạy xe chở hàng
thuê. Sau khi lấy nhau xong, vợ chồng anh ai làm được bao nhiêu tiền thì người
đó giữ, không lập văn bản thoả thuận mà chỉ nói bằng miệng, anh đi nước ngoài
thì anh tự vay tiền, tự trả, anh chỉ đưa tiền cho chị S chi tiêu sinh hoạt gia đình và
ngược lại chị S đi lao động nước ngoài thì chị S tự vay tiền tự trả (có lời khai anh
T1 trình bày anh có đưa cho chị S 34.000.000đồng để lo cho chị S đi nước ngoài).
Tiền sinh hoạt gia đình thì cả hai cùng bỏ ra, không ghi sổ, không ấn định mỗi
tháng mỗi người phải bỏ ra bao nhiêu tiền.
Anh T1 nộp cho Toà án bảng kê phần tài sản chung của vợ chồng, là quá
trình vợ chồng làm ra tài sản chung, chi tiêu số tiền này, nhưng do anh chưa tổng
hợp được hết, nên anh đề nghị Toà án cho anh thời hạn 01 tuần kể từ ngày
27/11/2025 thì anh sẽ nộp đơn và yêu cầu Toà án chia tài sản chung, nếu không
có đơn yêu cầu thì không yêu cầu Toà án giải quyết. Đối với xe ô tô tải BKS 34C-
26.683 anh T1 đã bán cho một người khác, xe anh không còn quản lý, anh không
cung cấp cho Tòa án là xe đã bán cho ai, bán bao nhiêu tiền, không cung cấp giấy
tờ mua bán. Đây là tài sản riêng của anh nên anh có quyền quản lý, muốn bán cho
ai thì bán. Anh không cung cấp xe cho Tòa án để phục vụ việc thẩm định tại chỗ
và định giá tài sản. Ngoài ra, trong nhà còn có bàn ghế, đồ dùng trong nhà đều là
tài sản riêng của anh.
Về khoản nợ: Đối với yêu cầu vay nợ A số tiền 1,3 tỷ đồng thì anh có ký
hợp đồng tín dụng, nhưng chị S là người cầm tiền, sử dụng số tiền này, anh không
cầm, không được chi tiêu, nên không chịu trách nhiệm. Khi vay có thế chấp bằng
thửa đất của chị S, nên nếu chị S xác định thửa đất này là tài sản riêng của chị S
thì chị S phải chịu khoản nợ 1,3 tỷ đồng này. Còn nếu chị S xác định thửa đất này
là tài sản chung của vợ chồng thì phải chia đôi và anh sẽ chịu một nửa khoản nợ
của ngân hàng.
Tại buổi hòa giải ngày 18/3/2026:
Chị S xác định thửa đất thế chấp ngân hàng là tài sản riêng của chị do bố
mẹ chị tặng cho riêng chị trong thời kỳ hôn nhân. Chị không sáp nhập thửa đất
này vào tài sản chung của vợ chồng. Số tiền 1,3 tỷ đồng vay ngân hàng này vợ
chồng mua đất trong Phú Quốc 650 triệu đồng, đất chưa được cấp GCNQSD đất,
mới lập vi bằng (chị sẽ cung cấp cho Toà án tài liệu này muộn nhất tới 10 giờ
ngày 23/3/2026, nếu không cung cấp được thì coi như không có việc mua đất này),
400 triệu đồng mua đất các chỗ khác nhưng không có giấy tờ (không có tài liệu
chứng minh), số tiền còn lại 250 triệu đồng dùng chỉ tiêu sinh hoạt trong gia đình,
5
đóng lãi. Trung bình mỗi tháng số tiền làm ra đều dùng chi tiêu hết trong gia đình,
có tháng thiếu.
Anh T1 trình bày: Không lập văn bản về việc chị S sáp nhập thửa đất này
là tài sản chung của hai vợ chồng. Số tiền 1,3 tỷ đồng này chị S cầm đi chi tiêu,
mua những gì anh đều không biết, anh không liên quan đến số tiền này. Toàn bộ
số tiền tích góp được trong gia đình chị S là người giữ, trung bình mỗi tháng tích
góp được 30 triệu đồng/tháng. Anh ở nhà trông con, đi bốc hàng, đi chở hàng thuê
trung bình được là 41 triệu đồng/tháng, tháng cao là 95 triệu đồng/tháng (anh sẽ
cung cấp tài liệu, chứng cứ về việc chở thuê này muộn nhất tới 16 giờ ngày
27/3/2026, nếu không cung cấp được thì không yêu cầu xem xét).
3.3. A - Chi nhánh N1 (A) trình bày: A và anh T1, chị S ký hợp đồng tín
dụng số 2303-LAV-202500191 ngày 04/02/2025 với số tiền cho vay
1.300.000.00đồng, ngày trả nợ là 04/02/2026. Tài sản bảo đảm cho khoản vay là
quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W012025 do
UBND huyện N cấp ngày 25/12/2002, số vào số cấp giấy chứng nhận
2228QSDD/1256/QĐUB ghi tên Nguyễn Thị S và toàn bộ các công trình xây
dựng trên đất tại thôn Đ, xã A, thành phố Hải Phòng. Sau khi ký hợp đồng, A đã
giải ngân 1.300.000.00đồng vào ngày 05/02/2025 vào tài khoản của ông Nguyễn
Văn T5 có số tài khoản 0964616323 tại V. Quá trình thực hiện hợp đồng, vợ chồng
anh T1, chị S vẫn trả lãi đầy đủ bằng phương thức trừ tiền hàng tháng tại tài khoản
đăng ký của chị S tại A. Hợp đồng vay được giao kết tại ngân hàng, có mặt cả anh
T1, chị S và đã có đầy đủ chữ ký, chữ viết của anh T1, chị S nên xác định đây là
khoản vay của anh T1, chị S. Ngày 04/02/2026 khoản cấp tín dụng cho anh T1,
chị S nêu trên đã được một mình chị S đến trụ sở A - Chi nhánh N1 tất toán với
số tiền nợ gốc: 1.300.000.000 đồng, số tiền lãi: 1.656.164 đồng. Tổng số tiền đã
trả nợ là 1.301.656.164 đồng.
3.4. Lời khai của anh Nguyễn Huy T3, sinh năm 1983 trú tại thôn Đ, xã A,
thành phố Hải Phòng: Do có quen biết, ngày 04/02/2026, anh cho chị S vay số
tiền 1.300.000.000đồng để chị S đáo hạn ngân hàng vì hiện nay chị S đang làm
thủ tục ly hôn tại Toà án nên đây là khoản vay riêng của chị S và chị S có trách
nhiệm trả số tiền này cho anh. Chị S có viết giấy vay tiền và hẹn 01 năm sẽ trả nợ
cho anh. Việc anh cho chị S vay là việc riêng của anh, anh không yêu cầu Toà án
giải quyết số tiền vay này trong vụ án này, anh và chị S sẽ tự giải quyết với nhau,
đề nghị Toà án không xác định anh là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong
vụ án này.
3.5. Lời khai của bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1958 và ông Vũ Đình C1,
sinh năm 1956 đều trú tại T, T, Hải Phòng.
Bà L1 là chị gái ruột của anh Nguyễn Văn T1, còn ông C1 là chồng bà L1.
Năm 2019 (không nhớ chính xác ngày, tháng) vợ chồng ông bà có việc xuống nhà
anh T1, chị S thì vợ chồng anh chị có hỏi vay tiền vợ chồng ông bà để mua xe vì
vợ chồng anh chị đã đặt xe nhưng thiếu tiền thì ông bà đồng ý. Mấy ngày sau, khi
anh T1 lấy xe thì một mình anh T1 sang nhà bà lấy số tiền 200.000.000 đồng, việc
vay chỉ nói với nhau bằng miệng, không lập văn bản, chỉ nói là khi nào có thì trả
6
tiền. Vợ chồng ông bà đã nhắc vợ chồng anh T1, chị S trả 1-2 lần thì anh T1 đều
khất (bà không gặp chị S vì chị S không có nhà). Đến tháng 11/2025 âm lịch anh
T1 một mình sang nhà ông bà nói là anh T1 đã bán xe lấy tiền trả vợ chồng ông
bà và bà lập cho anh T1 01 giấy biên nhận (anh T1 đã nộp cho tòa án). Do bà chỉ
nghĩ anh T1 trả tiền xong thì chỉ cần ghi cho giấy biên nhận là xong nên không
ghi rõ ngày nào. Đến nay ông bà xác định anh T1 đã trả nợ xong, không liên quan
đến vợ chồng ông bà, không yêu cầu giải quyết.
Quá trình anh T1, chị S chung sống có xảy ra mâu thuẫn nhưng được ông
bà hòa giải, động viên thì vợ chồng lại đoàn tụ. Chỉ sau khi mua xe ô tô thì vợ
chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, hai vợ chồng không thống nhất về làm ăn kinh
tế, anh T1 bảo hàng ngày đi làm thì phải ghi chép sổ sách chỉ tiêu nhưng chị S
không làm theo ý anh T1. Sau này anh T1 tự ghi chép chi tiêu. Ông bà có động
viên anh chị trả tiền ngân hàng vì hàng tháng trả lãi suất rất lớn nhưng anh chị
không nghe, anh T1 chỉ nói khi nào chị S có thì trả. Bà được biết số tiền vay ngân
hàng này chị S cho bạn của chị S vay chứ cũng không được tiêu. Ông bà bảo thu
xếp tiền trả ngân hàng, còn thiếu bao nhiêu thì các cháu, các chị cho vay để đỡ
tiền ngân hàng. Chị S đi nước ngoài về không có tiền phải đi xin tiền của mọi
người để chỉ tiêu trong nhà từ những thứ nhỏ nhất, còn chị S có tiền hay không
thì bà không biết. Chưa bao giờ anh T1 hay chị S gửi tiền cho bà cầm hộ. Chưa
bao giờ bà nhờ anh chị cầm tiền hộ, chỉ có lần cho vay 200.000.000 đồng. Nguồn
tiền cho vợ chồng S, T1 vay là tiền chung của vợ chồng ông bà đi làm có được.
Sau khi hai vợ chồng anh chị về nước thì chỉ ở nhà, một thời gian sau thì chị S đi
làm công ty một thời gian ngắn thì nghỉ làm đi học lái xe còn anh T1 ở nhà trông
con, làm ruộng, cấy lúa. Sau khi mua ô tô xong thì hai vợ chồng cùng làm xe với
nhau, chị S lái xe còn anh T1 bốc vác cùng. Tháng 8/2025 chị S lái xe kê khai tài
chính được bao nhiêu thì để tiền trả nợ còn thiếu vay để trả nợ ngân hàng nhưng
chị S không nghe, bỏ đi luôn. Khi cãi nhau chị S không công khai tiền nên anh T1
đóng cổng không cho đi làm, chị S cầm chìa khóa, giấy tờ xe bỏ đi. Ông bà có gọi
chị S về đoàn tụ nhưng chị S không nghe. Anh chị có 03 con chung. Cháu Nguyễn
Thị T2 đang làm công ty, trên 18 tuổi. Nguyễn Thị N đang học lớp 7, Nguyễn
Văn L2 đang học lớp 5. Hiện nay các cháu đang ở cùng anh T1.
3.5. Lời khai của anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1981 trú tại D Chợ H,
phường L, thành phố Hải Phòng: Anh T4 là cháu gọi anh T1 là cậu ruột. Anh xác
định có cho cậu T1 vay 170.000.000đồng để mua xe ô tô tải, nhưng do thời gian
đã lâu nên không nhớ chính xác ngày, tháng, không viết giấy biên nhận, khi vay
chỉ có một mình cậu T1 hỏi vay, mợ S không hỏi vay. Vài tháng sau cậu T1 đã trả
cho anh xong số tiền này, không còn nợ gì nhau nữa. Khi cậu mợ mua xe ô tô thì
anh có đi xem xe cùng, còn hôm lấy xe thì do anh bận nên không đi cùng được.
Từ trước đến nay vợ chồng anh không vay tiền, hay mượn tiền, cầm hộ tiền cậu
T1, mợ Sinh.
3.6. Kết quả thẩm định, định giá tài sản: Anh T1 xác định xe ô tô BKS 34C-
266.83, anh đã bán. Anh không cung cấp giấy tờ mua bán xe nên hội đồng thẩm
định không thẩm định tại chỗ được chiếc xe. Hội đồng định giá xác định giá trị
chiếc xe tương đương tại thời điểm định giá là 419.000.000 đồng.
7
4. Tại bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 105/2026/HNGĐ-ST ngày
20/6/2026, Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng quyết định:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử chị S ly hôn anh T1.
- Về quan hệ con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị Khánh N và
Nguyễn Khánh L cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi
hoặc có thay đổi khác. Anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quan hệ tài sản:
+ Về tài sản chung: Chị S và anh T1 có tài sản chung là xe ô tô tải có mui,
nhãn hiệu HUYNDAI, màu xanh tải trọng 7800kg, BKS 34C-266.83, đăng ký
ngày 24/3/2020 mang tên Nguyễn Văn T1 trị giá 419.000.000 đồng. Giao xe ô tô
cho anh T1 quản lý, sử dụng và anh T1 phải trả chị S số tiền là 209.500.000 đồng.
Chị S giao Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 080394 do Công an tỉnh H cấp
ngày 24/3/2020 và đăng kiểm xe ô tô cho anh T1 quản lý, sử dụng.
+ Về nợ chung: Anh T1 và chị S nợ A - Chi nhánh huyện N1 II số tiền
1.300.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 2303-LVA-2025.00191 ngày
04/02/2025. Do số tiền này chị S đã trả nợ ngân hàng, không yêu cầu trả lãi nên
anh T1 có nghĩa vụ trả chị S số tiền 650.000.000 đồng.
Tổng số tiền anh T1 phải trả cho chị S là 859.500.000đồng.
Ngày 01/7/2026, anh T1 kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không đồng ý nội dung kháng
cáo của bị đơn, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị đơn đồng ý ly hôn, đề nghị Tòa án giao cho vợ chồng mỗi người nuôi
một con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, đề nghị Hội đồng xét xử
xác định xe ô tô là tài sản riêng của bị đơn và không đồng ý trả nợ chung với
nguyên đơn khoản nợ 1.300.000.000đồng.
Nguyên đơn và bị đơn thống nhất khoản tiền vay ngân hàng
1.300.000.000đồng là khoản tiền vay từ năm 2022 để cho chị M (là chỗ quen biết)
vay, đến nay chị M chưa trả. Khoản tiền này đã nhiều lần làm thủ tục đáo hạn,
đến năm 2026 nguyên đơn mới tất toán với ngân hàng.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp
luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và đề nghị Hội đồng
xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm, buộc
anh T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định và đã nộp tạm ứng
án phí nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
8
Chị S và anh T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn, có đăng
ký kết hôn ngày 12/12/2004 tại UBND xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã
T, thành phố Hải Phòng) nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh
chị phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, cách
thức tổ chức và phát triển kinh tế gia đình. Thực tế anh chị đã ly thân, không còn
quan tâm chăm sóc nhau. Anh cũng xác định việc đoàn tụ khó có kết quả, không
đồng ý ly hôn là vì các con. Quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm đã tiến hành
hòa giải nhưng không đạt kết quả. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã thực
sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt
được, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn xử cho anh chị ly hôn là
phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Tại phiên tòa
phúc thẩm, anh T1 đồng ý ly hôn chị S vì xác định anh chị không thể tiếp tục về
sống chung được nữa. Do vậy, Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm về quan hệ
hôn nhân theo hướng công nhận sự thỏa thuận thuận tình ly hôn của anh chị.
[2.2] Về quan hệ con chung: Anh chị có 03 con chung là Nguyễn Thị T2,
sinh ngày 05/9/2005; Nguyễn Thị Khánh N, sinh ngày 14/11/2013 và Nguyễn
Khánh L, sinh ngày 26/9/2015. Cháu Nguyễn Thị T2 đã thành niên, có khả năng
lao động, anh T1, chị S đều không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải
quyết. Đối với cháu N và cháu L, quá trình giải quyết vụ án các cháu đều có
nguyện vọng được ở với mẹ; chị S có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả hai cháu
và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con, còn anh T1 lúc thì đồng ý với ý
kiến của các con, lúc lại yêu cầu vợ chồng mỗi người nuôi dưỡng một con. Xét cả
anh T1 và chị S có chỗ ở, kinh tế, thu nhập tương đối ổn định, có thời gian chăm
sóc con chung, các con anh chị đều đã tự lo được các sinh hoạt nhỏ cho mình, các
cháu đã trên 07 tuổi đều có nguyện vọng ở với chị S. Do đó, cấp sơ thẩm giao
cháu Nguyễn Thị Khánh N và cháu Nguyễn Khánh L cho chị S trực tiếp nuôi
dưỡng là phù hợp; chị S không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện
nên không xem xét giải quyết theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân
và gia đình. Kháng cáo của anh T1 về nội dung này không được chấp nhận.
[2.3] Về tài sản chung:
[2.3.1] Đối với xe máy SH, các đương sự đều xác định đây là tài sản chung
của vợ chồng nhưng hiện giao cho con chung sử dụng và không yêu cầu Tòa án
giải quyết nên không xem xét.
[2.3.2] Đối với xe ô tô tải nhãn hiệu HYUNDAI, biển kiểm soát 34C-
266.83; Giấy chứng nhận đăng ký xe số 080394 cấp ngày 24/3/2020 tên anh T1.
Đây là tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của anh chị. Anh T1 cho rằng chiếc
xe là tài sản riêng của mình vì được mua bằng 600.000.000 đồng là tiền anh T1
đi lao động tại Hàn Quốc tích cóp được và 200.000.000 đồng vay của chị Nguyễn
Thị L1. Tuy nhiên, số tiền anh T1 khai tích cóp trong thời gian đi lao động tại Hàn
Quốc nếu có cũng là tài sản chung của vợ chồng; khoản tiền anh T1 khai vay của
chị L1 thực tế anh T1 và chị L1 đều xác định đã thanh toán đủ cho nhau, chị L1
còn xác định khoản tiền vay đó là vợ chồng anh T1, chị S vay; thực tế sau khi mua
xe, hai anh chị cùng sử dụng để chở hàng thuê tạo thu nhập cho gia đình. Do vậy,
9
cấp sơ thẩm xác định xe ô tô tải là tài sản chung của vợ chồng chị S và anh T1 là
có cơ sở. Quá trình giải quyết vụ án, anh T1 không giao xe cho Tòa án để xem
xét, thẩm định mà khai đã bán xe cho người khác, tuy nhiên không cung cấp được
hợp đồng mua bán, thông tin người mua hoặc giấy tờ chuyển nhượng. Cấp sơ
thẩm giao cho anh T1 sở hữu xe ô tô và buộc anh T1 trả cho chị S 1/2 giá trị xe là
209.500.000 đồng là phù hợp.
[2.3.3] Về khoản nợ tại A - Chi nhánh N1: Tại Hợp đồng tín dụng số 2303-
LAV-202500191 ngày 04/02/2025 thể hiện chị S và anh T1 cũng là bên vay, có
đầy đủ chữ ký của hai người, số tiền vay là 1.300.000.000đồng, mục đích vay để
kinh doanh. Ngân hàng xác định khoản vay do cả hai vợ chồng cùng xác lập, quá
trình thực hiện hợp đồng vợ chồng vẫn trả lãi đầy đủ đến ngày 04/02/2026 chị S
đã tất toán món vay. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh T1 và chị S khai thống nhất
khoản tiền vay ngân hàng 1.300.000.000đồng là khoản tiền vay từ năm 2022 để
cho chị M (là chỗ quen biết) vay, đến nay chị M chưa trả. Khoản tiền này đã nhiều
lần làm thủ tục đáo hạn, đến năm 2026 nguyên đơn mới tất toán với ngân hàng.
Như vậy, đây là khoản vay chung nên cả hai anh chị đều phải có nghĩa vụ trả nợ.
Anh T1 xác định chị S tất toán khoản vay bằng tiền của vợ chồng nhưng không
có căn cứ chứng minh trong khi chị S có tài liệu chứng cứ chứng minh đã đi vay
tiền để trả cho ngân hàng. Do chị S đã sử dụng tiền riêng để thanh toán khoản nợ
chung của vợ chồng nên cấp sơ thẩm buộc anh T1 phải có hoàn trả cho chị Sinh
phần nghĩa vụ của mình tương ứng với 1/2 khoản nợ, số tiền là 650.000.000 đồng
là phù hợp quy định tại Điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình. Số tiền anh T1 và chị
S cho chị M vay do các bên tự giải quyết, trường hợp có tranh chấp có quyền khởi
kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ kiện khác.
[3] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm về
quan hệ hôn nhân do có tình tiết mới tại cấp phúc thẩm và không chấp nhận kháng
cáo của anh T1 về quan hệ con chung và quan hệ tài sản. Tại phiên tòa phúc thẩm,
chị S tự nguyện chịu cả án phí sơ thẩm ly hôn nên không cần thiết phải sửa bản
án sơ thẩm về nội dung này.
[4] Do sửa bản án sơ thẩm nên anh T1 không phải chịu án phí phúc thẩm
theo Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự
QUYẾT ĐỊNH:
1. Sửa Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 105/2026/HNGĐ-ST ngày
20 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng về quan hệ hôn
nhân như sau:
Căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình;
10
Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị S và anh Nguyễn Văn
T1.
2. Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn T1. Giữ nguyên Bản
án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 105/2026/HNGĐ-ST ngày 20 tháng 6 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng về quan hệ con chung và quan
hệ tài sản.
3. Về án phí phúc thẩm: Hoàn trả anh Nguyễn Văn T1 số tiền 300.000đồng
đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000035
ngày 01/7/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 6 và 7 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34
Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND TP. Hải Phòng;
- TAND khu vực 9 - Hải Phòng;
- THADS KV9- Hải Phòng;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Hữu Hiệu
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 56/2026/HNGĐ-PT Bản án số 56/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 56/2026/HNGĐ-PT Bản án số 56/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất