Bản án số 829/2026/DS-PT ngày 16/09/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 829/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 829/2026/DS-PT ngày 16/09/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
Quan hệ pháp luật: Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 829/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Mai Cẩm H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 829/2026/DS-PT Bản án số 829/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 829/2026/DS-PT Bản án số 829/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH LONG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 829/2026/DS-PT
Ngày: 16-9-2026
V/v “Tranh chấp Bồi thường thiệt hại
do công trình xây dựng khác gây ra”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Chí Đức
Ông Nguyễn Thế Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông La Thành Tân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh
Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Kim Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 338/2026/TLPT-DS ngày 27 tháng 05
năm 2026 về “ Tranh chấp Bồi thường thiệt hại do công trình xây dựng khác gây
ra”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 117/2024/DS-ST ngày 14 tháng 04 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Vĩnh Long bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 615/2026/QĐ-PT ngày
18 tháng 06 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Mai Cẩm H, sinh năm 1957; địa chỉ: Số A, Phạm H1,
Khóm D, Phường I, thành phố V (nay là Khóm A, phường L), tỉnh Vĩnh Long; có
mặt.
2. Bị đơn: Ông Trần Văn Ý, sinh ngày 02/12/1966; địa chỉ: Số A, Phạm H1,
Khóm D, Phường I, thành phố V (nay là Khóm A, phường L), tỉnh Vĩnh Long; có
mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Trương Võ Kim T; địa chỉ: Số B,
đường P, Phường D, thành phố V (nay là phường P), tỉnh Vĩnh Long là người đại
diện theo ủy quyền của bị đơn (theo giấy ủy quyền ngày 21/12/2023); vắng mặt.
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Trần Văn Ý: Luật
sư Nguyễn Quyết Q – Công ty L Chi nhánh V thuộc Đoàn luật sư Thành phố H;
địa chỉ: Số B, đường P, Phường D, thành phố V (nay là phường P), tỉnh Vĩnh
Long; có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Phạm Thị Việt B; địa chỉ: Số A, Phạm H1, Khóm D, Phường I,
thành phố V (nay là Khóm A, phường L), tỉnh Vĩnh Long; có mặt.
3.2. Chị Nguyễn Huế H2; vắng mặt.
3.3. Chị Nguyễn Ngọc Bích T1; vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Số A, Phạm H1, Khóm D, Phường I, thành phố V (nay là
Khóm A, phường L), tỉnh Vĩnh Long.
3.4. Ông Nguyễn Văn P; địa chỉ: Số A, ấp H, xã T, huyện L (nay là phường
T), tỉnh Vĩnh Long; vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Mai Cẩm H.
- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Vĩnh
Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 24/7/2023 (BL 14) và đơn khởi kiện bổ sung ngày
15/9/2023 (BL 23) bà Mai Cẩm H trình bày:
Nhà số A, Phạm H1, Khóm D, Phường I, thành phố V (nay là Khóm A,
phường L), tỉnh Vĩnh Long của bà H xây dựng từ năm 2006. Hiện trạng là căn
nhà cấp 4, diện tích xây dựng 62,31m², kết cấu nhà: Khung bê tông cốt thép, mái
tole, vách tường, nền gạch men. Qua nhiều năm sử dụng, đến nay nhà số A không
có sửa chữa, cải tạo. Căn nhà số A của bà H liền kề với căn nhà số 169/7 của ông
Trần Văn Ý. Năm 2006, bà H đã khởi công xây dựng nhà, khi bà H vừa mới xây
tường nhà xong, thì ông Ý khởi công xây dựng nhà cấp 4 của ông Ý. Ngày
14/5/2022, ông Ý đập nhà cũ, xây dựng nhà mới đã làm ảnh hưởng thiệt hại hư
hỏng nhà bà H. Khi xây dựng lại nhà số A phát sinh nhiều vết nứt.
Trong quá trình xây dựng nhà ông Ý, nhà bà H có xuất hiện một số vết nứt,
lún nên bà H làm đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân Phường I, thành phố V giải quyết
ngày 30/7/2022. Ngày 16/3/2023, Ủy ban tổ chức hòa giải, bà H yêu cầu ông Ý
khắc phục hư hỏng tường và thấm dột tường. Tại biên bản hòa giải ông Ý đồng ý
3
sẽ sửa chữa lại các vết nứt trên tường của nhà bà H, thay gạch nứt, còn việc cạo
tường sơn lại thì ông Ý không đồng ý.
Nguyên nhân xuất hiện những vết nứt, lún theo bà H do phía nhà ông Ý xây
dựng gây ra, nên bà H yêu cầu ông Ý phải bồi thường thiệt hại, cụ thể: (1) Bể hồ
đà giằng tole trên nóc nhà thành từng khúc, từng miếng. (2) Thấm dột toàn bộ bức
tường nhà bà H liền kề nhà ông Ý từ nóc tới chân tường, từ trước ra sau; do bị
thấm dột nên nước sơn tường bị tróc. (3) Hồ đỗ trên tấm tole nóc nhà thành từng
đốm, những đốm hồ này sẽ làm tole mau sét mụt, nên bà H đã cạo những đốm hồ
này rồi và đã sơn chống sét được một chút. (4) Gạch lót nền phía sau nhà bị nứt.
(5) Vách tường ngang trong nhà bị nứt. (6) Bức tường ngang sau nhà bị nứt bung
tróc hồ tô và nứt đầu cột liền kề nhà ông Ý ảnh hưởng đến máng xối hứng nước,
cửa sau bị kẹt có một cánh không đóng mở được, còn một cánh cũng đang bị kẹt
nhẹ nhưng còn mở ra khép lại đuợc. (7) Tự cắt làm hư hỏng miếng tole của bà H
đậy úp trên nóc nhà để nước mưa không chảy xuống kẻ giữa hai nhà.
Từ khi ông Ý làm ảnh hưởng thiệt hại, hư hỏng nhà bà H cho đến nay, ông
Ý không có khắc phục hoặc bồi thường phần thiệt hại hư hỏng nào và hiện nay bà
H và ông Ý cũng không có thỏa thuận việc khắc phục hay bồi thường thiệt hại. Bà
H dự tính giá trị tài sản thiệt hại với số tiền là 67.885.000 đồng. Cụ thể tài sản
thiệt hại: (1) Các bức tường trong nhà bị nứt phải đập bỏ xây dựng lại, diện tích
49m
2
. (2) Bức tường phía sau nhà bị nứt bể đang bung tróc, đập bỏ xây dựng lại,
diện tích 13,9m
2
. (3) Máng xối hứng nước mưa phải đập bỏ xây dựng lại, do máng
xối đang bị nứt và do tường nằm dưới máng xối phải đập bỏ, diện tích 9,5m
2
. (4)
Gạch lót nền trong nhà phía sau bị nứt, phải thay gạch mới, diện tích 4m
2
. (5) Do
đập bỏ tường làm lại ảnh hưởng đến la phong, diện tích 61m². (6) Nước sơn để
sơn tường có diện tích, bức tường liền kề nhà ông Ý 73m²; các bức tường trong
nhà 49m
2
, tổng cộng 122m
2
. (7) Bức tường liền kề nhà ông Ý bị bể tường dưới
tấm tole lợp nhà, bể đà giằng, bị thấm dột, do ông Ý xây dựng nhà xong nên không
sửa được phần tường bị bể dưới tấm tole lợp nhà và để bảo đảm tường không bị
thấm dột phải tháo gỡ làm lại, lợp lại tole mới, diện tích 60m.
Tiền vật tư để khắc phục tài sản bị thiệt hại gồm: (1) Gạch ống xây tường:
4.200 viên x 1.300đ/1 viên = 5.460.000 đồng; tiền thuê xe cho 4 chuyến x
250.000đ/1 chuyến = 1.000.000 đồng. (2). Xi măng: 35 bao x 85.000đ/1 bao =
2.975.000 đồng. (3) Cát xây: 5 xe x 350.000đ/1 xe = 1.750.000 đồng. (4) Gạch
men lót nền: 4m x 120.000đ/1 mét = 480.000 đồng. (5) Đá ½: 1 xe x 400.000 đ/1
xe = 400.000 đồng. (6) Sắt Ø 8: 100 kg x 17.000 đ/1 kg = 1.700.000 đồng. (7) Sắt
Ø 6: 100 kg x 17.000 đ/1 kg = 1.700.000 đồng. (8) Dây dẽo: 5 kg x 20.000 đ/1 kg
= 100.000 đồng. (9) La phong: 61m x 120.000 đ/1 m = 7.320.000 đồng. (10) Nước
4
sơn tường: 2 thùng x 1.500.000 đ/1 thùng = 3.000.000 đồng. (11) Tole lạnh lợp
nhà: 60m x 110.000 đ/1m = 6.600.000 đồng; tổng cộng: 32.485.000 đồng. Tiền
công thợ: Thợ phải làm từ khâu tháo gỡ đến xây dựng lại cho hoàn thành là 16
ngày x 5 người x 380.000 đ/1 người = 30.400.000 đồng, tiền thuê mướn dụng cụ
xây dựng và máy móc = 5.000.000 đồng; tổng cộng 35.400.000 đồng.
Tổng cộng tiền vật tư và công thợ, thuê dụng cụ xây dựng là 67.885.000
đồng. Bà Mai Cẩm H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Văn Ý phải bồi
thường thiệt hại tài sản cho bà H với số tiền theo Bảng dự tính do bà H lập ngày
15/9/2023 là 67.885.000 đồng hoặc bồi thường số tiền theo kết quả định giá tài
sản bị thiệt hại của Hội đồng định giá.
Tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 25/12/2024 (BL 45), ngày 19/12/2025 (BL
101) bà Mai Cẩm H trình bày:
Bà Mai Cẩm H bổ sung nội dung khởi kiện như sau: Số tiền mà bà H yêu
cầu phải bồi thường thiệt hại hư hỏng căn nhà số A của bà H trước đây là
67.885.000 đồng, là số tiền được tính dựa trên cơ sở hư hỏng chỗ nào thì sửa chữa
chỗ đó. Hiện nay nhà bà H bị hư hỏng nặng không còn khả năng sửa chữa, phải
đập bỏ xây dựng lại nhà mới, bà H tự xác định mức độ thiệt hại và tính chi phí để
khắc phục thiệt hại căn nhà số A của bà H, với số tiền là 230.787.000 đồng theo
bảng dự tính tiền xây dựng kèm theo, cụ thể: Tiền vật tư xây dựng: (1) Cọc bê
tông 15 x 15 x 4m = 48 cây x 520.000 đ/1 cây = 24.960.000 đồng. (2) Sắt Ø 12 =
22 cây x 160.000 đ/ 1 cây = 3.520.000 đồng. (3) Sắt Ø 10 = 54 cây x 105.000 đ/1
cây = 5.670.000 đồng. (4) Sắt Ø 8 = 110 kg x 17.000 đ/1kg = 1.870.000 đồng. (5)
Sắt Ø 6 = 300 kg x 17.000 đ/1 kg = 5.100.000 đồng. (6) Dây dẽo = 20 kg x 20.000
đ/ 1kg = 400.000 đồng. (7) Cát xây 32 khối x 400.000 đ/1 khối = 12.800.000 đồng.
(8) Đá 1 x 2 = 13 khối x 420.000 đ/1 khối = 5.460.000 đồng. (9) Đá 4 x 6 = 5 khối
x 370.000 đ/1 khối = 1.850.000 đồng. (10) Gạch ống = 11.200 viên x 1.300 đ/1
viên = 14.560.000 đồng. (11) Gạch thẻ = 2.000 viên x 1.200 đ/ 1 viên = 2.400.000
đồng. (12) Gạch lót nền = 63 m x 120.000 đ/1 mét = 7.560.000 đồng. (13) Xi
măng = 250 bao x 85.000 đ/1 bao = 21.250.000 đồng. (14) Bột trét = 10 bao x
290.000 đ/1 bao = 2.900.000 đồng. (15) Đòn tay sắt 4 x 8 = 70,2 m x 60.000 đ/1
mét = 4.212.000 đồng. (16) Tole lạnh lợp nhà 70 m x 120.000đ/1m = 8.400.000
đồng. (17) S nước 6 thùng x 3.000.000 đ/ thùng = 18.000.000 đồng. (18) Vít bắn
tôn 100 con = 100.000 đồng. (19) La phong 63 m x 125.000 đ/1m = 7.875.000
đồng. (20) Đá cắt 3,5 T = 2 viên. (21) Dây điện, bóng đèn. (22) Các cánh cửa. (23)
Tiền công + tiền thuê mướn dụng cụ xây dựng và máy móc 63 m² x 1.300.000 đ/1
mét = 81.900.000 đồng. Tổng cộng 230.787.000 đồng.
5
Bởi lẽ trên, bà H yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Văn Ý và bà Phạm Thị Việt
B bồi thường thiệt hại căn nhà số A của bà H, với số tiền theo Bảng dự tính do bà
H lập ngày 02/12/2024 là 230.787.000 đồng. Hoặc bồi thường số tiền theo kết
luận trưng cầu giám định tài sản bị thiệt hại và tính chi phí khắc phục thiệt hại của
Trung tâm Giám định chất lượng xây dựng.
Tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 06/4/2026 bà Mai Cẩm H trình bày:
Bà H bổ sung nội dung khởi kiện như sau: Số tiền mà bà H yêu cầu phải
bồi thường thiệt hại hư hỏng căn nhà số A của bà H trước đây là 230.787.000
đồng, là tính theo giá vật liệu và tiền công thợ ở thời điểm ngày 25/12/2024. Hiện
nay giá vật liệu xây dựng và tiền công thợ tăng rất nhiều so với giá ở thời điểm
ngày 25/12/2024.
Bà H thay đổi, bổ sung yêu cầu bồi thường thiệt hại căn nhà số A của bà H,
với số tiền là 345.279.600 đồng, để phù hợp với giá cả thị trường hiện tại và bổ
sung thêm những khoản chi phí được bồi thường; đồng thời giữ nguyên yêu cầu
hoặc bồi thường cho bà H số tiền theo kết luận trưng cầu giám định tài sản bị thiệt
hại và tính chi phí khắc phục thiệt hại của Trung tâm Giám định chất lượng xây
dựng.
Bởi lẽ trên, bà H yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Văn Ý và bà Phạm Thị Việt
B bồi thường thiệt hại căn nhà số A của bà H, với số tiền 345.279.600 đồng theo
Bảng dự tính tiền xây dựng nhà do bà H lập ngày 06/4/2026. Hoặc bồi thường số
tiền theo kết luận trưng cầu giám định tài sản bị thiệt hại và tính chi phí khắc phục
thiệt hại của Trung tâm Giám định chất lượng xây dựng. Cụ thể: (1) Cọc bê tông
15 x 15 x 4 m = 48 cây x 520.000 đ/1 cây = 24.960.000 đồng. (2) Sắt Ø 12 = 22
cây x 178.000 đ/ 1 cây = 3.916.000 đồng. (3) Sắt Ø 10 = 54 cây x 111.000 đ/1 cây
= 5.994.000 đồng. (4) Sắt Ø 8 = 110 kg x 17.800 đ/1kg = 1.958.000 đồng. (5) Sắt
Ø 6 = 300 kg x 17.800 đ/1 kg = 5.340.000 đồng. (6) Dây dẽo = 20 kg x 21.000
đ/1kg = 420.000 đồng. (7) Cát xây = 40 Xe x 400.000 đ/1 xe = 16.000.000 đồng.
(8) Đá 1 x 2 = 20 Xe x 850.000 ₫/1 xe = 17.000.000 đồng. (9) Đá 4 x 6 = 10 xe x
750.000 đ/1 xe = 7.500.000 đồng. (10) Gạch ống = 11.200 viên x 1.9700 đ/1 viên
= 22.064.000 đồng. (11) Gạch thẻ = 2.000 viên x 2.050 đ/1 viên = 4.100.000 đồng.
(12) Gạch lót nền = 63 m x 175.000 đ/1 m = 11.025.000 đồng. (13) Xi măng =
250 bao x 85.000 đ/1 bao = 21.250.000 đồng. (14) Bột trét = 10 bao x 290.000
đ/1 bao = 2.900.000 đồng. (15) Đòn tay sắt 4 x 8 = 70,2 m x 63.000 đ/1 m =
4.422.600 đồng. (16) Tole lạnh lợp nhà = 70 m x 120.000đ/1m = 8.400.000 đồng.
(17) S nước = 6 thùng x 3.450.000 đ/thùng = 20.700.000 đồng. (18) Vít bắn tôn 5
bịt x 45.000 đ/bịt = 225.000 đồng. (19) La phong = 63 m x 135.000 đ/1m =
6
8.505.000 đồng. (20) Tiền công + tiền thuê mướn dụng cụ xây dựng và máy móc
63 m² x 1.800.000 đ/ 1 mét 113.400.000 đồng. (21) Chi phí tiền thuê nhà ở và để
đồ đạc vật dụng gia đình trong thời hạn 6 tháng xây dựng nhà 169/6, mỗi tháng là
5.000.000 đồng x 6 tháng = 30.000.000 đồng. (22) Chi phí di dời vật dụng gia
đình đến nơi chỗ thuê nhà lượt đi và lượt về gồm: chi phí nhân công và thuê xe
bagát (4 người x 400.000 đ/1 ngày x 2 lượt = 3.200.000 đồng + thuê xe chở 10
chuyến x 300.000 đ/1 chuyến x 2 lượt = 6.000.000 đồng, tổng cộng 9.200.000
đồng. (23) Chi phí mua dây điện mới để làm lại hệ thống điện trong nhà, mua dây
đồng của máy điều hòa, vì tháo gỡ ra sẽ bị hư hết, không sử dụng lại được, phải
sử dụng dây mới, khoảng 5.000.000 đồng. (24) Chí phí thuê thợ tháo và lắp lại
máy móc điện tử, khoảng 1.000.000 đồng.
Tại bản khai ý kiến ngày 26/12/2023 (BL 105), ngày 03/4/2025 (BL 139)
của ông Trần Văn Ý trình bày:
Bà Mai Cẩm H yêu cầu Tòa án buộc ông Ý phải bồi thường thiệt hại tài sản
cho bà H với tổng số tiền theo Bảng dự tính là 67.885.000 đồng, 230.787.000 đồng
và 345.279.600 đồng hoặc bồi thường cho bà H số tiền theo kết quả định giá tài
sản bị thiệt hại của Hội đồng định giá thì ông Ý không đồng ý. Nhà bà H đã khởi
công xây dựng vào năm 2006, thời gian xây dựng nhà quá lâu, việc nứt vách
tường, thấm dột, bị sụt lún là điều không tránh khỏi. Nhà ông Ý trước đây xây
dựng sau nhà bà H, nhưng đến năm 2022 đã bị xuống cấp nứt vách tường, thấm
dột, bị sụt lún trầm trọng không thể sửa chữa lại, nên năm 2022 ông Ý phải xây
dựng mới lại để ở. Bà H cho rằng việc ông Ý khởi công xây dựng nhà mới đã làm
ảnh hưởng thiệt hại hư hỏng nhà bà H là không đúng nên không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của bà H.
Tại bản khai ý kiến ngày 09/4/2025 (BL 148) của bà Phạm Thị Việt B trình
bày:
Bà B cho rằng nhà bà H bị sụt lún, nứt là do các nguyên nhân sau: (1) Do
nhà xây dựng quá lâu đã 20 năm, nên nhà bà H bị xuống cấp, hư hỏng, sụt lún,
nứt là chuyện tất nhiên, đây là nguyên nhân chính. (2) Do tay nghề chuyên môn
còn yếu của thợ vườn ở nông thôn đảm trách xây dựng không đúng với thiết kế
và giấy phép xây dựng; đề nghị bà H cung cấp bản vẽ thiết kế và giấy phép xây
dựng nhà để Tòa xem xét, giải quyết. (3) Do kết cấu địa tầng đất yếu, bởi trước
đây là khu vực ao vườn nhãn nền đất mềm yếu, khả năng chịu tải kém, nên ảnh
hưởng đến sự ổn định của nền nhà và gây ra nứt, sụt lún. (4) Do thiết kế móng
không thỏa đáng cho tải trọng lún, thợ thi công móng bằng cừ tràm (thiếu chiều
dài độ sâu và không đủ số lượng cừ tràm). Hơn nữa lao động bằng tay (thủ công)
7
dẫn đến lực ép không đạt mức cần thiết. (5) Do thợ nông thôn thi công không có
đủ kiến thức và kỹ năng, nên thực hiện các công việc một cách không đảm bảo
đúng quy chuẩn, dẫn đến sụt, lún.
Trước đây bà H có đơn khởi kiện và tính giá trị tài sản thiệt hại với số tiền
là 67.885.000 đồng, trong đó, có những khoảng không hợp lý: (1) Thực tế, việc
nhà bà H xây dựng trước đây đã nghiêng sang nhà bà B khoảng 7- 8 cm (hiện tại
phía trước nhà còn lại, không có xây dựng, nhưng nhà bà H vẫn nghiêng) và đề
nghị Quý Tòa đến xác minh, xem xét thực tế. (2) Mặt khác, bà H cho rằng la phông
và tole lợp nhà bà H hư hỏng, với số tiền là 13.920.000 là không đúng, không hợp
lý. (3) Bà H tính tiền gạch lót nền, tiền sơn, tiền công thợ, với số tiền là 38.880.000
đồng là không đúng, không hợp lý. (4) Nhà cũ đã 20 năm rồi, xuống cấp hư hỏng
nhiều, thực tế cách đây nhiều năm (nhà bà H mới xây dựng năm 2006, chưa đầy
3,0 tháng thì bị mưa dột), hiện tại chứng cứ vẫn còn miếng tole lợp chùm qua
không gian nhà bà B khoảng 10 cm, chưa tháo dỡ và yêu cầu xây dựng lại nhà
mới là khó chấp nhận được.
Bà H yêu cầu bồi thường 67.885.000 đồng, sau đó tiếp tục yêu cầu nhiều
hơn là 230.787.000 đồng và 345.279.600 đồng (liên tục thay đổi), bà B không
đồng ý. Bà B cho rằng trong quá trình xây dựng nhà bà B, bà H luôn túc trực 24/24
giờ để quan sát (bà B có bằng chứng quay các clip có hình bà H và con bà H),
không cho xây dựng gần sát nhà bà H, kể cả làm móng nền nhà. Gây khó khăn đủ
chuyện; chờ thợ về, leo lên nóc nhà cao tường nhà bà B (con bà B bắt gặp, có clip
quay ghi hình bà H), thực tế bà H yêu cầu nhiều lý do quá đáng đối với gia đình
bà B, cũng như với thợ hồ trong quá trình xây dựng.
Bà H kiếm chuyện liên tục, gửi hàng chục lá đơn thưa trong 3 năm (2022,
2023, 2024), gửi rất nhiều đơn đến các đồng chí Lãnh đạo tỉnh và nhiều Cơ quan,
ban ngành: Gửi Bí thư Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy,
Văn phòng T3, Ban Nội chính Tỉnh ủy, Ủy Ban K, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Đảng
ủy Khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh, Ủy ban nhân dân phườnI, .... Thậm chí
đến Tòa án mượn phô tô bản vẽ và giấy phép xây dựng, ... tiếp tục thưa kiện những
vấn đề khác (không liên quan gì đến tranh chấp giữa bà B với bà H), ... Các Cơ
quan này đã xác minh, giải quyết xong, đã có Kết luận và thông báo cho bà H rõ.
Mỗi lần bà H thưa với Chính quyền đến để hòa giải là xin thêm, liên tục thay đổi
yêu cầu, cụ thể như xin thêm cây cột để chóng đỡ máng xối, ... nay lại ghép cho
việc xây nhà mới của bà B làm hư máng xối, là không đúng.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Huế H2, Nguyễn
Ngọc Bích T1 và Nguyễn Văn P: Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ
8
lý vụ án. Tuy nhiên, Tòa án không nhận được văn bản trình bày ý kiến và không
giao nộp tài liệu, chứng cứ của đương sự và vắng mặt không có lý do trong suốt
quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn bà Mai Cẩm H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Văn
Ý và bà Phạm Thị Việt B bồi thường thiệt hại căn nhà số A của bà H với số tiền
345.279.600 đồng theo Bảng dự tính tiền xây dựng nhà do bà H lập ngày
06/4/2026 và chịu chi phí tố tụng với số tiền là 500.000 đồng.
Quan điểm của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Trần
Văn Ý:
1. Về tố tụng: Việc bà H khởi kiện bổ sung số tiền bồi thường thiệt hại theo
đơn khởi kiện ngày 06/4/2026 với số tiền 345.279.600 đồng là vượt quá phạm vi
khởi kiện ban đầu, đơn khởi kiện bổ sung của bà H được đưa ra sau khi Tòa án đã
có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, chưa được Tòa án thụ lý, nên đề nghị Hội đồng
xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện vượt quá của nguyên đơn.
2. Về nội dung: Ông Ý không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H.
Bởi lẽ, đây là vụ án tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, vì vậy để xác
định ông Ý có trách nhiệm bồi thường hay không thì cần xét đến các yếu tố sau
đây:
- Xét về hành vi vi phạm pháp luật: Trong quá trình xây dựng thì phía ông
Ý đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về xây dựng, có xin phép xây
dựng và không vi phạm quy định trong lĩnh vực xây dựng, không có Cơ quan nào
xử phạt vi phạm hành chính.
- Xét về thiệt hại thực tế: Các yêu cầu khởi kiện của bà H đưa ra chỉ là do
bà H tự kê khai, không có đơn vị, Cơ quan có thẩm quyền xác nhận, không chứng
minh được thiệt hại thực tế, nên đề nghị Tòa án không chấp nhận.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra: Bà H
không đưa ra được chứng cứ chứng minh ông Ý khi xây nhà làm ảnh hưởng đến
nhà của bà H, trong vụ án các bên đều thừa nhận nhà của bà H xây dựng trước
nhà ông Ý, nhà ông Ý đến năm 2022 thì cũng bị xuống cấp nghiêm trọng nên mới
xây dựng nhà mới, về nền đất của hai nhà đều có nền đất yếu, trước đây là cái ao
và các bên đổ cát để xây dựng. Ông Ý khi xây nhà có thực hiện việc ép cọc và
suốt quá trình ép cọc thì bà H không khiếu nại việc nhà bị hư hỏng, hay lún nứt
thể hiện qua các đơn khiếu nại của bà H, đồng thời chỉ sau khi ông Ý xây dựng
nhà xong thì bà H mới tranh chấp, khiếu nại và khởi kiện liên quan đến việc lún,
9
nứt. Bà H không đưa ra chứng cứ, chứng minh trước khi nhà ông Ý xây dựng thì
nhà bà H còn nguyên vẹn. Trong quá trình hòa giải thì ông Ý có đồng ý hỗ trợ
một phần chi phí cho bà H là do bà H ngoài việc khởi kiện thì bà H còn gửi đơn
đến Cơ quan nơi ông Ý đang làm việc để gây khó khăn cho công việc của ông Ý,
gây áp lực cho ông Ý nên mới đồng ý hỗ trợ với điều kiện là bà H không thưa
kiện, khiếu nại làm ảnh hưởng đến uy tín, công việc của ông Ý, nhưng bà H không
đồng ý, tại phiên tòa ông Ý đã rút lại sự tự nguyện nên đề nghị Tòa án không ghi
nhận sự tự nguyện của ông Ý.
- Về yếu tố lỗi: Phía ông Ý hoàn toàn không có lỗi gây ra thiệt hại bà H,
chính bà H đã thừa nhận khi ông Ý mới tháo dỡ nhà thì nhà của bà H đã bị thấm,
dột, điều đó thể hiện thiệt hại xảy ra là do chính nhà của bà H đã xuống cấp, không
còn đảm bảo giá trị sử dụng.
Do hòa giải không thành Tòa án nhân dân khu vực 1 - Vĩnh Long đã đưa
vụ án ra xét xử. Tại quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 117/2026/DS-ST
ngày 14 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Vĩnh Long đã tuyên
xử:
1. Về nội dung:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Cẩm H về việc yêu cầu ông
Trần Văn Ý và bà Phạm Thị Việt B bồi thường thiệt hại căn nhà số A của bà H
với số tiền 345.279.600 đồng theo Bảng dự tính tiền xây dựng nhà do bà H lập
ngày 06/4/2026.
Ngoài ra, quyết định của bản án còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, chi phí
tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 23/4/2026, nguyên đơn Mai Cẩm H kháng cáo bản án sơ thẩm, đề
nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, hoặc sửa bản án sơ thẩm chấp nhận kháng
cáo và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; yêu cầu giám định về xây
dựng để xác định nguyên nhân rạn nứt, sụp lún và các chi phí khắc phục căn nhà;
buộc ông Trần Văn Ý, bà Phan Thị Việt B1 phải bồi thường cho bà H tồng số tiền
là 354.279.600 đồng theo bản dự tính xây dựng ngày 06/04/2026; buộc bị đơn
phải chịu chi phí thẩm định tại chỗ là 500.000 đồng; không chấp nhận yêu cầu của
ông Trần Văn Ý, bà Phạm Thị Việt B.
Ngày 28 tháng 04 năm 2026 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực
1 - Vĩnh Long ban hành quyết định kháng nghị phúc thẩm số 05/QĐ-VKS-DS
quyết định kháng nghị đối với toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 117/2026/DS-ST
ngày 14/04/2026 đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long căn cứ khoản 2 Điều
10
308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử phúc thẩm theo hướng sửa bản án
sơ thẩm vì cho rằng nhận định, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ
án chưa khách quan, toàn diện dẫn đến việc tuyên bản án không đảm bảo quyền
lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ông Ý đồng ý sửa chữa các vết nứt trên tường
và thay gạch nứt và đồng ý bồi thường 40.000.000 đồng theo biên bản hòa giải
ngày 19/09/2024 nên lời trình bày của bà H về hiện trạng nhà của bà bị lún, nứt
do công trình xây dựng nhà ông Ý gây ra là có căn cứ phù hợp kết quả xem xét
thẩm định tại chỗ ngày 14/03/2025. Nên kiến nghị cấp phúc thẩm buộc ông Ý bồi
thường cho bà H là số tiền theo sự tự nguyện của ông Ý là 40.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn ông bà Mai Cẩm H giữ nguyên nội dung kháng cáo yêu cầu
hủy hoặc sửa lại bản án sơ thẩm, cho rằng ông Ý xây dựng nhà không đảm bảo an
toàn cho các nhà lân cận, xây dựng không đúng quy chuẩn kỹ thuật của không đạt
quy chuẩn kỹ thuật, cấp sơ thẩm chưa trưng cầu giám định chất lượng công trình
xây dựng mà bác yêu cầu khởi kiện nguyên đơn là không phù hợp. Trước đây
nguyên đơn yêu cầu ông Ý, bà B bồi thường số tiền là 354.279.600 đồng theo bản
dự tính xây dựng ngày 6/4/2026 nhưng ngày 03/09/2026 sau khi định giá thì bà
rút một phần yêu cầu trong trường hợp nếu có cơ sở thì sửa bản án sơ thẩm chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Ý, bà B bồi thường số tiền là
157.961.086 (trong đó 98.761.086 đồng là là giá trị ngôi nhà theo biên bản định
giá ngày 03/09/2026 và 59.200.000 đồng là chi phí di dời thuê chỗ ở, tiền công
thợ).
Bị đơn ông Trần Văn Ý không đồng ý với kháng cáo của bị đơn, không
đồng ý yêu cầu giám định, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm, cho rằng nhà bà
H bị sụt lún, nứt là do nhà xây dựng quá lâu đã 20 năm, bị xuống cấp, hư hỏng,
sụt lún, nứt là chuyện tất nhiên, đây là nguyên nhân chính; thợ xây dựng là thợ
vườn ở nông thôn đảm trách xây dựng không đúng với thiết kế và giấy phép xây
dựng, thực hiện các công việc thủ công không đảm bảo đúng quy chuẩn, dẫn đến
sụt, lún; cấu tạo đất khu vực ao vườn nhãn nền đất mềm yếu, khả năng chịu tải
kém, nên ảnh hưởng đến sự ổn định của nền nhà và gây ra nứt, sụt lún. ông Ý có
tự nguyện hỗ trợ cho bên nguyên đơn số tiền 4.811.968 đồng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Đề nghị xem
xét ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của ông Ý 4.811.968 đồng và giữ nguyên
các phần khác của bản án sơ thẩm. Vì căn cứ nguyên đơn đưa ra là chưa đủ cơ sở,
việc tháo dở nhà cũ của nguyên đơn không gây lún nứt, gây dột cho nhà phía bị
đơn mà chỉ làm giảm tải trọng chứ không tác động làm hư hỏng. Nhà bà H xây
11
dựng trước, nhà ông Ý hai bức tường nhà có khoảng hở, nguyên đơn cũng không
đưa ra được chứng cứ chứng minh là ông Ý xây dựng lấn qua đất của nguyên đơn.
Biên bản hòa giải tại phường chỉ thể hiện rằng đang trong quá trình xây dựng 02
bên phát sinh mâu thuẫn thì Ủy ban tổ chức hòa giải, đặt trong bối cảnh lúc này
ông Ý đang là bên có yêu cầu xây dựng nhà ở, đồng thời ông đang làm việc trong
cơ quan nhà nước và phía nguyên đơn thì khiếu nại rất nhiều lần nên ông Ý mới
thể hiện trong biên bản hòa giải là sẽ hỗ trợ cho nguyên đơn chứ không đồng nghĩa
với việc ông Ý hỗ trợ để sửa chữa chống máng sối cho nguyên đơn, không thể
đồng nhất việc hỗ trợ với việc thừa nhận trách nhiệm gây thiệt hại được. Ông Ý
không cản trở giám định, mà ông Ý có bản khai ý kiến để trình bày với tòa án cấp
sơ thẩm cho rằng nhà của ông Ý vừa mới xây dựng và ông Ý khẳng định việc ông
Ý xây dựng là hoàn toàn đúng theo quy định pháp luật và ông Ý không đồng ý
việc giám định thôi chứ không phải trong quá trình thực hiện giám định ông Ý có
hành vi ngăn cản, theo quy định của pháp luật nguyên đơn đưa ra yêu cầu để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì phải có nghĩa vụ chứng minh.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến tại phiên tòa
về trình tự thủ tục tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định
của pháp luật tố tụng, những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quyền
và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Mai
Cẩm H, hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 117/2026/DS-ST ngày 14 tháng 4 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Vĩnh Long chấp nhận một phần kháng nghị
của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Vĩnh Long.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày
của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của
Kiểm sát viên, xét kháng cáo của bà Mai Cẩm H; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Đơn kháng cáo của Mai Cẩm H, kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm
sát nhân dân khu vực 1 – Vĩnh Long được làm đúng quy định, trong thời hạn luật
định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Trương Võ Kim T có đơn yêu cầu
12
vằng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Quế H3, Nguyễn Ngọc
Bích T1, Nguyễn Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn
vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét
xử vắng mặt những người nêu trên.
[2] Về nội dung:
Bà H khởi kiện yêu cầu ông Ý và vợ là bà B bồi thường thiệt hại về tài sản
là căn nhà số A thuộc sở hữu của bà H bị nứt và lún, xuất phát từ nguyên nhân,
ngày 14/05/2022 ông Ý đập nhà cũ số 169/7 xây dựng nhà mới làm ảnh hưởng,
thiệt hại hư hỏng nhà bà H. Quá trình xây dựng nhà của ông Ý làm ảnh hưởng
nhà bà H có xuất hiện một số vết nứt, lún nên bà H làm đơn yêu cầu Ủy ban nhân
dân Phường I, thành phố V giải quyết. Ngày 16/3/2023, Ủy ban nhân dân Phường
I tổ chức hòa giải và tại biên bản hòa giải ông Ý đồng ý sẽ sửa chữa lại các vết
nứt trên tường của nhà bà H, thay gạch nứt, còn việc cạo tường sơn lại thì ông Ý
không đồng ý. Nguyên nhân xuất hiện những vết nứt, lún này theo bà H do phía
nhà ông Ý xây dựng gây ra, nên bà H yêu cầu ông Ý và vợ là bà B bồi thường
thiệt hại căn nhà số A với số tiền theo Bảng dự tính tiền xây dựng nhà của bà H
lập ngày 06/04/2026 là 345.279.600 đồng.
Ông Ý và bà B cho rằng, nhà bà H đã khởi công xây dựng vào năm 2006
thời gian xây dựng nhà quá lâu việc nứt vách tường, thấm dột, bị sụt lún là điều
không tránh khỏi. Nhà ông Ý trước đây xây dựng sau nhà bà H nhưng đến năm
2022 đã bị xuống cấp nứt vách tường, thấm dột, bị sụt lún trầm trọng không thể
sửa chữa lại, nên năm 2022 ông Ý phải xây dựng mới lại để ở. Tay nghề chuyên
môn còn yếu của thợ vườn ở nông thôn đảm trách xây dựng không đúng với thiết
kế và giấy phép xây dựng; kết cấu địa tầng đất yếu, bởi trước đây là khu vực ao
vườn nhãn nền đất mềm yếu, khả năng chịu tải kém, nên ảnh hưởng đến sự ổn
định của nền nhà và gây ra nứt, sụt lún. Thiết kế móng không thỏa đáng cho tải
trọng lún, thợ thi công móng bằng cừ tràm, thiếu chiều dài độ sâu và không đủ số
lượng cừ tràm. Hơn nữa lao động bằng tay, thủ công dẫn đến lực ép không đạt
mức cần thiết. Thợ nông thôn thi công không có đủ kỹ năng, nên thực hiện các
công việc không đảm bảo đúng quy chuẩn, dẫn đến sụt, lún. Trong quá trình xây
dựng nhà, bà H luôn túc trực 24/24 giờ để quan sát, không cho xây dựng gần sát
nhà bà H, kể cả làm móng nền nhà. Do đó, ông Ý và bà B không đồng ý bồi
thường theo yêu cầu khởi kiện của bà H.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng, căn nhà
số A thuộc sở hữu của bà H có 8 vết nứt, cụ thể như sau: Vết nứt số 1 có chiều dài
1,3 mét, vết nứt số 2 có chiều dài 3,75 mét, vết nứt số 3 có chiều dài 2,1 mét, vết
13
nứt số 4 có chiều dài 1,0 mét, vết nứt số 5 có chiều dài 0,45 mét, vết nứt số 6 có
chiều dài 1,1 mét, vết nứt số 7 có chiều dài 2,4 mét, vết nứt số 8 có chiều dài 3,95
mét.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn bà Mai Cẩm H:
- Về hiện trạng thực tế thiệt hại: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong
hồ sơ vụ án bà kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 14/03/2025 của tòa án, xét
thấy căn nhà số A thuộc sở hữu của bà H có 8 vết nứt, cụ thể như sau: Vết nứt số
1 có chiều dài 1,3 mét, vết nứt số 2 có chiều dài 3,75 mét, vết nứt số 3 có chiều
dài 2,1 mét, vết nứt số 4 có chiều dài 1,0 mét, vết nứt số 5 có chiều dài 0,45 mét,
vết nứt số 6 có chiều dài 1,1 mét, vết nứt số 7 có chiều dài 2,4 mét, vết nứt số 8
có chiều dài 3,95 mét. Tại biên bản hòa giải ngày 16/03/2023 của Ủy ban nhân
dân Phường I ông Ý đồng ý sẽ sửa chữa lại các vết nứt trên tường của nhà bà H,
thay gạch nứt, còn việc cạo tường sơn lại thì ông Ý không đồng ý. Mặt khác, theo
biên bản hòa giải ngày 19/09/2024 đại diện theo ủy quyền của ông Ý đồng ý bồi
thường 40.000.000 đồng cho bà H để khắc phục. Như vậy, việc ông Ý đồng ý
khắc phục, sửa chữa và đồng ý bồi thường tiền chứng tỏ có căn cứ xác định hiện
trạng nhà của bà H có bị thiệt hại và nguyên nhân bị lún, nứt do một phần công
trình xây dựng nhà ông Ý gây ra. Cấp sơ thẩm buộc bà H chứng minh ông Ý có
hành vi vi phạm đối với các vết nứt tường nhà của bà H là trước hay sau vi phạm
là không phù hợp.
- Về xác định thiệt hại và giá trị thiệt hại: Như nhận định trên nhà của bà H
thực tế có thiệt hại xảy ra. Tuy nhiên, nguyên nhân gây lún sụp, rạn nứt tường còn
phụ thuộc rất nhiều nguyên nhân như : Việc xây dựng có đảm bảo an toàn công
trình lân cận theo khoản 2 Điều 177 Bộ luật Dân sự năm 2015 vấn đề này cấp sơ
thẩm chưa làm rõ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn đề nghị trưng cầu giám định chất
lượng công trình bị nứt, lún. Xét thấy việc giám định là cần thiết. Tuy nhiên, cấp
sơ thẩm đã trưng cầu giám định số 64/2024/QĐ-TCGĐ ngày 30/01/2024 tại Trung
tâm Giám định chất lượng xây dựng - Sở Xây dựng tỉnh V trưng cầu giám định
căn nhà số A nhà của bà H và căn nhà số 169/7 nhà của ông Ý. Theo văn bản số
190/GĐCT-XD ngày 22/3/2024 (bút lục 187) và văn bản số 422/GĐCL-XD ngày
21/6/2024 (bút lục 201) của Trung tâm Giám định chất lượng xây dựng - Sở Xây
dựng tỉnh V. Phúc đáp nội dung trưng cầu giám định căn nhà số A (nhà bà H).
Nội dung trưng cầu giám định đối với căn nhà số A (nhà bà H), có 02 nội dung
trưng cầu, gồm: Nguyên nhân gây ra lún, nứt của căn nhà số A, P, Phường I, thành
phố V, tỉnh Vĩnh Long (nhà bà H) và xác định thiệt hại thực tế tại thời điểm và
14
tính chi phí để khắc phục thiệt hại. Trung tâm giám định chất lượng xây dựng thực
hiện kiểm định chất lượng hiện trạng căn nhà số A, gồm các công việc đo kích
thước hiện trạng mặt bằng, vẽ mặt cắt ghi nhận kích thước hình học các cấu kiện
chính, đào móng kiểm tra kích thước hình học móng, khoan lấy lỗi bê tông móng
xác định cường độ, xác định độ nghiêng cột, lún dốc nền, đo vẽ vết nứt, đánh giá
hiện trạng mặt ngoài, đánh giá mức độ nguy hiểm của công trình, tính toán tổng
tải trọng truyền lên móng, xác định % giá trị còn lại căn nhà tại thời điểm kiểm
định, chụp ảnh hiện trạng. Từ đó đánh giá, phân tích nguyên nhân lún, nứt và tính
dự toán sửa chữa những hư hỏng, cấu kiện nguy hiểm (có nội dung dự toán chi
phí thực hiện kèm theo). Trung tâm không có đủ cơ sở xác định thiệt hại thực tế
tại thời điểm và tính chi phí để khắc phục thiệt hại căn nhà số A. Như vậy, theo
nội dung công văn 190/GĐCT-XD ngày 22/3/2024 thì căn nhà số A của bà H có
thể xác định được thiệt hại thực tế tại thời điểm và tính chi phí để khắc phục thiệt
hại nhưng cấp sơ thẩm không thực hiện trưng cầu giám định thiệt hại căn nhà số
A. Cấp sơ thẩm cho rằng ông Ý không hợp tác giám định đối với căn nhà số A
của ông Ý và không thực hiện việc trưng cầu giám định căn nhà số A là thiếu sót.
Thực tế nhà bà H có thiệt hại, nhưng không xác định được tỉ lệ thiệt hại giá
trị thiệt hại vấn đề này cấp sơ thẩm không khắc phục được. Việc ông Ý không hợp
tác giám định căn nhà số A thì ông Ý phải chịu hậu quả pháp lý của việc không
hợp tác trên tài liệu chứng cứ các bên cung cấp đối với lỗi dẫn đến các vết nứt,
lún, sụp căn nhà số A và trách nhiệm của mỗi bên đối với thiệt hại xảy ra.
Vấn đề này cấp sơ thẩm chưa làm rõ cần thiết phải giám định cả hai căn nhà
căn nhà số A và căn nhà số A trong khi thiệt hại thực tế chỉ có căn nhà số A của
bà H. Hiện nay các nơi có chức năng thực hiện kiểm định, giám định công trình
xây dựng là: Công ty TNHH K1, địa chỉ 240 đường A, khu phố E, phường P, Tp
.; Công ty Cổ phần K2 Gòn, địa chỉ số B 25, Phạm Ngọc T2Ngọc Thạch, phường
X, TP .òa, TP.HCM.
Từ những nhận định trên, xét thấy những thiếu sót của cấp sơ thẩm, cấp
phúc thẩm không khắc phục được nên cần hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân
dân khu vực 1 - Vĩnh Long), giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 1 –
Vĩnh Long giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Kháng cáo của bà Mai Cẩm H là
có cơ sở nên được chấp nhận.
[4] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp một phần với nhận
định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.
[5] Về chi phí tố tụng : Chi phí tố tụng khác tại cấp sơ thẩm là 500.000
đồng, cấp phúc thẩm là 800.000 đồng tổng cộng là 1.300.000 đồng do bà H tạm
15
ứng sẽ được tòa án cấp sơ thẩm quyết định khi thụ lý giải quyết lại vụ án
[6] Án phí phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị hủy nên bà Mai Cẩm H không
phải chịu án phí phúc thẩm theo Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Mai Cẩm H.
2. Chấp nhận một phần kháng nghị Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân
khu vực 1 – Vĩnh Long.
Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số: 117/2026/DS-ST ngày 14 tháng 04 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Vĩnh Long
Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 1 - Vĩnh Long giải quyết
lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm theo quy định pháp luật.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng khác sẽ được tòa án cấp sơ
thẩm quyết định khi thụ lý giải quyết lại vụ án.
4. Về án phí phúc thẩm: Bà Mai Cẩm H không phải chịu án phí phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Vĩnh Long; THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND khu vực 1 - Vĩnh Long;
- Phòng THADS khu vực 1 - Vĩnh Long;
- Phòng GĐ, KT, TT & THA TAND tỉnh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, văn phòng.
Lê Thị Thu Hương
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 829/2026/DS-PT Bản án số 829/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 829/2026/DS-PT Bản án số 829/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất