Bản án số 56/2026/DS-PT ngày 21/09/2026 của TAND tỉnh Tuyên Quang về tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 56/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 56/2026/DS-PT ngày 21/09/2026 của TAND tỉnh Tuyên Quang về tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tuyên Quang
Số hiệu: 56/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản giữa Công ty chè ML - Đỗ Thị Ph
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 56/2026/DS-PT Bản án số 56/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 56/2026/DS-PT Bản án số 56/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TU
Bản án số: 56/2026/DS-PT
Ngày 21 - 9 - 2026
“Về việc: Tranh chấp hợp đồng giao,
nhận khoán đất trồng chè”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phúc An Hoành,
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Thủy và ông Ma Ngọc Trung.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thảo Ph, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
TU.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh TU tham gia phiên tòa: Bà Phan
Thị Hồng Hải, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh TU mở phiên
tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân s thụ lý số: 12/2025/TLST- DS ngày
14/02/2025, về việc "Tranh chấp hợp đồng giao, nhận khoán đất trồng chè". Do
Bản án dân s sơ thẩm số 148/2024/DS-ST, ngày 30 tháng 9 năm 2024, của Tòa
án nhân dân huyện YS, tỉnh TU (nay là Tòa án nhân dân khu vc 1 - TU) bị
kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 14/2025/QĐ-PT, ngày
28 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên dân s phúc thẩm số
52/2025/QĐ-TA ngày 23/4/2025; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số
05/2025/QĐPT-DS ngày 08/5/2025; Quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm
vụ án dân s số 07/2025/QĐ-PT ngày 06/6/2025; Quyết định tiếp tục giải quyết
vụ án dân s số 22/2026/QĐPT-DS ngày 28/8/2026; Quyết định hoãn phiên tòa
phúc thẩm số 58/2026/QĐPT-DS ngày 09/9/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh TU,
giữa các đương s:
1. Nguyên đơn: Công ty cổ phần chè ML; Địa chỉ: Thôn LT, xã MB,
huyện YS, tỉnh TU (Nay là tổ dân phố LT, phường ML, tỉnh TU). Người đại
diện theo pháp luật: ông Lê Quang C, chức vụ: Giám đốc. Hiện nay là ông Lưu
Vũ Trường Đ, sinh ngày 20/01/1987, số CCCD ************ do Cục Cảnh sát
quản lý hành chính về trật t xã hội Bộ Công an cấp ngày 10/02/2023, chức vụ:
Giám đốc.
2
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đoàn Văn M, sinh ngày 10/10/1997,
chức vụ Cán bộ, số CCCD ************ do Cục Cảnh sát quản lý hành chính
Bộ Công an cấp ngày 02/4/2021 (theo văn bản ủy quyền ngày 23/3/2025 của
Công ty cổ phần chè ML). Có mặt.
2. Bị đơn: Bà Đỗ Thị Ph, sinh ngày 15/8/1966; số CCCD ************,
do Cục Cảnh sát quản lý hành chính Bộ Công an cấp ngày 29/3/2021; địa chỉ:
Thôn TT, xã MB, huyện YS, tỉnh TU (Nay là tổ dân phố TT, phường ML, tỉnh
TU). Vắng mặt, phiên tòa triệu tập hợp lệ lần thứ 02.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Ph: Bà Nguyễn Thị M1, sinh ngày
03/4/1964; số CCCD ************, do Cục Cảnh sát quản lý hành chính Bộ
Công an cấp ngày 22/4/2024; địa chỉ: Tổ 4, phường ML, thành phố TU, tỉnh TU
(Nay là Tổ 4, phường ML, tỉnh TU). Vắng mặt, phiên tòa triệu tập hợp lệ lần thứ 02.
3. Người kháng cáo: Nguyên đơn Công ty Cổ phần chè ML và bị đơn bà
Đỗ Thị Ph.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, lời
khai tại phiên toà, nguyên đơn là Công ty cổ phần chè ML trình bày:
Công ty cổ phần chè ML tiền thân là Xưởng chè tháng 10 thuộc Công ty
chè SL, sau chuyển thành Công ty chè ML, là doanh nghiệp Nhà nước, được
Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất.
Căn cứ Nghị định số 01/NĐ-CP ngày 04/01/1995 của Thủ tướng Chính
phủ về việc giao khoán đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất có mặt nước
nuôi trồng thủy hải sản trong các doanh nghiệp Nhà nước và Thông tư liên bộ số
02/TT-LB ngày 10/01/1996 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Tài
chính hướng dẫn lập và sử dụng các quỹ trong giao khoán đất.
Ngày 25 tháng 11 năm 1999 Công ty chè SL - Xưởng chè Tháng 10 đã ký
hợp đồng giao nhận khoán đất trồng chè số 09/HĐK-20 với bà Đỗ Thị Ph gồm
thửa số 7; tờ bản đố số 20; diện tích đất là 5.530m
2
. Địa chỉ thửa đất tại thôn TT,
xã MB, huyện YS, tỉnh TU.
Căn cứ Quyết định số 400/QĐ-UB ngày 01 tháng 04 năm 2000 của
UBND tỉnh TU về việc tách phân xưởng chè tháng 10 trc thuộc Công ty chè
SL thành lập doanh nghiệp nhà nước là Công ty chè ML.
Căn cứ Quyết định số 591/QĐ-CT ngày 04/03/2009 về việc phê duyệt Ph
án và chuyển Công ty chè ML thành Công ty cổ phần chè ML.
Ngày 26 tháng 07 năm 2013, UBND tỉnh TU ban hành quyết định số
264/QĐ-UBND về việc thu hồi đất, giao đất và cho thuê đất để thc hiện quy
3
hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Công ty cổ phần chè ML tại xã MB, huyện YS,
tỉnh TU, trong đó có diện tích mà bà Đỗ Thị Ph đang nhận khoán là thửa số 689
diện tích đất là 5.352 m
2
(thông tin trên Biểu số 02 về danh sách thửa đất cho
thuê theo hiện trạng sử dụng đất kèm theo Quyết định 264/QĐ-UBND), ứng với
bản đồ địa chính của Công ty cổ phần chè ML là thửa số 37, tờ bản đồ số 15,
diện tích là 5.351,7 m
2
.
Ngày 31 tháng 12 năm 2013, UBND tỉnh TU đã cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số BM 769765 cho Công ty cổ phần chè ML trên diện tích
được thuê tại xã MB, huyện YS, tỉnh TU.
Sau khi được Nhà nước cho thuê đất, Công ty cổ phần chè ML tiếp tục
thc hiện quyền và nghĩa vụ của mình nhưng bà Đỗ Thị Ph không thc hiện
đúng theo nội dung hợp đồng đã ký kết từ trước, cụ thể như sau:
1. Bà Đỗ Thị Ph không bán sản phẩm chè búp tươi vào công ty từ tháng
5/2022.
2. Bà Đỗ Thị Ph không thc hiện chỉ đạo của Công ty về quy trình kỹ thuật
chăm sóc thu hái chè, cụ thể là không tham gia chương trình sản xuất chè an toàn từ
tháng 5/2022.
Căn cứ hợp đồng giao, nhận khoán đất trồng chè số 09/HĐK-20, bà Ph đã
vi phạm các điều khoản sau:
1. Vi phạm điểm d khoản 2 điều 3 (t ý bán sản phẩm chè búp tươi được
canh tác trên diện tích đất của Công ty đang quản lý).
2. Vi phạm điểm e khoản 2 điều 3 (không thc hiện chỉ đạo của Công ty về quy
trình kỹ thuật chăm sóc thu hái chè, cụ thể là không tham gia sản xuất chè an toàn).
Do đó Công ty cổ phần chè ML khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện
YS giải quyết các vấn đề sau đây:
1. Chấm dứt Hợp đồng giao nhận khoán đất trồng chè số 09/HĐK-20 ngày
25/11/1999 giữa Công ty chè SL - Xưởng chè tháng 10 (nay là Công ty cổ phần chè
ML) với bà Đỗ Thị Ph do bà Ph đã vi phạm Hợp đồng.
2. Yêu cầu bà Đỗ Thị Ph trả lại toàn bộ diện tích đất đang sử dụng tại thửa số
689 diện tích đất là 5.352 m
2
(thông tin trên Biểu số 02 về Danh sách thửa đất cho
thuê theo hiện trạng sử dụng đất kèm theo Quyết định 264/QĐ-UBND), ứng với
bản đồ địa chính của công ty là thửa số 37, tờ bản đồ số 15, diện tích là 5.351,7 m
2
.
3. Yêu cầu bà Đỗ Thị Ph nộp tiền thuê đất và các khoản phải nộp khác
theo quy định của nhà nước tính đến thời điểm bà Ph trả lại đất cho công ty. Sau
khi bà Đỗ Thị Ph trả lại đất cho công ty, công ty sẽ đền bù tài sản trên đất là cây
chè cho bà Ph theo đơn giá quy định của Nhà nước.
4
Tại phiên toà, công ty cổ phần chè ML thay đổi một phần nội dung yêu
cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết các nội dung sau:
1. Chấm dứt Hợp đồng giao nhận khoán đất trồng chè số 09/HĐK-20
ngày 25/11/1999 giữa Công ty chè SL – Xưởng chè tháng 10 (nay là Công ty cổ
phần chè ML) với bà Đỗ Thị Ph.
2. Giải quyết hậu quả khi chấm dứt hợp đồng như sau: Yêu cầu bà Đỗ Thị
Ph trả lại toàn bộ diện tích đất đang sử dụng tại thửa số 689 diện tích đất là 5.352
m
2
(thông tin trên Biểu số 02 về Danh sách thửa đất cho thuê theo hiện trạng sử
dụng đất kèm theo Quyết định 264/QĐ-UBND), ứng với bản đồ địa chính của
công ty là thửa số 37, tờ bản đồ số 15, diện tích là 5.351,7 m
2
, và tài sản trên đất
là một vườn chè giống cây trồng PH1, năm trồng 1992, nguồn gốc vườn chè được
trồng bằng vốn ngân sách nhà nước đã được thanh lý cho công ty cổ phần chè ML
theo công văn số 3402/UBND- TH ngày 29/10/2020 của UBND tỉnh TU.
Bà Đỗ Thị Ph phải nộp tiền thuê đất và các khoản phải nộp khác theo quy
định của nhà nước (căn cứ theo Thông báo nộp tiền thuê đất số 329/TB-
CTTQU ngày 16/4/2021 của Cục thuế tỉnh TU), tiền thuê đất năm 2022 là
786.744đ; tiền thuê đất năm 2023 là 1.123.920đ; tiền lãi do chậm nộp (0,03%/
ngày, tính từ ngày 26/12/2022 đến hết ngày 31/10/2023) là 73.167đ. Tổng cộng
là: 1.983.831đ.
Công ty bồi thường phần giá trị của vườn chè tăng thêm hiện nay so với
giá trị vườn chè tại thời điểm thanh lý theo công văn số 3402/UBND - TH ngày
29/10/2020 của UBND tỉnh TU.
* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là bà Đỗ Thị Ph, người đại
diện theo uỷ quyền là bà Nguyễn Thị M1 trình bày:
Năm 1999 bà có ký hợp đồng giao nhận khoán đất trồng chè số 09/HĐK -
20, thửa đất nhận khoán là thửa số 7; tờ bản đố số 20; diện tích đất là 5.530m
2
, địa
chỉ thửa đất tại thôn TT, xã MB, huyện YS, tỉnh TU. Thời hạn hợp đồng là 50
năm kể từ ngày ký hợp đồng. Giá trị vườn chè giao khoán là 2.600.000đ, mức nộp
mỗi năm 10%, không quá 10 năm. Sau đó bà đã trả đủ số tiền giá trị vườn chè
giao khoán thông qua hình thức trừ vào sản phẩm bà bán cho công ty. Từ khoảng
năm 2004 - 2005 trở đi, vườn chè nhận khoán bị sâu bệnh chết dần, bà đã từng
báo công ty cho cán bộ kỹ thuật xuống đào gốc lấy mẫu để kiểm tra. Sau đó bà đã
mua cây giống về trồng dặm bổ sung thay thế số cây đã chết, đến nay toàn bộ
vườn chè là cây chè do bà trồng mới. Tiền vốn, chi phí đầu tư trồng mới do bà t
bỏ ra, công ty không đầu tư gì. Quá trình nhận khoán bà vẫn bán chè cho công ty
chè ML, kể cả khi công ty cổ phần hoá bà vẫn bán sản phẩm và tham gia sản xuất
chè sạch (chè an toàn) theo yêu cầu của công ty. Sau khi tham gia chè sạch được
5
khoảng 2 năm (2019 -2020), do thấy không hiệu quả, quy trình phức tạp, công ty
trừ quá nhiều chi phí, vì vậy bà không tham gia chè an toàn và không bán sản
phẩm cho công ty cổ phần chè ML nữa. Ngoài cây chè thì có một số cây bóng mát
do bà trồng và một số cây t mọc, ngoài ra không có vật kiến trúc gì khác. Hợp
đồng giao khoán và chi phí đầu tư đều do cá nhân bà thc hiện, không liên quan
đến ai khác.
Nay công ty cổ phần chè ML khởi kiện, quan điểm của bà là hợp đồng bà
ký với Xưởng chè Tháng 10 trước đây có thời hạn là 50 năm, đến nay mới được
hơn 20 năm nên vẫn còn hiệu lc, vì vậy bà vẫn tiếp tục được làm theo đúng
hợp đồng đã ký. Bà không liên quan gì đến công ty cổ phần chè ML nên bà
không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của công ty. Nếu công ty muốn mua sản
phẩm chè của bà thì phải có s thoả thuận rõ ràng về giá cả.
Vụ án trên đã được Tòa án nhân dân huyện YS, tỉnh TU thụ lý, xác M, thu
thập chứng cứ, hòa giải nhưng không thành và đã đưa vụ án ra xét xử. Tại Bản án
dân s sơ thẩm số 148/2024/DS-ST, ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân
dân huyện YS, tỉnh TU đã quyết định:
Căn cứ khoản 3, điều 26, các điều 35, 39, 147, 157, 165, 235, 264, 266, 271,
273 Bộ luật Tố tụng dân s; các Điều 357, 468, 483, Điều 489, Điều 493 Bộ luật
Dân s; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Toà án, Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc Tranh chấp hợp đồng
giao nhận khoán đất trồng chè của Công ty cổ phần chè ML đối với bà Đỗ Thị
Ph.
- Xử chấm dứt hợp đồng giao nhận khoán đất trồng chè số 09/HĐK - 20
ngày 25/11/1999 đã ký giữa Xưởng chè Tháng 10 thuộc Công ty chè SL (nay là
Công ty cổ phần chè ML) với bà Đỗ Thị Ph.
- Buộc bà Đỗ Thị Ph phải trả lại diện tích đất giao khoán và toàn bộ tài
sản là cây trồng trên đất cho Công ty cổ phần chè ML theo hợp đồng giao khoán
số 09/HĐK - 20 là thửa số 7, tờ bản đồ số 20; ứng với bản đồ thu hồi, giao đất
và cho thuê đất kèm theo quyết định số 264/QĐ - UBND ngày 26/7/2013 của
UBND tỉnh TU là thửa số 689, ứng với bản đồ địa chính Công ty cổ phần chè
ML đang quản lý là thửa số 37, tờ bản đồ số 15, diện tích theo đo đạc thc tế là
5.317,6m
2
, được thể hiện bởi các điểm nối liền liên tục khép kín từ
1,2,3....18,19,20,1; địa chỉ thửa đất: thôn TT, xã MB, huyện YS, tỉnh TU (có sơ đồ
trích đo thửa đất kèm theo bản án và là một phần không tách rời của bản án).
6
- Không chấp nhận yêu cầu của Công ty cổ phần chè ML về việc buộc bà Đỗ
Thị Ph phải trả khoản tiền thuê đất chưa nộp là: 1.983.831 đồng.
- Buộc Công ty cổ phần chè ML phải thanh toán cho bà Đỗ Thị Ph số tiền
giá trị vườn chè và cây trồng khác, tổng cộng là: 66.826.240 đồng.
2. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Đỗ Thị Ph phải hoàn trả cho Công ty cổ phần
chè ML số tiền chi phí thẩm định, định giá là 4.743.034 đồng.
Ngoài ra bản án còn giải quyết về án phí, tiền lãi suất chậm trả và quyền
kháng cáo bản án của các đương s theo quy định của pháp luật.
Ngày 03/10/2024 Tòa án nhận đơn kháng cáo Bản án dân s sơ thẩm số
148/2024/DS-ST, ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện YS, tỉnh TU của
bị đơn bà Đỗ Thị Ph. Bị đơn cho rằng bản án sơ thẩm không khách quan, không
đúng quy định của pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bà, đề
nghị cấp phúc thẩm xét xử hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án.
Ngày 14/10/2024, Tòa án nhận đơn kháng cáo Bản án dân s sơ thẩm số
148/2024/DS-ST, ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện YS, tỉnh TU của
nguyên đơn Công ty Cổ phần chè ML. Nguyên đơn đề nghị cấp phúc thẩm buộc
bà Đỗ Thị Ph phải trả khoản tiền thuê đất chưa nộp là 1.983.831 đồng và đề nghị
hủy phần buộc Công ty Cổ phần chè ML phải thanh toán giá trị vườn chè cho bà
Đỗ Thị Ph do vườn chè là tài sản vốn ngân sách Nhà nước đã được thanh lý cho
Công ty. Công ty sẽ thanh toán phần giá trị tài sản tăng thêm cho bà Ph đã đầu
tư chăm sóc từ khi Ủy ban nhân dân tỉnh TU thanh lý cho Công ty.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn bà Đỗ Thị Ph và người đại diện
theo ủy quyền bà Nguyễn Thị M1 vắng mặt. Đại diện Công ty Cổ phần chè ML
thay đổi một phần nội dung kháng cáo. Nguyên đơn đề nghị cấp phúc thẩm xem
xét buộc bà Đỗ Thị Ph phải trả khoản tiền thuê đất chưa nộp là 1.983.831 đồng
và sửa bản án sơ thẩm về phần tuyên buộc Công ty có trách nhiệm thanh toán
cho bà Đỗ Thị Ph số tiền 66.826.240 đồng theo hướng Công ty Cổ phần chè ML
không có trách nhiệm thanh toán cho bị đơn số tiền 66.826.240 đồng.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định
của Bộ luật tố tụng dân s trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử đã
thc hiện đảm bảo các thủ tục về phiên tòa phúc thẩm, s có mặt của các thành
viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thc hiện đúng quy định của Bộ luật tố
tụng dân s. Các đương s thc hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân
s. Đơn kháng cáo của nguyên đơn Công ty Cổ phần chè ML, bị đơn bà Đỗ Thị
7
Ph là hợp lệ, trong hạn luật định, nội dung kháng cáo nằm trong nội dung bản án
sơ thẩm.
Về nội dung: Bản án sơ thẩm tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn: Chấm dứt hợp đồng giao nhận khoán đất trồng chè số 09/HĐK-
20 ngày 25/11/1999 giữa Xưởng chè Tháng 10 thuộc Công ty chè SL (nay là
Công ty cổ phần chè ML) với bà Đỗ Thị Ph; buộc bà Ph phải trả lại diện tích đất
giao khoán và toàn bộ tài sản là cây trồng trên đất cho Công ty cổ phần chè ML
theo hợp đồng giao khoán. Không chấp nhận yêu cầu của Công ty cổ phần chè
ML về việc buộc bà Ph phải trả khoản tiền thuê đất chưa nộp là 1.983.831đ.
Buộc Công ty cổ phần chè ML phải thanh toán cho bà Ph số tiền giá trị vườn chè
và cây trồng khác, tổng cộng 66.826.240đ là có căn cứ.
Việc Tòa án nhân dân Quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án
ngày 06/6/2025 do tại phiên tòa, bị đơn bà Đỗ Thị Ph xuất trình tài liệu thể hiện
khởi kiện vụ án hành chính đối với Quyết định số 264/QĐ-UBND ngày
26/7/2013 của UBND tỉnh TU về việc thu hồi đất, giao đất và cho thuê đất để
thc hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Công ty Cổ phần chè ML tại xã
MB, huyện YS (cũ). Kết quả giải quyết ở cấp sơ thẩm vụ án hành chính nêu
trên, Bản án sơ thẩm số 07 ngày 15/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ph về việc yêu cầu huỷ một phần Quyết định số
264/QĐ-UBND ngày 26/7/2013 của UBND tỉnh về phần liên quan đến thửa đất
số 07, tờ bản đồ số 20 mà bà Đỗ Thị Ph nhận khoán tại Hợp đồng giao khoán đất
trồng chè số 09 ký ngày 25/11/1999. Ngày 27/8/2026, Toà Phúc thẩm Tòa án
nhân dân tối cao tại Hà Nội đã xét xử phúc thẩm vụ án và tuyên y án sơ thẩm.
Tại phiên toà hôm nay, bà Ph được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng
vắng mặt, bà Ph đã nhận được văn bản triệu tập của Toà án; tuy bà Ph có đơn
xin hoãn phiên tòa nhưng lý do xin hoãn không chính đáng. Đề nghị Hội đồng
xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 3 Điều 296 và khoản 2 Điều 312 Bộ luật tố tụng
dân s, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Đỗ
Thị Ph.
Kháng cáo của nguyên đơn: Căn cứ khoản 1, Điều 308 Bộ luật tố tụng dân
s, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên
đơn Công ty Cổ phần chè ML. Giữ nguyên nội dung Bản án dân s sơ thẩm số
148/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện YS (nay là TAND
Khu vc 1), tỉnh TU.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân s phúc thẩm theo quy định.
Bị đơn bà Đỗ Thị Ph phải chịu án phí, do đến thời điểm xét xử phúc thẩm bà Ph
8
là người cao tuổi, nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm miễn tiền án phí phúc
thẩm cho bà Đỗ Thị Ph.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn Công ty Cổ phần chè ML
và của bị đơn bà Đỗ Thị Ph là hợp lệ, trong hạn luật định, nội dung kháng cáo
nằm trong nội dung bản án sơ thẩm nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo thủ
tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo:
[2.1] Xét đơn kháng cáo của bị đơn bà Đỗ Thị Ph: Bà Ph cho rằng bản án
dân s sơ thẩm số 148/2024/DS-ST, ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện
YS, tỉnh TU không khách quan, không đúng quy định của pháp luật, xâm phạm
quyền và lợi ích hợp pháp của bà. Đề nghị cấp phúc thẩm xét xử lại theo thủ tục,
hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án.
Hội đồng xét xử thấy: Quá trình giải quyết vụ án dân s tại cấp phúc
thẩm, bà Đỗ Thị Ph đồng thời khởi kiện vụ án hành chính khởi kiện Quyết định
số 264/QĐ-UBND ngày 26/7/2013 của UBND tỉnh TU về việc thu hồi đất, giao
đất và cho thuê đất tại xã MB, huyện YS, tỉnh TU liên quan đến thửa đất số 07,
tờ bản đồ số 20 mà bà Đỗ Thị Ph nhận khoán tại Hợp đồng giao khoán đất trồng
chè số 09/HĐK-20 ký ngày 25/11/1999; Tòa án nhân dân tỉnh TU đã thụ lý vụ
án số 10/2025/TLST-HC ngày 06/6/2025 (tạm đình chỉ vụ án dân s để chờ kết
quả giải quyết vụ án hành chính), Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2025/HC-ST
ngày 15/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh TU tuyên xử không chấp nhận đơn
khởi kiện của bà Đỗ Thị Ph về việc yêu cầu hủy một phần Quyết định số
264/QĐ-UBND ngày 26/7/2013 của UBND tỉnh TU về phần liên quan đến thửa
đất số 07, tờ bản đồ số 20 mà bà Đỗ Thị Ph nhận khoán tại Hợp đồng giao khoán
đất trồng chè số 09/HĐK-20 ký ngày 25/11/1999. Không nhất trí với bản án sơ
thẩm bà Đỗ Thị Ph kháng cáo bản án sơ thẩm, tại Bản án Hành chính phúc thẩm
số 427/2026/HC-PT ngày 27/8/2026 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao
tại Hà Nội tuyên xử không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Đỗ Thị Ph, giữ
nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2025/HC-ST ngày 15/8/2025 của Tòa
án nhân dân tỉnh TU.
Tại đơn đề nghị ngày 05/9/2026 của bà Đỗ Thị Ph, đề nghị hội đồng xét
xử phúc thẩm hoãn phiên tòa ngày 09/9/2026 với lý do chờ kết quả xét xử sơ
thẩm vụ án hành chính khởi kiện hành vi hành chính của Chủ tịch UBND tỉnh
9
TU theo Thông báo thụ lý vụ án số 08/2026/TLST-HC ngày 10/3/2026 của Tòa
án nhân dân khu vc 1 - TU và Đơn xin hoãn phiên tòa gửi Tòa án nhận ngày
15/9/2026 của bà Đỗ Thị Ph với lý do đang theo vụ án hành chính số 08/2026.
Ngày 19/9/2026 Tòa án nhân dân khu vc 1 - TU đã xét xử vụ án hành chính tại
Bản án số 23/2026/HC-ST về việc khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vc
quản lý đất đai, tuyên xử bác yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Ph và 24 công
dân khác khởi kiện hành vi hành chính đối với Chủ tịch UBND tỉnh TU.
Văn bản tố tụng tại cấp phúc thẩm gồm: Quyết định tiếp tục giải quyết vụ
án dân s phúc thẩm, Thông báo về thời gian mở lại phiên tòa ngày 28/8/2026
(lần 01), ấn định thời gian mở phiên tòa ngày 09/9/2026; Quyết định hoãn phiên
tòa ngày 09/9/2026, ấn định ngày mở phiên tòa (lần 02) ngày 21/9/2026 đã được
tống đạt hợp lệ cho bà Đỗ Thị Ph và người đại diện theo ủy quyền bà Đỗ Thị
M1. Tuy nhiên bà Đỗ Thị Ph và người đại diện theo ủy quyền vắng mặt tại phiên
tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân s,
đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo bản án của bị đơn bà Đỗ
Thị Ph.
[2.2] Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn Công ty Cổ phần chè ML đề
nghị cấp phúc thẩm buộc bà Đỗ Thị Ph phải trả khoản tiền thuê đất chưa nộp là
1.983.831 đồng; không chấp nhận thanh thanh toán cho bị đơn bà Đỗ Thị Ph số
tiền là 66.826.240 đồng.
Đối với tiền thuê đất: Công ty cổ phần chè ML yêu cầu bà Ph phải trả số
tiền thuê đất chưa nộp trong năm 2022, 2023 và tiền lãi chậm nộp, tổng cộng là
1.983.831 đồng. Xét thấy tại hợp đồng số 09/HĐK- 20 không có nội dung nào
quy định bên nhận khoán phải nộp tiền thuê đất. Tại điểm b khoản 2, điều 3 của
hợp đồng số 09/HĐK- 20 thể hiện (Bên B – Bên nhận khoán) có nghĩa vụ nộp
thuế nông nghiệp: Theo hạng đất ghi ở điều 1, mục 1. Thuế suất, giá tính thuế do
Nhà nước quy định.... Tuy nhiên, từ khi ký kết hợp đồng năm 1999 từ Xưởng
chè Tháng 10 thuộc Công ty chè SL (sau khi cổ phần hóa nay là Công ty Cổ
phần chè ML) và bà Đỗ Thị Ph chưa ký điều chỉnh bổ sung lại hợp đồng, phụ
lục hợp đồng, không có tài liệu chứng M thể hiện việc giải thích, trao đổi thỏa
thuận giữa các bên về việc thay đổi các nghĩa vụ nộp thuế thành tiền thuê đất, vì
vậy không có căn cứ xem xét.
Về nội dung không nhất trí với Bản án sơ thẩm buộc Công ty Cổ phần chè
ML thanh toán cho bà Đỗ Thị Ph số tiền 66.826.240 đồng. Công ty Cổ phần chè
ML xác định do vườn chè là tài sản vốn ngân sách Nhà nước đã được thanh lý
cho Công ty, có năng suất nhỏ hơn hoặc bằng 7 tấn/ha/năm, không có trách
nhiệm thanh toán tiền giá trị các cây trồng như cây chè và cây khác trên phần đất
10
giao cho bà Ph quản lý. Cấp sơ thẩm đã tiến hành xem xét thẩm định và định giá
tài sản. Vườn chè tại thời điểm thẩm định là 14,5 tấn/ha/năm; ngoài cây chè còn
có các cây trồng khác như cây Xoan, cây Sưa, cây Lát, cây Sấu và một số cây gỗ
tạp khác... đã được định giá tổng là 66.826.240 đồng. Giá trị vườn chè có năng
suất, số cây trồng xen canh trên diện tích được giao quản lý phát sinh là do bị
đơn đã đầu tư chăm sóc, cấp sơ thẩm buộc nguyên đơn Công ty Cổ phần chè ML
có trách nhiệm thanh toán cho bị đơn giá trị vườn chè và cây trồng khác số tiền
66.826.240 đồng là có căn cứ. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm,
Công ty Cổ phần chè ML không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới chứng M
cho yêu cầu kháng cáo, xét thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng
cáo của Công ty Cổ phần chè ML. Do đó, cần giữ nguyên Bản án dân s sơ thẩm
số 148/2024/DS-ST, ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện YS,
tỉnh TU, như ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phúc thẩm.
[3] Về án phí: Kháng cáo không được chấp nhận nên Công ty Cổ phần
chè ML phải chịu án phí dân s phúc thẩm. Bị đơn bà Đỗ Thị Ph phải chịu tiền
án phí dân s phúc thẩm; tuy nhiên, tại thời điểm xét xử phúc thẩm bà Ph là
người cao tuổi (trên 60 tuổi), nên Hội đồng xét xử quyết định miễn tiền án phí
dân s phúc thẩm cho bà Đỗ Thị Ph.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lc pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 3 Điều 296; khoản 5 Điều 308; khoản 2 Điều 312 của Bộ
luật Tố tụng dân s, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo bản án
của bị đơn bà Đỗ Thị Ph.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 308; Điều 313; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân s;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án. Không chấp nhận nội dung kháng cáo Bản án dân s sơ
thẩm của nguyên đơn Công ty cổ phần chè ML, giữ nguyên Bản án dân s sơ
thẩm số 148/2024/DS-ST, ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện
YS, tỉnh TU (Nay là Tòa án nhân dân khu vc 1 - TU) như sau:
2.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc Tranh chấp hợp đồng giao
nhận khoán đất trồng chè của Công ty cổ phần chè ML đối với bà Đỗ Thị Ph.
- Xử chấm dứt hợp đồng giao nhận khoán đất trồng chè số 09/HĐK- 20
ngày 25/11/1999 đã ký giữa Xưởng chè Tháng 10 thuộc Công ty chè SL (nay là
Công ty cổ phần chè ML) với bà Đỗ Thị Ph.
11
- Buộc bà Đỗ Thị Ph phải trả lại diện tích đất giao khoán và toàn bộ tài
sản là cây trồng trên đất cho Công ty cổ phần chè ML theo hợp đồng giao khoán
số 09/HĐK- 20 là thửa số 7, tờ bản đồ số 20; ứng với bản đồ thu hồi, giao đất và
cho thuê đất kèm theo quyết định số 264/QĐ-UBND ngày 26/7/2013 của UBND
tỉnh TU là thửa số 689, ứng với bản đồ địa chính Công ty cổ phần chè ML đang
quản lý là thửa số 37, tờ bản đồ số 15, diện tích theo đo đạc thc tế là 5.317,6m
2
,
được thể hiện bởi các điểm nối liền liên tục khép kín từ 1,2,3....18,19,20,1; địa
chỉ thửa đất: Thôn TT, xã MB, huyện YS, tỉnh TU (hiện nay theo sắp xếp địa giới
hành chính mới là tổ dân phố TT, phường ML, tỉnh TU). (Có sơ đồ trích đo thửa
đất kèm theo bản án và là một phần không tách rời của bản án).
- Không chấp nhận yêu cầu của Công ty cổ phần chè ML về việc buộc bà Đỗ
Thị Ph phải trả khoản tiền thuê đất chưa nộp là 1.983.831đ (một triệu chín trăm
tám mươi ba nghìn tám trăm ba mươi mốt đồng).
- Buộc Công ty cổ phần chè ML phải thanh toán cho bà Đỗ Thị Ph số tiền
giá trị vườn chè và cây trồng khác, tổng cộng là: 66.826.240đ (sáu mươi sáu
triệu tám trăm hai mươi sáu nghìn hai trăm bốn mươi đồng).
Khoản tiền phải trả, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được
thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu bên
phải thi hành án chậm trả thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ
luật Dân sự năm 2015.
2.2. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Đỗ Thị Ph phải hoàn trả cho Công ty cổ
phần chè ML số tiền chi phí thẩm, định định giá là 4.743.034đ (bốn triệu bẩy trăm
bốn mươi ba nghìn không trăm ba mươi bốn đồng).
2.3. Về án phí:
- Về án phí dân s sơ thẩm: Bà Đỗ Thị Ph phải chịu 300.000đ (ba trăm
nghìn đồng) án phí dân s sơ thẩm không có giá ngạch. Công ty cổ phần chè ML
phải chịu 3.341.312đ (ba triệu ba trăm bốn mươi mốt nghìn ba trăm mười hai
đồng) án phí dân s sơ thẩm có giá ngạch, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng
án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng
án phí số 0000791 ngày 13/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân s huyện YS
(Nay là Thi hành án dân s khu vc 1 - TU). Công ty cổ phần chè ML còn phải
chịu 3.041.312đ (ba triệu không trăm bốn mươi mốt nghìn ba trăm mười hai
đồng) tiền án phí.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Công ty Cổ phần chè ML phải chịu án
phí dân s phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ
vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án
12
phí, lệ phí Tòa án số 0002213 ngày 05/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân s
huyện YS, tỉnh TU (Nay là Thi hành án dân s khu vc 1 - TU). Bà Đỗ Thị Ph
không phải chịu tiền án phí dân s phúc thẩm; trả lại cho bà Đỗ Thị Ph là
300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm tại biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002214 ngày 18/11/2024 của Chi cục Thi
hành án dân s huyện YS, tỉnh TU (Nay là Thi hành án dân s khu vc 1 - TU).
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lc pháp luật kể từ ngày tuyên án, ngày
21/9/2026.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tối cao;
- VKSND tỉnh TU;
- TAND khu vc 1 - TU;
- THADS TU;
- THADS khu vc 1 - TU;
- Các đương s;
- Văn phòng TAND tỉnh TU;
- Lưu hồ sơ vụ án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phúc An Hoành
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Xuân Thủy Ma Ngọc Trung Phúc An Hoành
13
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 56/2026/DS-PT Bản án số 56/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 56/2026/DS-PT Bản án số 56/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất