Bản án số 47/2025/DS-ST ngày 20/06/2025 của TAND huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 47/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 47/2025/DS-ST ngày 20/06/2025 của TAND huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Giao Thủy (TAND tỉnh Nam Định)
Số hiệu: 47/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/06/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị T và Hoàng Văn T, Hoàng Văn Đ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIAO THỦY
TỈNH NAM ĐỊNH
Bản án số:47/2025/DS-ST
Ngày: 20-6-2025
V/v: Tranh chấp chia di sản thừa kế là
quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Hùng Hạnh;
Bà Hoàng Thị Lan.
- Thư phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mừng - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện
Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia
phiên toà: Bà Ngô Thị Thư - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 28 tháng 5, 16 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án
nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân
sự thụ số: 117/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp
chia di sản thừa kế là quyền sdụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s:
42/2025/QĐXXST - DS ngày 29 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Cụ Phạm Thị T, sinh năm 1941; địa chỉ: Xóm T, G,
huyện G, tỉnh Nam Định.
- Bị đơn: Ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1965 ông Hoàng Văn Đ; sinh
năm 1972; đều có địa chỉ: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Hoàng Văn Đ1; sinh năm 1975; địa chỉ: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh
Nam Định.
+ Hoàng Th H; Sinh năm 1967; địa chỉ: m T, G, huyện G, tỉnh
Nam Định.
+ Chị Hoàng Thị T2; sinh năm 1996; địa chỉ: Ấp B, T, thành phố Đ, tỉnh
Bình Phước.
+ Anh Hoàng Văn T3; sinh năm 1999; địa chỉ: Ấp B, T, thành phố Đ,
2
tỉnh Bình Phước.
+ Anh Hoàng Văn M; sinh năm 2006, địa chỉ: Ấp B, T, thành phố Đ,
tỉnh Bình Phước.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị TNguyễn Minh T4;
sinh năm 1997; địa chỉ: Số A ngách C, ngõ T, T, phường Q, quận Đ, thành phố
Hà Nội.
- Người đại diện theo y quyền của bà Hoàng Thị H ông Hoàng Văn Đ1;
địa chỉ: địa chỉ: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định.
- Người bảo vệ quyn lợi ích hợp pháp của Phạm Thị T là Phạm
Thanh Dạ Q-Luật sư thuộc văn phòng L1, đoàn Luật sư thành phố H.
Tại phiên toà có mặt ông Đ1, bà T4bà Q; những người tham gia tố tụng
khác có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 03-6-2024 và các văn bản khác có trong
hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
trình bày: Cụ Phạm Thị T và cụ Hoàng Mai S trong thời kỳ hôn nhân tạo lập
được tài sản chung là thửa đất số 205 tờ bản đồ số 14 lập năm 2003 với diện tích
là 695m
2
tại xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Đã được nhà nước cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 190542 ngày 30-12-2004. Vợ chồng cụ sinh
được 5 người con gồm ông Hoàng n T1, ông Hoàng Văn Đ, ông Hoàng Văn
H1, Hoàng Thị H ông Hoàng Văn Đ1, người con trai thứ 3 Hoàng n
H1 đã chết o ngày 14-6-2012 (ông H1 3 người con : Hoàng Thị T2, sinh
năm 1996; Hoàng Văn T3; sinh năm 1999 và Hoàng Văn M; sinh năm 2006). đến
ngày 23-11- 2016 thì cụ S chết không để lại di chúc, nay cụ T muốn làm thủ tục
chuyển nhượng cho con trai út Hoàng Văn Đ1 nhưng ông Đ ông Thám K
nhất trí. Nay cụ đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau: Thứ nhất: Xác nhận
cụ Phạm Thị T được sử dụng 50% diện tích đất theo giấy chứng nhận số
190542 ngày 30-12-2004 do UBND huyện G cấp; Thứ hai: chia di sản của cụ
Hoàng Mai S để lại theo quy định của pháp luật và chia theo hiện vật là quyền s
dụng đất. Nhà và các công trình xây dựng trên đất cụ T và vợ chng ông Đ1 đang
sử dụng do vợ chồng cụ T xây dựng, nếu sau này giao đất cho ai sử dụng
liên quan tới công trình xây dựng của cụ T, cụ T không yêu cầu bồi thường.
Nguyện vọng ca cụ T phần di sản của cụ S để lại chia làm 5 phần, phần di sản
của cụ được hưởng cụ cho ông Đ1, 4 phần còn lại là của ông T1, ông Đ, bà H và
ông Đ1 được hưởng. Cụ không đề nghị chia đối với công trình xây dựng trên đất.
Tại bản tự khai ngày 11 tháng 12 năm 2024 và các văn bản khác có trong h
sơ vụ án bị đơn là ông Hoàng Văn T1 và ông Hoàng Văn Đ đều trình bày: Trước
khi bố ông cụ Hoàng Mai S chết bố ông nguyện vọng để lại một phần diện
tích để làm nơi thờ cúng để cho con cháu tập trung với diện tích là ngang 7m còn
chiều dài hết đất, nguyện vọng của các ông cũng để lại phần diện tích như ý
nguyện của bố ông phần còn lại mẹ ông cho hết ông Đ1 ông cũng không có ý kiến
gì, còn nếu như mông không nhất trí mà yêu cầu chia theo quy định của pháp
3
luật thì các ông nhận phần di sản của bố các ông để lại các ông ng đứng
chung tên trên phần đất mà các ông được hưởng. Các ông không yêu cầu chia đối
với công trình xây dựng trên đất.
Tại các văn bản trong hồ vụ án, cũng như tại phiên toà, người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn Đ1 trình bày: Bố mẹ ông cụ Hoàng Mai
S và cụ Phạm Thị T trong thời kỳ hôn nhân có tạo lập được tài sản chung là mảnh
đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 190542 được UBND huyện
G cấp ngày 30-12-2004. Bố mẹ ông 5 người con gồm Hoàng Văn T1, Hoàng
Văn Đ, Hoàng Văn H1, Hoàng Thị Hông Hoàng Văn Đ1, người con trai thứ
3 là Hoàng Văn H1 đã chết vào ngày 14-6-2012, đến ngày 23-11- 2016 thì bố
ông chết. Bố ông chết không để lại di chúc. Nay mẹ ông khởi kiện đề nghToà
án xác nhận mẹ ông được sử dụng 50% diện tích đất; Thứ hai: chia di sản của cụ
Hoàng Mai S là quyền sử dụng đất đối với 50% diện tích đất còn lại cho các đồng
thừa kế gồm: Mẹ ông, ông T1, ồng Đ, H ông. Các cháu con ông H1 đã từ
chối nhận di sản nên làm 5 phần, chia bằng hiện vật quyền sử dụng đất chia
theo chiều rộng mặt đường, mông H cho ông kỷ phần của mình ông xin
nhận.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị H văn bản thoả thuận
và cam kết là tặng cho kỷ phần của mình được hưởng cho ông Hoàng Văn Đ1.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị T2, anh Hoàng Văn
T3 anh Hoàng n M con ông Hoàng Văn H1 văn bản từ chối nhận di
sản thừa kế nên không có ý kiến trình bày.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn, luật Phạm Thanh
Dạ Q trình bày: Căn cứ vào nội dung vụ án các tài liệu chứng cứ do nguyên
đơn xuất trình, cũng như các tài liệu chứng cứ do Toà án thu thập, đề nghị Toà án
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại biên bản thu thập chứng cứ ngày 12-3-2025, sở G cung cấp: Vợ
chồng cụ Phạm Thị T và cụ Hoàng Mai S trong thời kỳ hôn nhân có tạo lập được
thửa đất số 205 tờ bản đồ số 14, lập năm 2003 với diện tích 695m
2
.Trong đó
diện tích đất 235m
2
, đất vườn 300m
2
, đất ao 160m
2
nhưng không xác
định được vị trí cụ thể của từng loại đất đã được UBND huyện G cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 190542 ngày 30-12-2004 (cấp đại trà). Từ
trước tới nay, thửa đất được sử dụng ổn định, liên tục, không tranh chấp về
ranh giới với các hộ liền kề, mốc giới, do diện tích sử dụng lớn nên trong đo đạc
được phép sai số. Nay cụ T yêu cầu chia thừa kế đề nghị Tòa án giải quyết theo
quy định của pháp luật.
Kết quả xem xét thẩm định định giá tài sản cụ thể như sau: Thửa đất tranh
chấp có vị trí như sau: Phía Bắc giáp đường, phía Nam giáp thổ ông T5, ông T6,
phía Tây giáp thổ ông Đ, phía Đông giáp thổ ông H2, ông H3, bà L; có tổng diện
tích là 717,9 m
2
(có sơ đồ kèm theo).
Trên đất có các công trình xây dựng sau:
+ Nhà ở cấp 4 mái lợp ngói xây dựng năm 1988 (14.835.000đồng).
4
+ Nhà mái bằng làm kho chứa nông sản bếp ăn xây dựng năm 1992
(18.020.000 đồng)
+ Mái tôn che nắng khu giặt phơi quần áo (2.280.000 đồng).
+ Sân lối đi, cổng đổ xỉ láng xi măng (1.452.000 đồng)
+ Tường bao thổ cư (140.000đồng)
Tổng giá trị tài sản, công trình xây dựng trên đất là: 36.727.000 đồng.
Giá trị quyền sử dụng thửa đất 500.000.000 đồng/1 xuất 5m chiều rộng
mặt đường còn chiều dài hết thửa đất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy phát biểu ý kiến tại
phiên tòa như sau: Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên
tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố
tụng đã thực hiện đúng đầy đquyền nghĩa vụ của mình đúng theo quy
định của Bluật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của cụ T. Xác định thửa đất s 205 ti t bản đồ s 14 din tích
717,9 m
2
ti xóm T, xã G, huyn G, tỉnh Nam Định tài sản chung của cụ S và
cụ T; chia thừa kề di sản là quyền sử dụng đất của cụ S cho các đng tha kế
theo yêu cu. c đương sự phải nộp án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Hoàng Văn T1 và ông Hoàng Văn Đ đơn xin
xét xvắng mặt nên Toà án vẫn tiến hành giải quyết vắng mặt họ là phù hợp theo
quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự
[2] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn bà Phạm ThT có đơn khởi kiện yêu
cầu Tòa án chia thừa kế đối với thửa đất số 205 ti t bản đồ s 14 din tích 695
m
2
ti xóm T, xã G, huyn G, tỉnh Nam Định; vì vy quan h pháp luật được xác
định là “Tranh chấp chia di sn tha kế”.
[3] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 35 Điều 39 của
Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
huyện Giao Thy, tỉnh Nam Định.
[4] Về nội dung: Các đương sự đều thừa nhận nguồn gốc thửa đất tranh
chấp của cụ Hoàng Mai S cụ Phạm Thị T bố mmình, được thể hiện trên
bản đồ địa chính thửa đất số 205 tờ bản đồ số 14 lập năm 2003 với diện tích
695m
2
tại xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Quá trình sử dụng đất các c
chưa chuyển nhượng cho ai, do vậy xác định đây tài sản chung của hai cụ. Năm
2016 cụ Hoàng Mai S chết không để lại di chúc. nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế
đối với di sản là quyền sử dụng đất của cụ S là có căn cứ nên được chấp nhận. Đ
xác định chính xác diện tích đất Tán đã tiến hành đo thực tế diện tích trên
bản đồ sai lệch nhỏ cho phép do đo đạc nên lấy diện tích đo thực tế 717,9 m
2
làm căn cứ để giải quyết vụ án.
5
[5] Trên thửa đất các công trình xây dựng sau: 01 nhà mái ngói cấp 4
xây dựng năm 1988, một nhà mái bằng làm kho chứa bếp ăn xây dựng năm
1992, mái tôn che nắng khu giặt phơi quần áo, sân, lối đi đổ xỉ láng xi măng do
cụ T quản sử dụng: tổng giá trị là: 36.727.000 đồng. tài nhỏ nên các
đương sự không yêu cầu chia nên Toà án không xem xét.
[6] Về việc xác định người được hưởng thừa kế:Vợ chồng cụ Hoàng Mai S
cụ Phạm Thị T 5 người con chung gồm: ông Hoàng Văn T1, ông Hoàng
Văn Đ, ông Hoàng Văn H1, Hoàng Thị H ông Hoàng Văn Đ1, người con
trai thứ 3 là Hoàng Văn H1 đã chết vào ngày 14-6-2012 (ông H1 có 3 người con
là: Hoàng Thị T2, Hoàng Văn T3 Hoàng Văn M). Ông H1 chết năm 2012 năm
2016 cụ S chết do đó các con của ông H1 được hưởng thừa kế thế vị nhưng các
con của ông H1 có văn bản tchối nhận di sản thừa kế. vậy người được hưởng
thừa kế di sản là quyền sử dụng đất của cụ S gồm có: Cụ T, ông T1, bà H, ông Đ
và ông Đ1.
[7] Về việc phân chia di sản thừa kế: Theo yêu cầu của các đương sự chia
di sản thừa kế quyền sử dụng đất của cụ S bằng hiện vật sau khi đã trừ đi ½
diện tích đất của cụ T. Do đặc điểm thửa đất để thuận tiện cho các đương sự
khi sử dụng nên chia thửa đất theo chiều rộng mặt đường là phù hợp; còn về các
loại đất không xác định vị trí như trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm
đất là 235m
2
, đất vườn là 300m
2
, đất ao 160m
2
và thực tế đo đạc nhiều hơn
so với diện tích ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chia theo tỷ lệ
tương ứng tương đối đối với diện tích đất các đương sự được hưởng công
bằng. Chiều rộng mặt đường là 24m nên cụ Phạm Thị T được quyền sử dụng đất
của mình : 24: 2 = 12m mặt đường phía bắc thửa đất, phía đông giáp thửa đất
của ông H2,ông H3 L dài 28,3m; phía nam giáp thửa đất của ông T5, ông
Trịnh R 11,8m; phía tây giáp phần đất di sản của S dài 30,2m diện tích là: 344.9m
2
(trong đó đất là 114,9 m
2
; đất vườn là 150m
2
; đất ao là 80 m
2
). Phần còn lại di
sản là quyền sử dụng đất của cụ S được như sau: Chiều rộng mt đường 12m chia
cho 5 người gồm: Cụ T, ông T1, H, ông Đ ông Đ1. Cụ T H cho kỷ
phần của mình cho ông Đ1; ông T1 và ông Đ gộp chung thửa đứng tên 2 ông. C
thể 12m: 5 = 2,4m; như vậy mỗi kphần là: 2,4m, ông Đ1 nhận 7m còn 0,2m
chuyển cho ông T1 ông Đ đcho tròn 5m. Như vậy vị trí đất ông Đ1 được
hưởng phía bắc giáp đường rộng 7m, phía đông giáp thửa đất của cụ T dài 30,2m,
phía nam giáp thửa của ông T5, ông Trịnh R 7m,phía tây giáp phần đất chia cho
ông T1 ông Đ dài 31,4m diện tích là: 214,7m
2
(trong đó đất 80,7m
2
;
đất vườn là 90m
2
; đất ao là 44 m
2
); trị giá là: 700.000.000 đồng. Phần di sản còn
lại của ông T1 và ông Đ vị trí phía bắc giáp đường rộng 5m, phia tây giáp
thửa đất của ông Đ; phía nam giáp thửa đất của ông T5, ông Trịnh rộng 5m; phía
đông giáp thửa đất chia cho ông Đ1 dài 31,4m diện tích là: 158,3m
2
(trong đó đất
ở là 60,3 m
2
; đất vườn là 60m
2
; đất ao là 38 m
2
); trị giá là: 500.000.000 đồng.
[8] Về án phí: CụTỵ, ông T1người cao tuổi có đơn đề ngh miễn án phí
nên được miễn án phí. Ông Đ, ông Đ1, phải nộp án phí đối với giá trị di sản được
chia.
6
[9] Về quyền kháng cáo: Các đương squyền kháng cáo bản án theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 611, 612, 613, 623, 650, 651 và Điều 660 của Bộ luật
Dân sự; Điều 100, Điều 188 Luật đất đai; khoản 1 khoản 2 Điều 228; Điều 147;
Điều 271 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12, 26 và Điều 27 Nghị
quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định vmức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử chấp nhận yêu cầ u khơ
̉
i kiê
̣
n của cụ Phạm Thị T chia thừa kế quyền
sử dụng đất của cHoàng Mai S (chết năm 2016).
- Giao cho cụ Phạm Thị T được quyền sử dụng thửa đất vị trí mặt đường
phía bắc giáp đường rộng 12m, phía đông giáp thửa đất của ông H2,ông H3 và
L dài 28,3m; phía nam giáp thửa đất của ông T5, ông Trịnh R 11,8m; phía tây
giáp phần đất di sản của S dài 30,2m diện tích là: 344.9m
2
(trong đó đất ở là 114,9
m
2
; đất vườn là 150m
2
; đất ao là 80 m
2
) bản đồ địa chính thửa đất số 205 tờ bản
đồ số 14 lập năm 2003 tại xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định.
- Giao cho ông Hoàng Văn Đ1 được quyền sử dụng thửa đất vị tmặt
đường phía bắc giáp đường rộng 7m, phía đông giáp thửa đất của cụ T i 30,2m,
phía nam giáp thửa của ông T5, ông Trịnh R 7m,phía tây giáp phần đất chia cho
ông T1 ông Đ dài 31,4m diện tích là: 214,7m
2
(trong đó đất 80,7m
2
;
đất vườn là 90m
2
; đất ao là 44 m
2
); bản đồ địa chính thửa đất số 205 tờ bản đồ số
14 lập năm 2003 tại xóm T, G, huyện G, tỉnh Nam Định; trị giá là: 700.000.000
đồng.
- Giao cho ông Hoàng Văn T1 ông Hoàng Văn Đ được quyền sử dụng
thửa đất có vị trí mặt đường phía bắc giáp đường rộng 5m, phía tây giáp thửa đất
của ông Đ; phía nam giáp thửa đất của ông T5, ông Trịnh rộng 5m; phía đông
giáp thửa đất chia cho ông Đ1 dài 31,4m diện tích là: 158,3m
2
(trong đó đất
60,3 m
2
; đất vườn là 60m
2
; đất ao 38 m
2
); bản đồ địa chính thửa đất số 205 tờ
bản đồ số 14 lập năm 2003 tại xóm T, G, huyện G, tỉnh Nam Định; trị giá là:
500.000.000 đồng.
(Có sơ đồ kèm theo)
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Hoàng Văn Đ phải nộp 12.500.000 đồng; ông Hoàng Văn Đ1 phải nộp
35.000.000 đồng.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo
bản án trong thời hạn 15 ngày ktừ ngày nhận được bản án hoặc bản án được
niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì
người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận
7
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế
thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 79 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu
thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Nam Định;
- VKSND huyện Giao Thủy;
- Chi cục THADS huyện Giao Thủy;
- UBND xã Giao Thịnh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thanh Lâm
Tải về
Bản án số 47/2025/DS-ST Bản án số 47/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 47/2025/DS-ST Bản án số 47/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất