Bản án số 47/2023/HNGĐ-ST ngày 26/05/2023 của TAND huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 47/2023/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 47/2023/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 47/2023/HNGĐ-ST ngày 26/05/2023 của TAND huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Đức Linh (TAND tỉnh Bình Thuận) |
| Số hiệu: | 47/2023/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 26/05/2023 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ngô Thị Bích Trâm-Lê Chí Cường |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC LINH
TỈNH BÌNH THUẬN
Bản án số: 47/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26-5-2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
Tranh chấp về cấp dưỡng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN
ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Mai Thương
2. Ông Lưu Trọng Kim
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 26 tháng 5 năm 2023 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện
Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:
154/2023/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 4 năm 2023; về “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày
11 tháng 5 năm 2023; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Bích T, sinh năm 2000; nơi cư trú: Số nhà A,
đường C, tổ A, khu phố G, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn: Anh Lê Chí C, sinh năm 1996; nơi cư trú: Số nhà C, đường C, tổ
A, khu phố I, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt các đương sự.

2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:
Chị Ngô Thị Bích T, anh Lê Chí C tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn
vào năm 2020, tại UBND thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Sau khi kết hôn do
dịch bệnh Covid-19 nên đến nay chị T, anh C vẫn chưa tổ chức đám cưới. Tuy
nhiên, thời gian qua chị T, anh C xảy ra nhiều mâu thuẫn, anh C ghen tuông, nghi
ngờ chị T có quan hệ bất chính với người khác, nhiều lần đe dọa làm ảnh hưởng
đến cuộc sống và công việc của chị T. Mặc dù chị T đã nhiều lần khuyên bảo, giải
thích nhưng anh C vẫn không thay đổi. Cách đây khoảng 01 tháng chị T bỏ về nhà
cha mẹ ruột sinh sống. Hiện nay chị T không còn tình cảm với anh C nên đề nghị
Tòa án giải quyết ly hôn. Chị T, anh C có 01 người con chung là Lê Ngô Nhã U,
sinh ngày 09/12/2020. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng nuôi con và yêu cầu anh C
phải cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng. Chị T không yêu cầu
tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
Theo hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn trình bày:
Anh Lê Chí C, chị Ngô Thị Bích T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn
vào năm 2020, tại UBND thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Tuy nhiên, do dịch
bệnh Covid-19 nên chưa tổ chức đám cưới. Trong quá trình chung sống thì anh C
có ghen tuông, nghi ngờ chị T có quan hệ với người khác. Tuy nhiên, hiện nay anh
C vẫn còn tình cảm với chị T, nên đề nghị Tòa án tạo điều kiện hòa giải để đoàn tụ.
Nên anh C không đồng ý ly hôn; Trong trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn anh C
có nguyện vọng nuôi con Lê Ngô Nhã U, sinh ngày 09/12/2020, không yêu cầu chị
T phải cấp dưỡng tiền nuôi con; Anh C không yêu cầu tòa án giải quyết về tài sản
chung, nợ chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bị đơn anh Lê Chí C có nơi cư trú tại huyện Đ nên việc khởi kiện của
nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh
được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39 Bộ luật tố tụng dân sự.

3
[2] Nguyên đơn chị Ngô Thị Bích T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly
hôn, nuôi con, cấp dưỡng tiền nuôi con nên quan hệ pháp luật cần giải quyết là “Ly
hôn, tranh chấp nuôi con, tranh chấp về cấp dưỡng” được quy định tại khoản 1, 5
Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Vụ án không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố
tụng Dân sự nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh không tham gia phiên
tòa.
[4] Chị Ngô Thị Bích Trâm, anh Lê Chí C tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết
hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 04/8/2020 tại Ủy ban nhân dân thị trấn
Đ, huyện Đ đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Sau khi kết hôn chị T, anh C chung sống hạnh phúc với nhau được một thời
gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh C ghen tuông nghi ngờ chị T
có quan hệ bất chính với người khác, nên thỉnh thoảng vợ chồng xảy ra cải vả. Mặc
dù cả hai đã tự đồng viên, an ủi nhau thay đổi để chung sống hạnh phúc, nhưng
không có kết quả. Do cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, chị T không còn
tình cảm với anh C nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Quá trình làm việc cũng
như tại phiên tòa anh C thừa nhận cuộc sống vợ chồng thời gian qua có nảy sinh
mẫu thuẫn và hiện nay anh anh C, chị T không còn sống chung với nhau. Mặc dù
anh C cho rằng hiện nay vẫn còn tình cảm với chị T nên mong muốn có thế thời
gian để hàn gắn. Thế nhưng, anh C cũng thừa nhận kể từ khi chị T bỏ về cha mẹ
ruột thì anh có đến khuyên bảo, động viên chị T quay về nhưng chị T không đồng
ý. Đồng thời kể từ sau ngày Tòa án hòa giải cho đến nay chị T, anh C vẫn không về
chung sống lại với nhau. Tại phiên tòa chị T vẫn cương quyết ly hôn và không
mong muốn tiếp tục chung sống với anh C. Điều này chứng tỏ tình trạng mâu thuẫn
trong quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh C đã kéo dài và trầm trọng, mục đích hôn
nhân không đạt được. Do đó nếu có tiếp tục chung sống sẽ không tạo dựng được
hạnh phúc mà mâu thuẫn sẽ lại càng nghiêm trọng hơn.
Từ đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử cho chị T được ly hôn với anh C là phù
hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5] Tại phiên tòa cả chị T, anh C đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi
con chung Lê Ngô Nhã U, sinh ngày 09/12/2020. Việc giao con cho ai trực tiếp
nuôi dưỡng cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt và xem xét nguyện vọng của con

4
cũng như điều kiện thực tế của người trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy cháu U là nữ,
hiện nay chưa đủ 36 tháng tuổi, đang trong độ tuổi phát triển, đồng thời kể từ khi ly
thân cho đến nay cháu U do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Nhằm giúp cháu phát triển
toàn diện về thể chất, tinh thần cũng như về mặt tâm, sinh lý nên cần thiết giao cho
chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp
Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản.
Trường hợp anh C lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến
việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị T có quyền yêu cầu
Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh C.
[6] Qúa trình làm việc và tại phiên tòa chị T có yêu cầu anh C phải cấp
dưỡng tiền nuôi con hàng tháng là 2.000.000 đồng. Nhận thấy yêu cầu cấp dưỡng
tiền nuôi con của chị T là có căn cứ bởi lẽ chị T là người trực tiếp nuôi con, nên
anh C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng, ngoài ra mức cấp dưỡng 2000.000 đồng/tháng
mà chị T đưa ra là phù hợp với mức sống tại địa phương, cũng như nhu cầu hiện tại
của con. Do đó, cần buộc anh C phải cấp dưỡng tiền nuôi con hàng tháng như yêu
cầu của chị T là phù hợp với quy định khoản 2 Điều 82, khoản 1 Điều 107, Điều
110, khoản 1 Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Nghĩa vụ cấp
dưỡng tiền nuôi con chấm dứt trong trường hợp quy định tại Điều 118 luật hôn
nhân gia đình năm 2014. Đối với khoản tiền cấp dưỡng, chị T có quyền làm đơn
yêu cầu thi hành án ngay theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 Luật thi hành án
dân sự năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014.
[7] Các đương sự không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết về
tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Chị T phải chịu án phí ly hôn, anh C phải chịu án phí cấp dưỡng tiền
nuôi con.
[9] Các đương sự đều có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:

5
Khoản 1, 5 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản
1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; Điều 203; khoản 1 Điều 227; Điều 271; khoản 1
Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; khoản 3 Điều 81; các Điều 82, 83, 84;
khoản 1 Điều 107, Điều 110, khoản 1 Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật hôn nhân
và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 2 Điều 2, Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa
đổi bổ sung năm 2014;
Điểm a khoản 5, điểm a, đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14;
Điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày
11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Thị Bích
T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Bích T được ly hôn với anh Lê Chí C.
Giấy chứng nhận kết hôn đăng ký ngày ngày 04/8/2020 tại Ủy ban nhân dân
thị trấn Đ, huyện Đ hết hiệu lực, kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao cho chị Ngô Thị Bích T được quyền trực tiếp trông
nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục người con chung Lê Ngô Nhã U, sinh ngày
09/12/2020.
Anh Lê Chí C có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con không ai được
ngăn cản. Trường hợp anh C lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh
hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị T có
quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh C.
3. Về cấp dưỡng: Anh Lê Chí C phải cấp dưỡng tiền nuôi con Lê Ngô Nhã U,
sinh ngày 09/12/2020 cho chị Ngô Thị Bích T mỗi tháng là 2.000.000 đồng. Chị T
có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án ngay, mặc dù bản án có thể bị kháng cáo,
kháng nghị. Nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chấm dứt khi phát sinh trường hợp

6
chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật hôn nhân gia đình
năm 2014.
Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu
cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi
hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định
tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có
quy định khác.
4. Về án phí: Chị Ngô Thị Bích T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn
đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo
biên lai số 0014968, ngày 03 tháng 4 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự
huyện Đức Linh. Chị T đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Anh Lê Chí C phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí cấp
dưỡng tiền nuôi con.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền
kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để Tòa án cấp
trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.
6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND huyện Đức Linh; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- C.C Thi hành án DS.h. Đức Linh;
- UBND TT Đức Tài;
- Các đương sự;
- Lưu HS, án văn.
7
Trần Đình Trường
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 08/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 26/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 26/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 23/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm