Bản án số 47/2017/HSST ngày 29/09/2017 của TAND huyện An Lão, TP. Hải Phòng về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 47/2017/HSST

Tên Bản án: Bản án số 47/2017/HSST ngày 29/09/2017 của TAND huyện An Lão, TP. Hải Phòng về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Tội danh: 134.Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện An Lão (TAND TP. Hải Phòng)
Số hiệu: 47/2017/HSST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/09/2017
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bn án s 47/2017/HSST
Ngày 29 - 9- 2017
CỘNG HOÀ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Vi thành phn Hi đồng xét x sơ thm gm có:
Thm phán - Ch to phiên toà: Nguyn Thị Thu Hương
Các Hi thm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Tỵ
2. Bà Trần Thị Thúy
Thư Toà án ghi biên bn phiên toà: Nguyễn Thị Hằng, cán b Toà án
huyn A, thành ph Hi Phòng
Đại din Vin kim sát nhân dân huyn A tham gia phiên tòa: Ông Trịnh
Nhật, Kim sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2017, ti tr s Tòa án nhân dân huyện A, thành ph
Hải Phòng xét x sơ thm v án hình s th s28/2017/HSST ngày 21 tháng 7
năm 2017 đối vi các bo:
1. Nguyễn Đức L, sinh năm 1986 tại Hải Phòng; ĐKHKTT và trú tại: Thôn
V, Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; ngh nghiệp: Không; trình độ văn hóa:
12/12; con ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1963, con Đinh Thị H sinh năm 1968;
có vợ là Nguyễn Thị O, sinh năm 1991, có 02 con lớn sinh năm 2011 nhỏ sinh năm
2015; tiền án, tiền s: Không; Bcáo b tạm giữ từ ngày 10 tháng 5 năm 2017,
được áp dụng biện pháp bảo lĩnh ngày 13 tháng 5 năm 2017. Có mặt tại phiên tòa.
2 Bùi Văn T1, sinh năm 1996 tại Hải Phòng; ĐKHKTT trú tại: Thôn T,
xã An Hòa, huyện A, thành phố Hải Phòng; ngh nghiệp: Không; trình độ văn hóa:
9/12; con ông Bùi Văn N, sinh năm 1972, con Lưu Thị M, sinh năm 1976; chưa
có vợ con; tiền án, tiền s: Không; Bị cáo b tạm giữ từ ngày 22 tháng 3 năm 2017
chuyển tạm giam ngày 31 tháng 3 năm 2017, ngày 26 tháng 5 năm 2017được áp
dụng biện pháp bảo lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.
3. Hoàng Văn T2, sinh năm 1995 tại Hải Phòng; ĐKHKTT và trú tại: Thôn
H, H, huyện A, thành phố Hải Phòng; ngh nghiệp: Không; trình độ văn hóa:
12/12; con ông Hoàng Văn T3, sinh năm 1960, con bà Đào Thị M1, sinh năm
1964; chưa vợ con; tiền án, tiền s: Không; Bcáo b tạm giữ từ ngày 10 tháng
5 năm 2017 đến ngày 13 tháng 5 năm 2017được áp dụng biện pháp bảo lĩnh. Có
mặt tại phiên tòa.
4. Nguyễn Mạnh S, sinh năm 1995 tại Hải Phòng; ĐKHKTT và trú tại: Thôn
H, H, huyện A, thành phố Hải Phòng; ngh nghiệp: Không; trình độ văn hóa:
2
11/12; con ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1965, con Nguyễn Thị S2, sinh năm
1965; chưa vợ con; tiền án, tiền s: Không; Bị cáo b tạm giữ từ ngày 22 tháng
3 năm 2017 chuyn tạm giam ngày 31 tháng 3 năm 2017, ngày 26 tháng 5 năm
2017 được áp dụng biện pháp bảo lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.
5. Văn Đ, sinh ngày 05 tháng 7 năm 1999 ( thực hiện hành vi phạm tội
khi 17 năm 8 tháng 14 ngày tuổi) tại Hải Phòng; ĐKHKTT ttại: Thôn T,
A, huyện A, thành phố Hải Phòng; ngh nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12;
con ông Văn L1, sinh năm 1972, con bà Phạm Thị N1, sinh năm 1975; chưa có
vợ con; tiền án, tiền s: Không; Bcáo b áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi
trú. Có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Anh Quản Hữu T4, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Thôn K, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng. Có mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY
Các b cáo Nguyễn Đức L, Bùi Văn T1, Hoàng Văn T2, Nguyễn Mạnh S,
Văn Đ b Vin kim sát nhân dân huyn A truy t v hành vi phm ti như sau:
Anh Quản Hữu T4, sinh năm 1979, trú tại thôn K, xã Q, huyện A có vay của
Nguyễn Đức L số tiền 10.000.00 ( Mười triệu đồng) từ tháng 7 năm 2016, lãi
suất tự thỏa thuận. Khi đến hạn trả nợ, L đã nhiều lần gọi điện cho người đến
tìm anh T4 để đòi tiền nhưng không được. vậy, khoảng 19 giờ 30 phút ngày 19
tháng 3 năm 2017, trên đường đi chơi cùng với Bùi Văn T1, Hoàng Thanh T2,
Nguyễn Mạnh S, Doãn H, Văn Đ, L đã bảo cả bọn: “Anh em tranh thủ vào
nhà T4 đòi tiền, nếu nhà không trả thì dẫn ra quán nước để anh nói
chuyện”. Phát hiện người của L đến, anh T4 đi ra phía sau nhà trốn nhưng đã bị
T1, T2, S, Hải, Đ m thấy và dùng vũ lực đưa anh T4 ra khỏi nhà. Bọn T1 đưa anh
T4 lên xe mô tô chở ra quán bia gia đình chị Phạm Thị T5 xóm 7 thôn K 1, xã Q.
Tại đây, T1, Hải dùng tay đánh anh T4 rồi cả bọn tiếp tục đưa anh T4 đi về phía xã
Đặng Cương.
Trên đường đi ra thì bọn T1 gặp L, L bảo T1, T2, S đưa anh T4 về quán
nước chè ở gần ngã tư Q để chờ L, còn Hải, Đ lên xe của bạn L đi cùng L vào xã Q
chơi. Anh T4 bị T2, T1, S đưa vào quán bia của gia đình anh Phạm Văn S thôn
Đồng Quang, Đặng Cương, A. Tại đây, T2 đưa tiền cho S đi mua giấy bút rồi
T1 đe dọa bắt ép anh T4 viết giấy nhận nL số tiền 40.000.000 đ (Bốn mươi
triệu đồng). Viết giấy nhận nợ xong, anh T4 gọi điện cho bạn là anh Nguyễn Ngọc
Trọng đến gặp bọn T1 để thương lượng giúp. Sau đó, T1 đi về trước, còn T2 S
tiếp tục lại. Sau khi anh T4 gọi điện về nhà thu xếp tiền trả nkhông được thì
T2, S đã đưa anh T4 về nhà trọ của L tại số 170 Quốc lộ 5 phường Q, quận H,
thành phố Hải Phòng. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, L bảo đồng bọn đưa anh T4
ra căn nhà địa chỉ số 2 đường H gần ngã tư Q có treo biển đại lý vé máy bay Jetstar
(không người ở) ăn đêm. Sau khi ăn uống xong, L để anh T4 ngủ lại đó và bảo
T1 cùng với T2, S, Đ lại trông coi. Đến gần trưa ngày 20 tháng 3 năm 2017 thì
T2, S, Đ đưa anh T4 về ntrọ của L. Tại đây, L bảo anh T4 viết lại giấy nhận n
3
khác thay cho giấy nhận nợ tối hôm trước mà T1 đọc cho anh T4 viết với số tiền là
30.000.000đ ( Ba (Ba mươi triệu đồng) bao gồm cả gốc lãi, đồng thời yêu cầu
anh T4 gọi điện cho người nhà đến gặp L để trả nợ. Chiều cùng ngày, L bảo đồng
bọn đưa anh T4 ra quán nước chè của bà Nguyễn Thị T6 sinh năm 1948, địa chỉ số
5A đường H, Q, H, Hải Phòng để chờ người nhà anh T4 đến. Tuy nhiên, do người
nhà anh T4 không đến nên tối hôm đó L đã bảo T1 cùng với T2, S, Đ thay nhau
lại quán nước để trông anh T4. Đến 11 giờ ngày 21 tháng 3 năm 2017, sau khi
nhận được đơn trình báo của gia đình anh T4, Công an huyện A đã đến giải thoát
cho anh T4 và đưa T1, S, Đ về cơ quan Công an để làm việc.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận:
Xuất phát từ việc anh Quản Hữu T4 trốn tránh việc trả nợ, ngày 19 tháng 3
năm 2017, trên đường đi chơi Nguyễn Đức L nói với Bùi n T1, Hoàng Thanh
T2, Nguyễn Mạnh S, Doãn H, Văn Đ đến nhà T4 để đòi nợ nếu T4 nhà
không trả tdẫn ra quán nước để L nói chuyện. Sau khi phát hiện ra T4 đang
trốn phía sau nhà các bị cáo đã bắt giữ anh T4 từ ngày 19 tháng 3 năm 2017 đến
ngày 21 tháng 3 năm 2017 như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Do anh T4 không
thiện cthanh toán nợ nên đã gây bức xúc dẫn đến các bị cáo hành động
thiếu suy nghĩ. Các b cáo thừa nhận hành vi của bản thân vi phạm pháp luật,
việc truy t xét x các b cáo đúng người đúng tội, bị cáo rất ăn năn, hối hận
do kém hiểu biết pháp luật đã có hành vi vi phạm và đề ngh Hội đồng xét x giảm
nh một phần hình phạt cho các b cáo.
Tại phiên tòa người bị hại trình bày: Do khó khăn anh chưa điều kiện trả
nợ nên đã trốn tránh việc trả nợ dẫn đến bức c cho bcáo L. Anh thừa nhận bản
thân anh lỗi không thanh toán nợ đúng hạn cho L. Trong quá trình bắt giữ anh
các bị cáo đối xử với anh rất tốt, không gây thương tích cho anh. Sau khi phạm
tội các bị cáo cũng đã đến gặp và xin lỗi, bồi thường tổn thất tinh thần cho anh nên
đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho tất cả các bị cáo.
Bản Cáo trng s 33/CT-VKS, ngày 20 tháng 7 năm 2017 ca Vin kim sát
nhân dân huyn A, thành ph Hải Phòng đã truy t các b cáo Nguyễn Đức L, Bùi
Văn T1, Hoàng Văn T2, Nguyễn Mạnh S, Văn Đ về tội Bắt cóc nhằm chiếm
đoạt tài sản quy định tại khoản 1 Điều 134 B luật Hình s
Ti phiên toà, đại din Vin kim sát thc hành quyn công t trình bày li
lun ti đối vi các b cáo. Qua quan đim phát biu, Kim sát viên giữ nguyên
quyết định truy tố đề ngh Hi đồng xét x kết ti các b cáo theo toàn b ni
dung cáo trng. Sau khi phân tích đánh giá hành vi phm ti của các b cáo, c
tình tiết tăng nng, gim nh trách nhim hình s áp dng đối vi từng b o, đại
din Vin kim sát đề ngh Hi đồng xét x:
- Áp dụng khoản 1 Điều 134; điểm b, p khoản 1 khoản 2 Điều 46, Điều
53, Điều 60 B luật Hình sự năm 1999 x phạt b cáo Nguyễn Đức L t 30 tháng
đến 36 tháng nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm v tội Bắt
cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Miễn hình phạt b sung là phạt tiền cho b cáo.
4
- Áp dụng khoản 1 Điều 134; điểm b, p khoản 1 khoản 2 Điều 46, Điều
53, Điều 60 B luật Hình sự năm 1999 x phạt b cáo Bùi Văn T1 t 24 tháng đến
30 tháng nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 04 đến 05 năm v tội
Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Miễn hình phạt b sung là phạt tiền cho b cáo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 134; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 53,
Điều 60 B luật Hình sự năm 1999 xử phạt b cáo Hoàng Văn T2 t 24 tháng đến
30 tháng nhưng cho hưởng án treo, thời gian ththách từ 04 đến 05 năm v tội
Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Miễn hình phạt b sung là phạt tiền cho b cáo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 134; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 53,
Điều 60 B luật Hình sự năm 1999 xử phạt b cáo Nguyễn Mạnh S t 24 tháng đến
30 tháng nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04đến 05 năm v tội
Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Miễn hình phạt b sung là phạt tiền cho b cáo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 134; điểm b, p khoản 1 khoản 2 Điều 46, Điều
53, Điều 60, các Điều 69, 74, 47 B luật Hình sự năm 1999 x phạt b cáo Vũ Văn
Đ t 18 tháng đến 24 tháng nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 3
đến 04 năm về tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.
Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú gia đình giám sát,
quản lý, giáo dục.
Căn c vào các tài liu đã được thm tra ti phiên toà, căn c vào kết qu
tranh lun ti phiên toà, trên cơ s xem t đầy đủ, toàn din các chng c, ý kiến
ca Kim sát viên, các b cáo.
XÉT THẤY
Li khai ca các b cáo ti phiên tphù hp vi li khai ti cơ quan điu
tra, phù hp vi li khai ca người bị hại, những người làm chng, đồ hiện
trường, kết hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đãđủ căn c
kết lun các b cáo Nguyễn Đức L, Bùi Văn T1, Hoàng Văn T2, Nguyễn Mạnh S,
Vũ Văn Đ đã có hành vi bắt giữ anh Quản Hữu T4 làm con tin tại n của anh T4
thôn K, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng đưa về Q, H, thành phố Hải phòng
giữ nhằm buộc gia đình anh T4 phải giao tài sản theo yêu cầu của các bị cáo.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Đức L, Bùi Văn T1, Hoàng Văn T2, Nguyễn
Mạnh S, Văn Đ đã phạm tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản vi phạm
khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho hội, đã xâm phạm đến
sức khỏe, quyền tự do thân thể, danh dự, nhân phẩm của ng dân, gây mất trật tự
tr an hội nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Về nhân thân các bị cáo người
đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội do cố ý. Do vậy, đối với hành vi
phạm tội của các bị cáo cần phải xử phạt một mức án nhất định mới có tác dụng cải
tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bcáo không phải chịu tình
tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự.
5
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại quan điều tra tại phiên
toà các bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, ân hận về hành vi
phạm tội của bản thân, chưa tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội các bị cáo L, T2
đã ra đầu thú, các bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại, người bị hại xin
giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Gia đình bị cáo Nguyễn Đức L có ông Nguyễn
Đức H2 ông nội của bị cáo được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng
chiến; Bị cáo T1 ông Bùi Văn T7 ông nội bị cáo được tặng huy chương
kháng chiến. Bcáo T2 bố ông Hoàng Văn T3 được nnước tặng thưởng
huân chương chiến sỹ vẻ vang, ông Hoàng Văn L ông nội bị cáo được tặng
thưởng huân chương kháng chiến. Mặt khác bhại trong vụ án cũng một phần
lỗi nên các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành
khẩn khai báo , ăn năn hối cải và “ Bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” quy
định tại các điểm b. p khoản 1 khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 để
xem xét khi lượng hình đối với các bị cáo.
Bị cáo Vũ Văn Đ khi phạm tội 17 tuổi 8 tháng 14 ngày là người dưới 18 tuổi
nên khả năng nhận thức về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do
bản thân gây ra còn hạn chế cần áp dụng các Điều 69, 74 Bộ luật Hình sự để quyết
định hình phạt đối với bị cáo.
Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội, nhân thân các bị cáo. Hội đồng xét
xử xét thấy các bị cáo nhiều tình tiết giảm nhtrách nhiệm hình sự, nhân thân
tốt, nơi trú ràng ngoài lần phạm tội này các bị cáo luôn tôn trọng các quy
tắc hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của
công dân nơi trú, không vi phạm các điều mà pháp luật cấm, chưa bị kết án..
nên không cần thiết buộc các bị cáo phải cải tạo cách ly hội nên áp dụng
Điều 60 Bộ luật hình sự cho các bị cáo Nguyễn Đức L, Bùi Văn T1, Hoàng Văn
T2, Nguyễn Mạnh S, Văn Đ được hưởng án treo, thể hiện sự khoan hồng của
pháp luật giao các bị cáo về cho chính quyền địa phương nơi trú để giám sát
giáo dục cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Gia
đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám
t, giáo dục bị cáo.
Vụ án có đồng phạm nhiều bị cáo cùng tham gia, Hội đồng xét xử đánh giá
đây vụ án đồng phạm giản đơn không tính tổ chức. Để áp dụng mức hình
phạt tương xứng với tính chất mức đphạm tội của từng bị cáo Hội đồng xét xử
phân hoá vai trò của các bị cáo như sau: Bị cáo nguyễn Đức L vai trò chính
trong vụ án là người đề xuất giao cho các bị cáo khác thực hiện tội phạm, do đó, b
cáo L phải chịu trách nhiệm hình sự cao nhất. Bo Bùi n T1 vai trò thực
hành tích cực trực tiếp bắt giữ, đe dọa buộc anh T4 phải viết giấy vay nợ và gọi gia
đình mang tiền đến giao cho các bị cáo. Bcáo T2, S, Đ cùng tham gia bắt giữ
trông coi anh T4. Như vậy, bị cáo T1 có vai trò đứng thứ 2 sau bị cáo L. Các bị cáo
S, T2, Đ vai trò giúp sức htrợ cùng với các bị o L, T1 thực hiện hành vi
phạm tội. Bị cáo Đ có vai trò thấp nhất trong vụ án
6
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 134 Bộ luật hình s
bị cáo thể bị phạt tiền 10.000.00 ( Mười triệu đồng) đến 100.000.00 ( Một
trăm triệu đồng), tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm
trú từ một năm đến năm năm. t gia đình các bị cáo khó khăn, bản thân chưa
có việc làm do đó miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với c bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi phạm tội các bcáo đã bồi thường cho anh
Quản Hữu T4 15.000.000đ (do bị cáo L đại diện) tổn thất tinh thần. Anh T4 không
yêu cầu thêm. Bcáo L không yêu cầu các bị cáo khác phải hoàn trả số tiền
đã bra bồi thường cho bị hại. Do vậy, Hội đồng xét xử không phải xem xét giải
quyết.
Trong vụ án còn Vũ Doãn H là đối tượng đồng phạmng với các bị o
thực hiện hành vi bắt giữ trái phép anh Quản Hữu T4 để chiếm đoạt tài sản. Sau
khi Tòa án thụ vụ án, gia đình Doãn H cung cấp hồ bệnh án điều trị tâm
thần tại bệnh viện tâm thần Hải phòng và có đơn đề nghị trưng cầu giám định pháp
y m thần đối với Hải. Hiện Tòa án nhân dân huyện A đã quyết định tạm đình chỉ
xét xử đối với Doãn H chờ kết quả trưng cầu giám định pháp y tâm thần. Khi
nào có kết quả giám định sẽ xem xét giải quyết sau.
Ngoài ra trong vụ án, bạn gái của L tên Quỳnh A biết việc các bị o bắt
giữ anh T4 đưa về Q một số đối tượng bạn của Quỳnh A L hành vi sử
dụng trái phép chất ma túy vào đêm ngày 19 tháng 3 năm 2017. Tuy nhiên, do
chưa xác định được tên tuổi địa chỉ nơi của Quỳnh Anh những đối tượng đã
sử dụng ma túy, vật chứng liên quan không nên quan điều tra ch ra, tiếp
tục xác minh làm rõ xử lý sau.
V án p: Các b o Nguyễn Đức L, Bùi Văn T1, Hoàng Văn T2, Nguyễn
Mạnh S, Vũ Văn Đ phi chu án phí hình s sơ thm theo quy định của pháp luật.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên b các bị o Nguyễn Đức L, Bùi Văn T1, Hoàng Văn T2, Nguyễn
Mạnh S, Vũ Văn Đ phm tội “ Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản .
- Áp dụng khoản 1 Điều 134; điểm b, p khoản 1 khoản 2 Điều 46, Điều
53, Điều 60 B luật Hình sự năm 1999 x phạt b cáo Nguyễn Đức L 36 (Ba mươi
sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60( Sáu ơi) tháng v
tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Miễn hình phạt b sung phạt tiền cho b
cáo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 134; điểm b, p khoản 1 khoản 2 Điều 46, Điều
53, Điều 60 B luật Hình sự năm 1999 xử phạt b cáo Bùi Văn T1 30 (Ba mươi)
tháng nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (Sáu mươi ) tháng v tội
Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Miễn hình phạt b sung là phạt tiền cho b cáo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 134; điểm b, p khoản 1và khoản 2 Điều 46, Điều
53, Điều 60 B luật Hình sự năm 1999 x phạt b cáo Hoàng Văn T2 24 ( Hai
mươi ) tháng nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn mươi
7
tám) tháng v tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Miễn hình phạt b sung phạt
tiền cho b cáo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 134; điểm b, p khoản 1 khoản 2 Điều 46, Điều
53, Điều 60 B luật Hình sự năm 1999 xử phạt b cáo Nguyễn Mạnh S 24 ( Hai
mươi ) tháng nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn mươi
tám) tháng v tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Miễn hình phạt b sung phạt
tiền cho b cáo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 134; điểm b, p khoản 1 khoản 2 Điều 46, Điều
53, Điều 60, các Điều 69, 74, 47 B luật Hình sự năm 1999 x phạt b cáo Vũ Văn
Đ 18 (Mười tám) tháng nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 ( Ba
mươi sáu) tháng v tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.
Giao bcáo Nguyễn Đức L cho Ủy ban nhân dân Đ, huyện A, thành phố
Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người
được thi hành án treo thay đổi nơi trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1
Điều 69 Luật thi hành án Hình sự.
Giao bị cáo Bùi Văn T1 cho Ủy ban nhân dân An Hòa, huyện A, thành
phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp
người được thi hành án treo thay đổi nơi trú thì thực hiện theo quy định tại
khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án Hình sự.
Giao bị cáo Nguyễn Mạnh S, Hoàng Văn T2 cho Ủy ban nhân dân H,
huyện A, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong
trường hợp người được thi hành án treo thay đổi nơi trú thì thực hiện theo quy
định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án Hình sự.
Giao bị cáo n Đ cho Ủy ban nhân dân A, huyện A, thành phố Hải
Phòng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được
thi hành án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69
Luật thi hành án Hình sự.
2. V án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Ttụng Hình sự; Các Điều 6, 23
Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buc các bị cáo Nguyễn Đức L, Bùi Văn T1, Hoàng Văn T2, Nguyễn Mạnh
S, Văn Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình s
sơ thm để sung qu Nhà nước.
Các bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong hn 15 ngày k t ngày
tuyên án./.
8
Nơi nhn:
- TANDTP Hi Phòng;;
- VKSND huyện A;
- Công an huyện A;
- Các bị cáo; bị hại;
- S Tư pháp; PV27, PV81;
- Chi cục THADS huyn A;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thu Hƣơng
Tải về
Bản án số 47/2017/HSST Bản án số 47/2017/HSST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất