Bản án số 38/2019/HS-ST ngày 23/08/2019 của TAND huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 38/2019/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 38/2019/HS-ST ngày 23/08/2019 của TAND huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Tội danh: 134.Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Nam Sách (TAND tỉnh Hải Dương)
Số hiệu: 38/2019/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/08/2019
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂNDÂN
HUYỆN NAM SÁCH
TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 38/2019/HS-ST
Ngày 23-8-2019
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Liên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Quang Hoàng - Cán bộ trung tâm y tế huyện Nam Sách;
Ông Nguyễn Đắc Quýnh - Pchủ tịch hội cựu giáo chức huyện Nam Sách.
- Thư phiên tòa: Phạm Thị Mai Hoa - Thư Tòa án nhân dân huyện
Nam Sách.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách tham gia phiên tòa:
Ông Phùng Văn Huấn - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam sách tỉnh Hải
Dương, xét xử công khai thẩm vụ án Hình sự thụ số 39/2019/HS-ST ngày
30/7/2019 đối với bị cáo:
Hoàng Kim T, sinh năm: 1995;
Nơi ĐKHKTT: Khu H, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình đhọc vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính:
Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Kim T1, sinh năm 1962
Nguyễn Thị C, sinh năm 1972; 02 con, lớn sinh năm 2013 (con nuôi), nhỏ
sinh năm 2019; Hiện chung sống như vợ chồng cùng chị Trần Ánh H, sinh năm 2000.
Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 28/5/2018, Công an tỉnh Hải ơng xử phạt vi phạm hành chính
về hành vi xâm hại sức khỏe người khác, đã chấp hành xong ngày 10/7/2018.
Nhân thân:
- Ngày 25/8/2012, Công an huyện Nam Sách xử phạt vi phạm hành chính về
hành vi xâm hại sức khỏe của người khác, đã chấp hành xong ngày 24/10/2012. Ngày
26/12/2012, Công an huyện Nam Sách xphạt vi phạm hành chính vhành vi Đánh
bạc, đã chấp hành xong ngày 08/01/2013. Ngày 28/12/2012, Công an huyện Nam
2
Sách xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khoẻ người khác, đã chấp
hành xong ngày 02/01/2013. Ngày 11/3/2015 Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương
xử phạt T 13 tháng về tội "Cưỡng đoạt tài sản" theo bản án hình sthẩm số
28/2015/HSST ngày 11/3/2015, ngày 30/11/2015 đã chấp hành xong bản án.
Bị cáo btạm giam từ ngày 26/3/2019, hiện tạm giam tại trại tạm giam Kim C,
Công an tỉnh Hải Dương - (có mặt).
Người bị hại:
1- Cháu Nguyễn Thị Thảo C, sinh ngày 26/6/2004;
2- Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1980;
Đu đa chỉ: Thôn B, Nam C, huyn N, tỉnh Hải ơng;
Ni đại diện theo pháp luật ca cháu C: Ch Nguyn ThL, sinh năm 1980 (mẹ
đẻ của cháu C), (Chị L và cháu C đều vắng mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người bị hại (cháu C): Thị
Thu Hiền - Trợ giúp viên pháp của Trung tâm trợ giúp pháp Nhà nước tỉnh Hải
Dương - (có mặt);
Người làm chứng:
1- Anh Hoàng Ngọc H, sinh năm 1992;
Địa chỉ: Thôn Đ, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương;
2- Anh Mạc Thành Tr, sinh năm 1993;
Địa chỉ: Khu L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương;
3- Anh Trần Trung K, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương;
4- Cháu Phạm Huy Ch, sinh năm 2002;
Địa chỉ: Thôn M, xã Nam T, huyện N, tỉnh Hải Dương;
Ni đại din theo pháp luật của cu Chuẩn: Ch Nguyễn Thị H (m đcu Ch);
Địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương;
5- Cháu Thân Văn Q, sinh năm 2002;
Người đại diện hợp pháp của cháu Q: Bà Lương Thị H (mẹ cháu Q);
Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương;
6- Anh Vũ Văn C1, sinh năm 1994;
Địa chỉ: Khu dân cư N, Phường T, TP C, tỉnh Hải Dương.
7- Chị Đỗ Thị Tr, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Số 10b, đường Tr, khu M, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương.
3
8- Anh Trịnh Dương S, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương.
9- Anh Trịnh Sơn D, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Khu L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương.
10- Anh Nguyễn Sỹ A, sinh năm 2000;
Địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương;
11- Anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 1988;
Địa chỉ: Khu H, thtrấn N, huyn N, tỉnh Hi ơng;
12- Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1999;
Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương;
(Những người làm chứng đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 07/3/2019, Hoàng Kim T đi xe taxi đến quán trà
sữa “Trang Bin” ở đường Trần Hưng Đạo, thị trấn Nam Sách, huyện Nam Sách, tỉnh
Hải Dương để tìm cháu Nguyễn Thị Thảo C. Khi gặp C gần cửa quán trà sữa Trang
Bin”, hai bên xảy ra xát, do trước đây C làm nhân viên cho quán Karaoke của T,
đến khoảng tháng 2/2019 thì C tự ý bỏ đi làm cho người khác, vậy T bực tức tát C
một cái. T bảo C còn nợ T 5.000.000 đồng chưa thanh toán nên yêu cầu C trả số nợ
trên. Do không có tiền nên C nói sẽ bảo mẹ lên trả tiền cho T. T yêu cầu C lên xe taxi
để nói chuyện nhưng C không đồng ý đang làm việc. T đi ra nói với chị Đỗ Thị Tr
(chủ quán trà sữa Trang Bin) để cho C lên xe taxi nói chuyện rồi quay lại tiếp tục yêu
cầu C lên xe. Do sợ bị đánh nên C đã cùng T lên xe taxi. Sau khi lên xe T bảo anh
Nguyễn Hữu H lái xe taxi đưa về quán cầm đồ 68 (nơi T làm việc) ở số 389 đường
Tr, thị trấn N, huyện N. T nói với C về quán gọi cho gia đình mang 5.000.000
đồng lên trả thì mới cho về.
Khi đến nơi, T yêu cầu C vào trong quán, gọi điện cho mmang tiền lên trả thì
mới được về. Sau đó T cùng với bạn sang thành phố Hải Dương chơi bảo Ch lại
trông quán. C vào trong quán ngồi, không dám về sợ T đánh. C sử dụng điện thoại
nhắn tin cho mẹ là chị Nguyễn Thị L kể lại sự việc bị T đánh, đưa về quán cầm đồ 68
và yêu cầu mang 5.000.000 đồng lên trả thì mới được về. Sau đó C nhắn tin cho Thân
Văn Q (bạn C) kể lại sự việc. Q cùng với Anh Văn C1 (bạn C) Ph (bạn Q) đi
đến quán cầm đồ 68, C1 ngồi ngoài xe tắc xi, Q, Ph vào quán hỏi chuyện C thì C nói
chờ msẽ đem tiền đến nên Q, C1, Ph về. Thấy mẹ chưa đến nên C tiếp tục nhắn
tin cho Q nhờ C1 cho vay 5 triệu để trả nợ. C1 nhắn tin cho T nói sẽ trả nợ 5 triệu hộ
C để T cho C về nhưng T không đồng ý. T điện cho Trần Trung K bảo K đến quán
4
nếu ai đem tiền trả nợ cho C thì bảo trả 15 triệu đồng, bảo C viết giấy vay nợ T 15
triệu đồng. K bảo C viết giấy vay nhưng C không viết chỉ vay 5 triệu nên K
không yêu cầu C viết nữa. Sau đó Q Ph đem 5 triệu đến quán bảo trả nợ hC
nhưng K nói T dặn là nhận hộ 15 triệu mới nhận, vì vậy Q và Ph đi về.
Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, do sợ con mình bị đánh không được về nên
chị L cùng với con trai Nguyễn Văn T1 mang theo số tiền 5.000.000 đồng đến
quán cầm đồ 68 để trả theo yêu cầu của T. Khi T về đến quán, chị L hỏi về việc nợ
tiền của C, thì T nói phải trả 5.000.000 đồng tiền nợ. Chị L yêu cầu đưa giấy vay nợ
của C thì sẽ trả, T nói việc vay nợ giữa T C không giấy nhưng giấy vay n
giữa C và mẹ của T rồi lấy xe đi về nhà cầm giấy cho chị L. Khi T quay lại đưa giấy
C nợ mẹ T 5 triệu (nhưng đã trả) cho chị L xem thì Công an huyện Nam Sách kiểm
tra và lập biên bản.
Vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen, số Imei
255816097745244 gắn sim số 0339896789 của Hoàng Kim T; 01 điện thoại di động
nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen, số Imei 35581009866828, số Imei2: 355826093668829
gắn sim số 0377333383 của anh Trần Trung K hiện đang được quản tại kho vật
chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nam Sách chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu Hoàng Kim T phải bồi
thường thiệt hại.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận quá tnh phạm tội của mình đúng như nội dung bản
o trạng của VKS nhân dân huyn Nam Sách, tỉnh Hi Dương đã truy tố.
Ni bhi là cháu C vng mặt nhưng có đơn xin giảm nh hình phạt cho bo.
Người bảo vquyền lợi ích hợp pháp của người bị hại (cháu C) đề nghị: Bị
cáo đã thực hiện hành vi bắt cóc cháu C người dưới 16 tuổi nhằm mục đích cếm
đoạt tài sản đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản và quyền tdo, sức khỏe của
người khác, nên bị cáo bị xét xử theo điểm d khoản 2 Điều 169 BLHS là đúng. Cháu
C đã đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên đnghị HĐXX xem xét ý kiến
của cháu C. Người bị hại cháu C, chị L người đại diện hợp pháp của cháu C không
yêu cầu giải quyết về phần trách nhiệm dân sự.
Bản o trạng số 38/CT-VKS-NS ngày 29 tháng 7 m 2019 của Viện kiểm sát
nhân n huyện Nam Sách truy tố bị o Hoàng Kim T vtội: "Bt cóc nhằm chiếm
đoạt i sản" theo quy định tại đim d khoản 2 Điều 169 BLHS.
Ti phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền ng tố, giữ nguyên cáo trạng truy
tố bị o và đề nghị HĐXX áp dụng d khoản 2 Điều 169; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều
51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS. Điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106;
khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Luật phí lệ phí m 2015; Ngh quyết số
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thưng vụ Quốc hội quy định về mức thu án p
lệ phí. Xử phạt bị cáo Hoàng Kim T từ 5 năm đến 5 m 3 tháng tù, thời hạn tính từ
ngày bắt tạm giam 26/3/2019. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Trách nhiệm dân
sự: Người bị hại không u cầu nên không đặt ra giải quyết. Vật chứng: Tịch thu sung
5
quỹ N nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen gắn sim số
0339896789 của Hoàng Kim T. Trả lại anh Trần Trung K 01 điện thoại di động nhãn
hiệu Nokia vỏ màu đen gắn sim số 0377333383. Bị o phải chịu án phí nh sự
thẩm theo quy định.
Bị cáo i lời sau ng đề nghị Hội đồng t xử giảm nhẹ nh phạt cho bị o.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra Công an huyện Nam
Sách, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, Kiểm
sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng vthẩm quyền, trình tự,
thủ tục tố tụng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra tại phiên
tòa, bị cáo không ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Hoàng Kim T tại phiên
toà phù hợp lời khai của bị cáo tại quan điều tra, phù hợp với lời khai của những
người bị hại, những người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả
tang, biên bản thu giữ vật chứng. Như vậy, đủ sở kết luận: Vào khoảng thời
gian từ 16 giờ 30 phút đến 20 giờ ngày 07/3/2019, do mục đích đòi nợ cháu C nên
Hoàng Kim T bắt cháu Nguyễn Thị Thảo C sinh ngày 26/6/2004 từ quán trà sữa
“Trang Bin” đường Trần Hưng Đạo, thị trấn Nam Sách, huyện Nam Sách lên xe
taxi sau đó đưa cháu về quán cầm đồ 68 số 389 đường Trần Phú, thị trấn Nam
Sách, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. T đã yêu cầu cháu C phải ở quán và liên lạc
với mẹ chị Nguyễn Thị L mang trả T số tiền 5.000.000đồng. Khi bạn của cháu C
đến thì lại đòi là 15 triệu đồng thì sẽ cho cháu C về. Khi chị L mang tiền 5 triệu đồng
đến giao cho T thì bị lực lượng Công an huyện Nam Sách phát hiện bắt giữ.
[3] Bị o là người đủ năng lực trách nhiệm nh sự, thc hiện với lỗi cố ý.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản sức khỏe của người
khác. Do cháu C còn nhỏ dưới 16 tuổi nên hành vi của bị cáo đã gây tâm hoang
mang, hoảng loạn cho cháu C, vi phạm đến quyền bảo vệ trẻ em. Vì vậy, Hội đồng
t xử đủ cơ sở kết luận: Hoàng Kim T phạm tội "Bắt c nhm chiếm đot tài sản"
theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 169 BLHS.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không tiền án nhưng có
01 tiền sự: Ngày 28/5/2018, Công an tỉnh Hải ơng xử phạt vi phạm hành chính về
hành vi xâm hại sức khỏe người khác. Bị cáo nhân thân xấu: Năm 2012 bị Công an
huyện Nam Sách xử lý hành chính về hành vi đánh bạc và 02 lần Công an huyện Nam
Sách xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khoẻ người khác. Ngày
11/3/2015 Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt T 13 tháng tù về tội "Cưỡng
đoạt tài sản" theo bản án hình sự thẩm số 28/2015/HSST ngày 11/3/2015 đã được
6
xóa tiền án, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo chưa tốt, vì vậy cần có hình
phạt nghiêm khắc với bị cáo.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thật t khaio, ănn hi
cải. Người bị hi xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo n bcáo đượcởng tình tiết giảm
nhtại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS. Mt khác xét bị o chưa cếm đot
được tiền, nguyên nn phạm tộing xuất pt t việc do muốn đòi được số tiền nời
bị hại cu C n nợ của bị cáo n dẫn đến bị cáo phạm tội, vậy Hội đồng t xử
xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[6] Hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 6 Điều 169 BLHS, bịo còn có thể phải bị
phạt tiền. Tuy nhiên, do bị o nghề nghiệp khôngn định, không tài sản riêng, kinh
tế khó kn nên kng áp dụng hình phạt bổ sung hình phạt tiền với bị cáo.
[7] Trách nhiệm dân sự: Nời bị hại không yêu cầu giải quyết nên XX kng
xem xét.
[8] Vật chứng: n cứ điểm điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2, điểm
b khoản 3 Điều 106 BLTTHS, cếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen, số
Imei 255816097745244 gắn sim số 0339896789 Hoàng Kim T sau khi bắt giC đã s
để nhắn tin cho C, nhắn tin nhK nhn htiền là công cthực hin hành vi phạm tội
n tịch thu sung quỹ Nhà ớc. Do anh Trần Trung K không được bàn bạc, không
biết được việc T bắt cóc cháu C nhằm cếm đoạt tài sản, không lỗi nên trả lại anh
Kiên 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen, số Imei 35581009866828,
số Imei2: 355826093668829 gắn sim số 0377333383.
[9] Án p: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Luật phí và lệ phí m 2015; Ngh
quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu
án phí và lệ phí Tòa án, bị o phải chu 200.000đ án p hình s thm.
[10] Đối với anh Trần Trung K, Cháu Phạm Huy Ch, anh Nguyễn Sỹ A, anh
Mạc Thành Tr, anh Nguyễn Hữu H không được T bàn bạc việc bắt c cháu C
buộc mẹ cháu C phải đưa tiền cho bị cáo mới cho cháu C về, khônglỗi nên Công an
huyện Nam Sách kng xemt giải quyếtcó căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điu 169; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38
BLHS;
Tuyên b: Bcáo Hoàng Kim T phm ti "Bắt cóc nhằm chiếm đoạt i sản".
Xử phạt: Hoàng Kim T 5 (năm) năm thời hạn tính từ ngày tạm giam
26/3/2019, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, Điểm a khoản 2, điểm b
khoản 3 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu của Hoàng Kim T chiếc điện thoại di động nhãn
hiệu Nokia vỏ màu đen, số Imei 255816097745244 gắn sim số 0339896789 sung qu
Nhà nước. Tr lại anh Trần Trung K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu
7
đen, số Imei 35581009866828, số Imei2: 355826093668829 gắn sim số 0377333383
(theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Nam Sách với C cục THA dân
sự huyện Nam Sách ngày 21/8/2019).
Án p: Áp dng khon 2 Điu 136 BLTTHS, Lut phí và l phí năm 2015;
Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14 ca y ban Thường v Quc hi quy đnh
v mức thu án p và l phí a án, Hoàng Kim T phải chu 200.000đng án phí
sơ thm hình s.
V quyền kháng o đối vi bản án: B o, ngưi bo vquyền lợi ích hợp
pháp của người bị hại đưc quyền kháng cáo trong hạn 15 ny kể từ ny tuyên án
thẩm. Ngưi bị hại người đại diện hợp pháp của cháu C được quyền kháng o trong
hạn 15 ny kể từ ny nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết ./.
Nơi nhận:
- VKSDND huyện Nam Sách;
- VKSND tỉnh Hải Dương;
- Công an huyện Nam Sách;
-C cc THA dân s huyn Nam Sách;
- Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
- Tri tm giam Công an tnh Hi Dương;
- Bo;
- Người bhi, ngưi đi din hợp pháp và
người bo v quyền lợi ích hợp pháp ca
cháu C.
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hà Thị Liên
Tải về
Bản án số 38/2019/HS-ST Bản án số 38/2019/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất