Bản án số 38/2019/HS-ST ngày 23/08/2019 của TAND huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 38/2019/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 38/2019/HS-ST
Tên Bản án: | Bản án số 38/2019/HS-ST ngày 23/08/2019 của TAND huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản |
---|---|
Tội danh: | 134.Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Nam Sách (TAND tỉnh Hải Dương) |
Số hiệu: | 38/2019/HS-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 23/08/2019 |
Lĩnh vực: | Hình sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂNDÂN
HUYỆN NAM SÁCH
TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 38/2019/HS-ST
Ngày 23-8-2019
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Liên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Quang Hoàng - Cán bộ trung tâm y tế huyện Nam Sách;
Ông Nguyễn Đắc Quýnh - Phó chủ tịch hội cựu giáo chức huyện Nam Sách.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Nam Sách.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách tham gia phiên tòa:
Ông Phùng Văn Huấn - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam sách tỉnh Hải
Dương, xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 39/2019/HS-ST ngày
30/7/2019 đối với bị cáo:
Hoàng Kim T, sinh năm: 1995;
Nơi ĐKHKTT: Khu H, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính:
Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Kim T1, sinh năm 1962
và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1972; có 02 con, lớn sinh năm 2013 (con nuôi), nhỏ
sinh năm 2019; Hiện chung sống như vợ chồng cùng chị Trần Ánh H, sinh năm 2000.
Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 28/5/2018, Công an tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính
về hành vi xâm hại sức khỏe người khác, đã chấp hành xong ngày 10/7/2018.
Nhân thân:
- Ngày 25/8/2012, Công an huyện Nam Sách xử phạt vi phạm hành chính về
hành vi xâm hại sức khỏe của người khác, đã chấp hành xong ngày 24/10/2012. Ngày
26/12/2012, Công an huyện Nam Sách xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh
bạc, đã chấp hành xong ngày 08/01/2013. Ngày 28/12/2012, Công an huyện Nam
2
Sách xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khoẻ người khác, đã chấp
hành xong ngày 02/01/2013. Ngày 11/3/2015 Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương
xử phạt T 13 tháng tù về tội "Cưỡng đoạt tài sản" theo bản án hình sự sơ thẩm số
28/2015/HSST ngày 11/3/2015, ngày 30/11/2015 đã chấp hành xong bản án.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/3/2019, hiện tạm giam tại trại tạm giam Kim C,
Công an tỉnh Hải Dương - (có mặt).
Người bị hại:
1- Cháu Nguyễn Thị Thảo C, sinh ngày 26/6/2004;
2- Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1980;
Đều địa chỉ: Thôn B, xã Nam C, huyện N, tỉnh Hải Dương;
Người đại diện theo pháp luật của cháu C: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1980 (mẹ
đẻ của cháu C), (Chị L và cháu C đều vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại (cháu C): Bà Lê Thị
Thu Hiền - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hải
Dương - (có mặt);
Người làm chứng:
1- Anh Hoàng Ngọc H, sinh năm 1992;
Địa chỉ: Thôn Đ, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương;
2- Anh Mạc Thành Tr, sinh năm 1993;
Địa chỉ: Khu L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương;
3- Anh Trần Trung K, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương;
4- Cháu Phạm Huy Ch, sinh năm 2002;
Địa chỉ: Thôn M, xã Nam T, huyện N, tỉnh Hải Dương;
Người đại diện theo pháp luật của cháu Chuẩn: Chị Nguyễn Thị H (mẹ đẻ cháu Ch);
Địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương;
5- Cháu Thân Văn Q, sinh năm 2002;
Người đại diện hợp pháp của cháu Q: Bà Lương Thị H (mẹ cháu Q);
Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương;
6- Anh Vũ Văn C1, sinh năm 1994;
Địa chỉ: Khu dân cư N, Phường T, TP C, tỉnh Hải Dương.
7- Chị Đỗ Thị Tr, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Số 10b, đường Tr, khu M, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương.
3
8- Anh Trịnh Dương S, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương.
9- Anh Trịnh Sơn D, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Khu L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương.
10- Anh Nguyễn Sỹ A, sinh năm 2000;
Địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương;
11- Anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 1988;
Địa chỉ: Khu H, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương;
12- Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1999;
Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương;
(Những người làm chứng đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 07/3/2019, Hoàng Kim T đi xe taxi đến quán trà
sữa “Trang Bin” ở đường Trần Hưng Đạo, thị trấn Nam Sách, huyện Nam Sách, tỉnh
Hải Dương để tìm cháu Nguyễn Thị Thảo C. Khi gặp C gần cửa quán trà sữa “Trang
Bin”, hai bên xảy ra xô xát, do trước đây C làm nhân viên cho quán Karaoke của T,
đến khoảng tháng 2/2019 thì C tự ý bỏ đi làm cho người khác, vì vậy T bực tức tát C
một cái. T bảo C còn nợ T 5.000.000 đồng chưa thanh toán nên yêu cầu C trả số nợ
trên. Do không có tiền nên C nói sẽ bảo mẹ lên trả tiền cho T. T yêu cầu C lên xe taxi
để nói chuyện nhưng C không đồng ý vì đang làm việc. T đi ra nói với chị Đỗ Thị Tr
(chủ quán trà sữa Trang Bin) để cho C lên xe taxi nói chuyện rồi quay lại tiếp tục yêu
cầu C lên xe. Do sợ bị đánh nên C đã cùng T lên xe taxi. Sau khi lên xe T bảo anh
Nguyễn Hữu H là lái xe taxi đưa về quán cầm đồ 68 (nơi T làm việc) ở số 389 đường
Tr, thị trấn N, huyện N. T nói với C về quán và gọi cho gia đình mang 5.000.000
đồng lên trả thì mới cho về.
Khi đến nơi, T yêu cầu C vào trong quán, gọi điện cho mẹ mang tiền lên trả thì
mới được về. Sau đó T cùng với bạn sang thành phố Hải Dương chơi bảo Ch ở lại
trông quán. C vào trong quán ngồi, không dám về vì sợ T đánh. C sử dụng điện thoại
nhắn tin cho mẹ là chị Nguyễn Thị L kể lại sự việc bị T đánh, đưa về quán cầm đồ 68
và yêu cầu mang 5.000.000 đồng lên trả thì mới được về. Sau đó C nhắn tin cho Thân
Văn Q (bạn C) kể lại sự việc. Q cùng với Anh Vũ Văn C1 (bạn C) và Ph (bạn Q) đi
đến quán cầm đồ 68, C1 ngồi ngoài xe tắc xi, Q, Ph vào quán hỏi chuyện C thì C nói
là chờ mẹ sẽ đem tiền đến nên Q, C1, Ph về. Thấy mẹ chưa đến nên C tiếp tục nhắn
tin cho Q nhờ C1 cho vay 5 triệu để trả nợ. C1 nhắn tin cho T nói sẽ trả nợ 5 triệu hộ
C để T cho C về nhưng T không đồng ý. T điện cho Trần Trung K bảo K đến quán
4
nếu ai đem tiền trả nợ cho C thì bảo trả 15 triệu đồng, bảo C viết giấy vay nợ T 15
triệu đồng. K bảo C viết giấy vay nhưng C không viết vì chỉ vay 5 triệu nên K
không yêu cầu C viết nữa. Sau đó Q và Ph đem 5 triệu đến quán bảo trả nợ hộ C
nhưng K nói T dặn là nhận hộ 15 triệu mới nhận, vì vậy Q và Ph đi về.
Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, do sợ con mình bị đánh và không được về nên
chị L cùng với con trai là Nguyễn Văn T1 mang theo số tiền 5.000.000 đồng đến
quán cầm đồ 68 để trả theo yêu cầu của T. Khi T về đến quán, chị L hỏi về việc nợ
tiền của C, thì T nói phải trả 5.000.000 đồng tiền nợ. Chị L yêu cầu đưa giấy vay nợ
của C thì sẽ trả, T nói việc vay nợ giữa T và C không có giấy nhưng có giấy vay nợ
giữa C và mẹ của T rồi lấy xe đi về nhà cầm giấy cho chị L. Khi T quay lại đưa giấy
C nợ mẹ T 5 triệu (nhưng đã trả) cho chị L xem thì Công an huyện Nam Sách kiểm
tra và lập biên bản.
Vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen, số Imei
255816097745244 gắn sim số 0339896789 của Hoàng Kim T; 01 điện thoại di động
nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen, số Imei 35581009866828, số Imei2: 355826093668829
gắn sim số 0377333383 của anh Trần Trung K hiện đang được quản lý tại kho vật
chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nam Sách chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu Hoàng Kim T phải bồi
thường thiệt hại.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận quá trình phạm tội của mình đúng như nội dung bản
cáo trạng của VKS nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương đã truy tố.
Người bị hại là cháu C vắng mặt nhưng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại (cháu C) đề nghị: Bị
cáo đã thực hiện hành vi bắt cóc cháu C là người dưới 16 tuổi nhằm mục đích cếm
đoạt tài sản đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản và quyền tự do, sức khỏe của
người khác, nên bị cáo bị xét xử theo điểm d khoản 2 Điều 169 BLHS là đúng. Cháu
C đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên đề nghị HĐXX xem xét ý kiến
của cháu C. Người bị hại cháu C, chị L và người đại diện hợp pháp của cháu C không
yêu cầu giải quyết về phần trách nhiệm dân sự.
Bản cáo trạng số 38/CT-VKS-NS ngày 29 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Nam Sách truy tố bị cáo Hoàng Kim T về tội: "Bắt cóc nhằm chiếm
đoạt tài sản" theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 169 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, giữ nguyên cáo trạng truy
tố bị cáo và đề nghị HĐXX áp dụng d khoản 2 Điều 169; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều
51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS. Điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106;
khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và
lệ phí. Xử phạt bị cáo Hoàng Kim T từ 5 năm đến 5 năm 3 tháng tù, thời hạn tính từ
ngày bắt tạm giam 26/3/2019. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Trách nhiệm dân
sự: Người bị hại không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Vật chứng: Tịch thu sung

5
quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen gắn sim số
0339896789 của Hoàng Kim T. Trả lại anh Trần Trung K 01 điện thoại di động nhãn
hiệu Nokia vỏ màu đen gắn sim số 0377333383. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ
thẩm theo quy định.
Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam
Sách, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, Kiểm
sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự,
thủ tục tố tụng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên
tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Hoàng Kim T tại phiên
toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những
người bị hại, những người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả
tang, biên bản thu giữ vật chứng. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng thời
gian từ 16 giờ 30 phút đến 20 giờ ngày 07/3/2019, do có mục đích đòi nợ cháu C nên
Hoàng Kim T bắt cháu Nguyễn Thị Thảo C sinh ngày 26/6/2004 từ quán trà sữa
“Trang Bin” ở đường Trần Hưng Đạo, thị trấn Nam Sách, huyện Nam Sách lên xe
taxi sau đó đưa cháu về quán cầm đồ 68 ở số 389 đường Trần Phú, thị trấn Nam
Sách, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. T đã yêu cầu cháu C phải ở quán và liên lạc
với mẹ là chị Nguyễn Thị L mang trả T số tiền 5.000.000đồng. Khi bạn của cháu C
đến thì lại đòi là 15 triệu đồng thì sẽ cho cháu C về. Khi chị L mang tiền 5 triệu đồng
đến giao cho T thì bị lực lượng Công an huyện Nam Sách phát hiện bắt giữ.
[3] Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản và sức khỏe của người
khác. Do cháu C còn nhỏ dưới 16 tuổi nên hành vi của bị cáo đã gây tâm lý hoang
mang, hoảng loạn cho cháu C, vi phạm đến quyền bảo vệ trẻ em. Vì vậy, Hội đồng
xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hoàng Kim T phạm tội "Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản"
theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 169 BLHS.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án nhưng có
01 tiền sự: Ngày 28/5/2018, Công an tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính về
hành vi xâm hại sức khỏe người khác. Bị cáo có nhân thân xấu: Năm 2012 bị Công an
huyện Nam Sách xử lý hành chính về hành vi đánh bạc và 02 lần Công an huyện Nam
Sách xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khoẻ người khác. Ngày
11/3/2015 Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt T 13 tháng tù về tội "Cưỡng
đoạt tài sản" theo bản án hình sự sơ thẩm số 28/2015/HSST ngày 11/3/2015 đã được
6
xóa tiền án, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo chưa tốt, vì vậy cần có hình
phạt nghiêm khắc với bị cáo.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối
cải. Người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm
nhẹ tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Mặt khác xét bị cáo chưa cếm đoạt
được tiền, nguyên nhân phạm tội cũng xuất phát từ việc do muốn đòi được số tiền người
bị hại cháu C còn nợ của bị cáo nên dẫn đến bị cáo phạm tội, vì vậy Hội đồng xét xử
xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[6] Hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 6 Điều 169 BLHS, bị cáo còn có thể phải bị
phạt tiền. Tuy nhiên, do bị cáo nghề nghiệp không ổn định, không có tài sản riêng, kinh
tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền với bị cáo.
[7] Trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không
xem xét.
[8] Vật chứng: Căn cứ điểm điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2, điểm
b khoản 3 Điều 106 BLTTHS, cếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen, số
Imei 255816097745244 gắn sim số 0339896789 Hoàng Kim T sau khi bắt giữ C đã sử
để nhắn tin cho C, nhắn tin nhờ K nhận hộ tiền là công cụ thực hiện hành vi phạm tội
nên tịch thu sung quỹ Nhà nước. Do anh Trần Trung K không được bàn bạc, không
biết được việc T bắt cóc cháu C nhằm cếm đoạt tài sản, không có lỗi nên trả lại anh
Kiên 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen, số Imei 35581009866828,
số Imei2: 355826093668829 gắn sim số 0377333383.
[9] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu
án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
[10] Đối với anh Trần Trung K, Cháu Phạm Huy Ch, anh Nguyễn Sỹ A, anh
Mạc Thành Tr, anh Nguyễn Hữu H không được T bàn bạc việc bắt cóc cháu C và
buộc mẹ cháu C phải đưa tiền cho bị cáo mới cho cháu C về, không có lỗi nên Công an
huyện Nam Sách không xem xét giải quyết là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 169; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38
BLHS;
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Kim T phạm tội "Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản".
Xử phạt: Hoàng Kim T 5 (năm) năm tù thời hạn tính từ ngày tạm giam
26/3/2019, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, Điểm a khoản 2, điểm b
khoản 3 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu của Hoàng Kim T chiếc điện thoại di động nhãn
hiệu Nokia vỏ màu đen, số Imei 255816097745244 gắn sim số 0339896789 sung quỹ
Nhà nước. Trả lại anh Trần Trung K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu
7
đen, số Imei 35581009866828, số Imei2: 355826093668829 gắn sim số 0377333383
(theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Nam Sách với C cục THA dân
sự huyện Nam Sách ngày 21/8/2019).
Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Luật phí và lệ phí năm 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, Hoàng Kim T phải chịu 200.000đồng án phí
sơ thẩm hình sự.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ
thẩm. Người bị hại và người đại diện hợp pháp của cháu C được quyền kháng cáo trong
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết ./.
Nơi nhận:
- VKSDND huyện Nam Sách;
- VKSND tỉnh Hải Dương;
- Công an huyện Nam Sách;
-C cục THA dân sự huyện Nam Sách;
- Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
- Bị cáo;
- Người bị hại, người đại diện hợp pháp và
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
cháu C.
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hà Thị Liên
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 22/09/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 15/06/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 25/05/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 12/01/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 25/05/2021
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Bản án số 03/2021/HS-ST ngày 06/01/2021 của TAND tỉnh Lào Cai về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Ban hành: 06/01/2021
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 08/05/2019
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 18/04/2019
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 18/05/2018
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 08/02/2018
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 29/09/2017
Cấp xét xử: Sơ thẩm