Bản án số 03/2021/HS-ST ngày 06/01/2021 của TAND tỉnh Lào Cai về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 03/2021/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 03/2021/HS-ST ngày 06/01/2021 của TAND tỉnh Lào Cai về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Tội danh: 134.Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lào Cai
Số hiệu: 03/2021/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/01/2021
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 03/2021/HS-ST
Ngày 06-01-2021
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Khanh
Thẩm phán: Ông Phạm Ngọc Toàn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Lập, ông Phạm Duy Cương
và bà Nguyễn Thị Kim.
Thư phiên tòa: Ông Thái Hải Đăng - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Đức Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 06/1/2021 tại trụ sở a án nhân dân tỉnh Lào Cai mở phiên tòa
công khai xét x thẩm vụ án nh sự thụ số: 53/2020/TLST-HS ngày
01/12/2020 theo Quyết định đưa v án ra t xử số: 52/2020/QĐXXST-HS
ngày 22/12/2020 đối với bị cáo:
Thào A P (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam.
Sinh ngày 07 tháng 9 năm 2001 tại huyện Tân U, tỉnh Lai Châu
Nơi trú: Bn HC 2, xã , huyn Tân U, tnh Lai Châu.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không
Nghề nghiêp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12
Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt.
Con ông Thào A N, sinh năm 1969 Thị L, sinh năm 1971, cùng
trú tại xã , huyện Tân U, tỉnh Lai Châu. Bị cáo chưa có vợ, con.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/10/2020, tạm giam từ ngày 24/10/2020.
Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Thào A P: Đỗ Thị Thu B, Trợ giúp viên
pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt.
- Bị hại:
2
1. Anh Lừu Xuân V, sinh năm 1987, nơi trú: Thôn SC, BM, huyện
C, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
2. Cháu Lừu Đại D, sinh ngày 05/11/2014, nơi trú: Thôn SC, BM,
huyện C, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của cháu Lừu Đại D: Chị Thào Thị Ch, sinh năm
1989, nơi cư trú: Thôn SC, xã BM, huyện C, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
- Người bảo vệ quyền lợi ích hp pháp cho anh Lừu Xuân V cháu
Lừu Đại D: Nguyễn Thị Mai H1, Trợ giúp viên pháp Trung tâm trợ giúp
pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Vàng A C1, sinh năm 1987,
nơi cư trú: Bản Nả Dề Th, xã KM, huyện MCC, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Giàng Thị B1, sinh năm 1929, nơi trú: Tổ dân phố 3, phường
SP1, thị xã SP, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
2. Chị Thào Thị S1, sinh năm 1996, nơi trú: Thôn BH, xã NC, huyện
Bát X, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
3. Anh A S2, sinh năm 1993, nơi trú: Thôn BH, xã NC, huyện Bát
X, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
- Người phiên dịch: Giàng Thị P1. Địa chỉ: Phố TT, phường DH, thành
phố LC, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ ván diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2013, Lừu Xuân V (sinh năm 1987) đến bản HC 2, , huyện
Tân U, tỉnh Lai Châu chơi quen biết Thào Thị C2 (sinh năm 1998) Thào
Thị Ch (sinh năm 1989). Năm 2014, Lừu Xuân V kết hôn với Thào Thị Ch
cùng sinh sống tại thôn SC, BM, huyện C, tỉnh Lào Cai. Cùng năm 2014,
Thào Thị C2 chuyển sang Lào sinh sống lấy chồng Giàng A Th (sinh năm
1995, trú tại KM, huyện MCC, tỉnh Yên Bái). Năm 2015, thông qua C2, Th
móc nối với Về để trao đổi mua bán ma túy, Về đồng ý. Một thời gian sau Th,
C2 mang 02 gói ma túy tổng hợp đến nhà giao cho Về để Về mang đi bán. Th
Về thỏa thuận giá trị số ma túy trên 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng),
khi nào Về bán được ma túy strả tiền cho C2 Th. Sau đó, Về mang số ma
túy trên sang Trung Quốc bán cho người đàn ông người Trung Quốc tên S3
(chưa nhân thân lai lịch) nhưng sau đó S3 chưa trả tiền cho V. vây, Về
cũng chưa trả tiền mua ma túy cho Th. Thời gian sau, Th thường xuyên gọi điện
thoại đòi tiền V nên V đã bỏ sim điện thoại đang dùng để cắt liên lạc.
3
Ngày 08/10/2020, Thào Thị C2 sử dụng tài khoản Facebook tên “Ly
Yang” nhắn tin vào tài khoản Facebook tên “Idol P Kòy” của Thào A P
thuê P đòi nợ cho C2 số tiền 500.000.000 đồng vợ chồng Lừu Xuân V nợ C2. C2
bảo P sang nhà Về tại thôn SC, BM, huyện C bắt cóc con của anh V đưa đi
giấu để C2 ép vợ chồng anh V phải trả tiền cho C2. Nếu đòi được tiền, C2 sẽ trả
công cho P 100.000.000 đồng. P đồng ý. Do P nói không tiền để đi nên C2
bảo P đi đến Km15 huyện MCC, tỉnh Yên Bái sẽ người đưa tiền. P lấy xe
tô biển kiểm soát 25U1 – 0951 của mình đi đến địa điểm nêu trên và gặp Vàng A
C1 (sinh năm 1987, trú tại bản Nả Dề Th, KM, huyện MCC, tỉnh Yên Bái -
anh rể của Th). Sau đó, C1 đưa P đi đến cây ATM tại thị trấn MCC, rút tiền rồi
đưa cho P 3.500.000 đồng. Sau khi nhận tiền, P quay về nhà. Đến sáng ngày
09/10/2020, P một mình đi xe mô tô từ nhà sang huyện C nhưng do đã muộn nên
P đi vào nhà bạn gái tên Vàng Thị D1 (sinh năm 2006, trú tại thôn TCP, xã TCP,
huyện C) và ngủ lại nhà Dín.
Đến sáng ngày 10/10/2020, P đi vào thôn SC theo sự chỉ dẫn của C2. Vừa
đi P vừa chụp ảnh các ngôi nquanh khu vực thôn SC gửi cho C2 đxác định
nhà của anh V. Khi đang đng trên đường, P nhìn thấy vợ chồng anh V và hai
con trai cháu Lừu Đại D (sinh năm 2014) Lừu Thành Công (sinh năm
2016) đang đi sang nhà hàng xóm. P xác định được đó gia đình anh V chị
Chu trước hàng xóm của P tại xã , huyện Tân U, tỉnh Lai Châu. Đến
khoảng 11 giờ cùng ngày, P nhìn thấy cháu Lừu Đại D một mình đi bộ trên
đường nên đã lại gần hỏi có phải là con bố Về không nhưng Dương không nói gì.
P liền lấy điện thoại chụp ảnh cháu D gửi tin nhắn qua mạng hội Facebook
cho C2 để xác định có phải con của V không thì được C2 xác nhận là đúng. P nói
dối cháu Dương mình cậu của D và bảo D lên xe P đưa đi mua bánh kẹo và
đưa sang nhà ngoại chơi. Cháu Dương tin lên xe của P, P liền chở cháu D đi
cất giấu tại nhà anh chị Thào Thị S1 (sinh năm 1996) A S2 (sinh năm
1993), cùng trú tại thôn BH, NC, huyện Bát X, tỉnh Lào Cai. Đến giờ ăn
cơm vợ chồng anh V m cháu D nhưng không thấy. Tối cùng ngày, thông qua
mạng xã hội Facebook, Giàng A Th sử dụng nick “Li Yang” liên lạc với nick của
Về “Luu Xuan V thông báo đã bắt cóc gicon của V, yêu cầu V phải
chuẩn bị 500.000.000 đồng để trả cho Th chuộc con, nếu không Th sẽ đánh đập
bán cháu D sang Malayxia. Đồng thời, Th gửi ảnh cháu D cho V xem để xác
định việc Th đang giữ con của V là đúng. Vì vậy anh V đã đến Công an tỉnh Lào
Cai trình báo, đề nghị giải cứu cháu D.
Khi biết hành vi của P, Thào Thị S1 A S2 yêu cầu P phải đưa cháu
D về trả cho gia đình nhưng P nói chưa tiền để đi. Sau đó P liên lạc với C2
nói chuyển tiền cho P qua tài khoản của Sử. C2 trao đổi với Th rồi Th hỏi vay và
nhờ Vàng A C1 dùng tiền của C1 chuyển vào tài khoản của S2 900.000 đồng.
4
Tiếp đó P yêu cầu C2 chuyển thêm tiền nhưng lúc này do tài khoản của S2 bị lỗi
nên S2 ợn tài khoản của hàng xóm anh A S3 để C2 chuyển thêm cho P
vào tài khoản của Súa 1.000.000 đồng. Sau khi biết tiền trong tài khoản, trưa
ngày 12/10/2020, S2 đi rút tiền để đưa cho P. Đầu giờ chiều ngày 13/10/2020,
do không thấy S2 về đưa tiền nên P tiếp tục đưa cháu D đi cất giấu tiếp tại nhà bà
nội là Giàng Thị B1 (sinh năm 1929) ở tổ dân phố 3, phường SP1, thị xã SP, tỉnh
Lào Cai không kịp lấy tổng số tiền C2 đã nhờ chuyển 1.900.000 đồng.
Tại nhà Giàng Thị B1, P không nói cho B1 biết về hành vi phạm tội của
mình. P cùng cháu D lại cho đến sáng ngày hôm sau thì P lấy lý do đi lấy quần
áo và gửi cháu D lại cho trông hộ rồi đi lên trung tâm thị xã SP chơi. Đến
chiều ngày 14/10/2020, khi P đang đi về nhà của mình huyện Tân U, tỉnh Lai
Châu thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ và yêu cầu chỉ nơi cất giấu, giải
cứu cháu Lừu Đại D.
Cáo trạng số 75/CT-VKS-P2 ngày 30/11/2020 của VKSND tỉnh Lào Cai
đã truy tố bị cáo Thào A P về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a
khoản 4 Điều 169 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
B cáo Thào A P khai nhận toàn bhành vi phạm tội như đã nêu trong
bản cáo trạng.
Người đại diện hợp pháp của bị hại Lừu Đại D, chị Thào Thị Ch yêu cầu
bị cáo Thào A P bồi thường tổn thất tinh thần cho cháu Lừu Đại D số tiền
15.000.000 đồng, đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát giquyền ng tố phát biểu lời luận tội và tranh
luận: Giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tbo Thào A P. Đề nghị
HĐXX tuyên bị cáo Thào A P phạm tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
theo quy định tại điểm a khoản 4 điều 169, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51,
điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xphạt bị cáo Thào A P 15 đến 17
m tù, không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo. Xử vật
chứng, tuyên quyền kháng cáo và án pcho bị cáo theo quy định.
Người bào chữa cho bcáo Thào A P, Đỗ Thị Thu B trình bày ý kiến:
Nhất tvới tội danh điều luật của Viện kiểm sát đã truy tố đề nghị trong
bản luận tội tại phiên tòa hôm nay. Đề nghị HĐXX xem xét nguyên nhân và điều
kiện phạm tội của bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo hội cải tạo trở thành
người có ích cho xã hội. Do đó, đnghị áp dụng điểm a khoản 4 Điều 169, điểm
s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị
cáo Thào A P 15 năm tù.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các bị hại Lừu Đại D Lừu
Xuân V, Nguyễn Thị Mai H1 trình bày ý kiến: Nhất trí với tội danh điều
luật của Viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị trong bản luận tội tại phiên tòa hôm
5
nay. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 4 Điều 169, điểm s khoản 1, khoản 2
Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Thào A P 17
năm buộc bị cáo bồi thường 15.000.000 đồng tổn thất tinh thần cho cháu
Lừu Đại D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng t xnhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra, Điều tra viên,
Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng
về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Ttụng hình sự. Quá trình
điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc
khiếu nại về hành vi, quyết định của quan tiến nh tố tụng, người tiến hành
tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của quan tiến hành ttụng, người
tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]Về tội danh
Tại phiên tòa, bị cáo Thào A P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời
khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều
tra, lời khai của bị hại, người làm chứng các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ
án.Vì vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 10/10/2020, Thào A P đã dụ dỗ, lừa dối
hành vi bắt cóc cháu Lừu Đại D, con của anh Lừu Xuân V chThào
Thị Ch, nhằm y sức ép buộc anh Lừu Xuân V phải trả số tiền 500.000.000
đồng cho Giàng A Th để chuộc con, đồng thời để nhận tiền công 100.000.000
đồng từ Thào Thị C2 và Giàng A Th.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã cấu thành tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài
sản”. Bản cáo trạng số 75/CT-VKS-P2 ngày 30/11/2020 của Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Thào A P vtội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài
sản” với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng
trở lên” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 169 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, đã
xâm phạm quyền sở hữu tài sản, quyền bất khả xâm phạm v danh dự, nhân
phẩm của người khác. vậy, cần phải xử bị cáo nghiêm minh theo quy định
của pháp luật để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
t thấy bị cáo Thào A P trước khi phạm tội có nhân thân tốt, không có tiền
án tiền sự. Trong quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai
báo, ăn năn hối cải. Tại phiên tòa, đại diện bị hại Lừu Đại D chị Thào Thị Ch
xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo Thào A P. Do đó bị cáo được áp dụng tình
6
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51
của Bộ lut hình sự. Tuy nhiên, bị cáo phải chịu 01 tình tiết ng nặng trách nhiệm
hình s“Phạm tội đối với ngườiới 16 tuổi” quy định tại điểm i khoản 1 Điều
52 Bộ luật hình sự. Hành vi bắt cóc cháu Lừu Đại D nhằm gây áp lực chiếm đoạt
tài sản của anh Lừu Xuân V, nhưng bị o chưa đạt được mục đích đã bị quan
công an bắt giữ. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.
Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm chưa đạt. Tnhững do
trên, Hội đồng xét xử xét thấy, cần xử phạt bị o mức hình phạt thật nghiêm
khắc đ đảm bảo tính răn đe của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo Thào A P không tài sản giá
trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, người đại diện của bị hại Lừu Đại D chị Thào Thị Ch yêu
cầu bị cáo Thào A P phải bồi thường tổn thất tinh thần cho cháu Lừu Đại D số
tiền 15.000.000 đồng. Bị hại anh Lừu Xuân V yêu cầu bị cáo Thào A P phải bồi
thường tổn thất tinh thần cho anh V số tiền 15.000.000 đồng.
Đối với yêu cầu của người đại diện của bị hại Lừu Đại D chị Thào Thị
Ch: Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu là hợp lý, cần được chấp nhận.
Đối với yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần của anh Lừu Xuân V: Hội
đồng xét xử xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo Thào A P nhằm chiếm đoạt tài
sản của anh Về. Tuy nhiên bị cáo chưa đạt được mục đích, chưa gây thiệt hại cho
bị hại Lừu Xuân V trên thực tế. Hơn nữa, hành vi phạm tội của bị cáo không gây
thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của bị hại Lừu
Xuân V, do đó yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần của anh Lừu Xuân V
không có căn cứ nên không được chấp nhận.
[5] Về vật chứng:
+ 01 xe y, loại xe wave, nhãn hiệu ESPORO màu đỏ, biển kiểm soát
25U1-0951 m theo 01 Đăng xe số 001099 mang tên Tòng Văn T3:
Theoc tài liệu trong hồvụ án, đây là chiếc xe được bị cáo mua lại của một
người tên Tòng Văn T3, mặc dù chưa sang tên xe nhưng xác định chiếc xe là
của bị cáo. Đây phương tiện được bị cáo sử dụng để thực hiện việc bắt cóc
chở cháu Lừu Đại D đi cất giu, vậy cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
+ 01 điện thoại di động Sam Sung Galaxy M20 mầu xanh đen, bên trong
02 sim điện thoại của nhà mạng Vinaphone: Đây phương tiện bị cáo s
dụng để nhận chỉ đạo của Thào Thị C2 vviệc bắt c cháu D, cần tịch thu
sung quỹ nhà nước.
7
+ Số tiền 4.250.000 đồng thu gicủa bị cáo Thào A P: Đây vật chứng
liên quan đến tội phạm, tài sản thuộc quyền sở hữu của người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông Vàng A C1. Tuy nhiên, ông C1 không u cầu bị cáo
hoàn trsố tiền này, đồng thời đề nghị sung quỹ Nhà nước. Do đó cần tịch thu
số tiền này để sung quỹ Nhà nước.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm án phí dân sự sơ
thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Thào A P phạm tội“Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Căn cứ đim a khoản 4 Điều 169, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i
khoản 1 Điều 52, Điều 15, khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Thào
A P 15 (mười lăm) m tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo
bị bắt tạm giữ ngày 15/10/2020.
Về trách nhiệm dân sự: Căn c khoản 1 Điu 46 B lut hình s; các
Điu 584, 585, 592, 593 B lut dân s năm 2015: Buc b cáo Thào A P phi
bồi thường tn tht tinh thn cho b hi Lừu Đại D, do ch Thào Th Ch người
đại din hp pháp, s tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).
K t ngày bn án hiu lc pháp luật i với các trường hợp quan
thi hành án có quyn ch động ra quyết định thi hành án) hoc k t ngày có đơn
yêu cu thi hành án của người được thi hành án (đối vi các khon tin phi tr
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phi thi hành án
còn phi chu khon tin lãi ca s tin còn phi thi hành án theo mc lãi sut
quy định tại Điều 357, Điều 468 ca B lut Dân s năm 2015, tr trường hp
pháp luật có quy đnh khác.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung quỹ
nhà nước những vật chứng sau:
- Số tiền 4.250.000 (bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ
của bcáo Thào A P hiện đang được gửi trong i khoản số 394909051207 của
Png Cnh t nh sự Công an tỉnh Lào Cai tại Kho bạc Nhà ớc tỉnh o Cai
theo Giấy nộp tiền ngày 16/11/2020.
- 01(một) xe y, loại xe WAVE, nhãn hiệu ESPORO màu đỏ, biển số
25U1-0951, số khung 036673, s máy 036673, xe không gương, không yếm,
yên xe bị bung dời, bị trầy xước vỡ nhiều phần nhựa, xe đã qua sử dụng
quá cũ;
- 01 (một) đăng ký xe mô tô, xe máy số 001099 mang tên Tòng Văn T3;
- 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy M20 màu xanh đen, kèm
02 sim nmạng Vinaphone, điện thoại đã , đã qua sdụng, hết pin không
kiểm tra chi tiết bên trong;
8
(Những vật chng trên được mô tả theo bn bản giao, nhận vt chứng s64
ngày 30/11/2020 giữa quan Cảnh sát điu tra ng an tỉnh o Cai
quan Thi nh án dân stỉnh Lào Cai).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo Thào A P phải chịu
200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 đồng
(bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bcáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của bhại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày ktừ ngày
tuyên án. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan quyền kháng cáo trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30
Luật Thi hành án dân sự ”.
Nơi nhận:
- TAND cấp cao;
- VKSND cấp cao;
- VKSND tỉnh;
- CQCSĐT Công an tỉnh;
- CQTHAHS Công an tỉnh;
- Sở tư pháp tỉnh;
- PV 27 CA tỉnh;
- Trại tạm giam Lào Cai;
- Bị cáo; Người bào chữa;
- Bị hại; Đại diện bị hại;
- Người BVQLHP;
- Người QLNVLQ;
- THA Tòa án;
- Lưu Hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Văn Khanh
Tải về
Bản án số 03/2021/HS-ST Bản án số 03/2021/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất