Bản án số 24/2019/HS-ST ngày 08/05/2019 của TAND huyện An Dương, TP. Hải Phòng về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 24/2019/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 24/2019/HS-ST ngày 08/05/2019 của TAND huyện An Dương, TP. Hải Phòng về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Tội danh: 134.Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện An Dương (TAND TP. Hải Phòng)
Số hiệu: 24/2019/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/05/2019
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN DƢƠNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 24/2019/HS-ST
Ngày 08-5-2019
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƢƠNG - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Trần Thị Thúy
Ông Đỗ Văn Thư
- Thư phiên t: Đỗ Thị Tình - Thư ký, Tán nhân dân huyện An
Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải
Phòng tham gia phiên toà: Ông Tăng Văn Lanh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Dương,
thành phố Hải Phòng xét xử thẩm vụ án hình sthụ số 24/2019/TLST-HS
ngày 18 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
25/2019/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 m 2019 đối với các bị cáo:
1. Văn T, sinh ngày 04 tháng 9 năm 1993, tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT
trú: Thôn K, A, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp:
Lao động tự do; trình đvăn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo:
Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn T bà Dương Thị T; vợ con: Chưa
; tiền án, tiền sư: Không; bị tạm giữ từ ngày 10 tháng 12 năm 2018, thay thế biện
pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 19 tháng 12 năm 2018; có mặt.
2. Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 01 tháng 11 năm 1993, tại Hải Phòng. Nơi
ĐKHKTT trú: m 1, Thôn L, N, huyện An Dương, thành phố Hải
Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới
tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B
Trương Thị G; vợ: Hoàng Thị H; chưa con; tiền án, tiền sư: Không; bị tạm gi
từ ngày 10 tháng 12 năm 2018, thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi
trú ngày 19 tháng 12 năm 2018; có mặt.
- Bhại: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn T, A, huyện An
Dương, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có yêu cầu xin vắng mặt)
- Người làm chứng: Anh Bùi Quang T, anh Tống Tam C, Bùi Thị L, chị
Nguyễn Thị T; vắng mặt. Ông Hà Văn T; có mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Do có quan hệ quen biết vào tháng 5 năm 2018, chị Nguyễn Thị L vay của T
20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), hai bên thỏa thuận chị L thanh toán trong thời
gian 50 ngày, mỗi ngày chị L phải trả cho T 500.000đ (năm trăm ngàn đồng). Chị
L đã trả cho T 40 ngày, tương ứng 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), n nợ lại
10 ngày, tương đương 5.000.000đ (năm triệu đồng). Tháng 6 tháng 2018 chị L tiếp
tục vay của T 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng), thời hạn vay 5 tháng, mỗi
tháng chị L phải trả cho T cả gốc lãi số tiền 10.500.000đ (mười triệu năm trăm
ngàn đồng). Chị L mới trả cho T được 4 tháng, tương ứng với 42.000.000đ (bốn
mươi hai triệu đồng), còn nợ lại 10.500.000đ (mười triệu năm trăm ngàn đồng).
Tổng số tiền chị L còn nợ T hai khoản vay trên 15.500.000đ (mười lăm triệu
năm trăm ngàn đồng). T nhiều lần gọi điện, tìm gặp chị L yêu cầu trả nợ, nhưng
chị L không nghe điện thoại, lẩn tránh, không chịu gặp, bị cáo cho rằng chị L trốn
nợ nên rất bức xúc. Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 10 tháng 12 năm 2018, T đi xe
máy đến đoạn cây xăng A thuộc thôn L, A, huyện An Dương, thành phố Hải
Phòng thì gặp chị L đang đi xe máy một mình. T liền chặn xe chị L lại, yêu cầu chị
L trả nợ. Chị L bảo hiện chỉ 2.000.000đ (hai triệu đồng) để trả cho T nhưng T
không đồng ý. Hai bên lời qua tiếng lại nên bị cáo nẩy sinh ý định bắt giữ chị L để
đòi nợ. T gọi điện cho Nguyễn Tuấn A bạn của bị cáo làm quản quán G địa
chỉ:Thôn C, N, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng nói: Tôi đi đường bắt
được khách vay nợ tiền, tôi đưa về quán bạn xử lý nhé. Tuấn A đồng ý bảo: Đưa về
quán. Sau đó, T điện thoại cho Bùi Quang T, sinh 1997 cũng bạn của bị cáo
thôn P, A, huyện An Dương đến chỗ T. Khi Tiến đến nơi T nhờ T ra đi xe của
chị L, còn T ép chị L lên xe T chở về quán G. Khi đến quán G, chị L đứng ngoài
gọi điện thoại, không đi vào quán. T liền dùng tay tát vào mặt chị L 3-4 nhát
quát: Đi vào trong quán. Nguyễn Tuấn A mặt quán thấy vậy liền nói: việc
thì đi vào trong quán giải quyết. Khi vào trong quán T tiếp tục chửi bới yêu
cầu chị L trả nợ số tiền 15.500.000đồng. Chị L nói: Bây giờ vỡ nợ rồi, chưa có tiền
trả. Nguyễn Tuấn A hỏi T: Chỗ này thế nào? T bảo, đây khách nợ tiền tôi.
Thấy vậy, Tuấn A nói: Nợ tiền người ta thì phải trả, chị L không nói gì, T tiếp tục
dùng tay tát vào mặt chị L yêu cầu chị L viết giấy nhận nợ gọi điện cho
người nhà mang tiền đến trả thì mới cho chị L về. Chị L đã gọi điện báo cho người
thân việc bị bắt giữ bảo người thân mang tiền đến theo yêu cầu của các bị cáo.
Sau khi nhận điện thoại của chị L, L mẹ đchị L đã đến Công an huyện An
Dương, thành phố Hải Phòng tố giác, quan Công an đến kiểm tra, bắt giữ T,
Tuấn A và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang như nêu trên.
Tại Cáo trạng s28/CT-VKS ngày 18 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện An Dương, thành phHải Phòng truy tố các bị cáo Văn T
Nguyễn Tuấn A về tội “Bắt c nhằm chiếm đoạt tài sảntheo khoản 1 Điều 169
Bộ luật Hình sự.
3
Tại phiên toà bị cáo Văn T khai nhận: Do quan hệ quen biết bị cáo
cho chị L vay tiền để làm ăn. Hai bên có thỏa thuận thời hạn trả nợ, tuy nhiên chị L
chi thanh toán được cho T được một phần công nợ thì không trả nữa. Bị cáo đã
nhiều lần đến tìm chị L nhưng chị L đều lẩn tránh, trốn nợ không gặp, không nghe
điện thoại cho đến ngày 10 tháng 12 năm 2018, trên đường về nhà vô tình bị o
gặp chị L tại cây xăng A thuộc thôn L, A, huyện An Dương, thành phố Hải
Phòng. Hai bên lời qua tiếng lại chị L không hợp tác nên bị cáo đã nẩy sinh ý định
bắt gữi, đe dọa buộc chị L gọi điện về nhà cho người thân mang tiền đến trả nợ cho
bị cáo thì mới cho chị L về nhà như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Ngoài ra bị
cáo còn khai nhận do bức c trước việc chị L lẩn tránh không chịu trả nợ trong
khi bản thân bị cáo cũng rất khó khăn về kinh tế nên bị cáo đã hành vi vi phạm
pháp luật. Bị cáo xác định hành vi của bản thân là sai trái rất ân hận nên đã gặp
gỡ chị L xin lỗi xóa toàn bộ khoản nợ còn lại cho chị L để hai bên hòa giải với
nhau.
Lời khai của Tuấn A tại phiên tòa: Bị cáo xác định lời khai nhận của bị cáo
T trong quá trình điều tra và tại phiên tòa là đúng sự thật. Do nể nang bạn bè nên bị
cáo đã hành vi giúp sức cho T mượn quán G để T thực hiện hành vi bắt giữ chị
L. Tại quán G, bị cáo đã lời nói ủng hộ T để chị L phải gọi điện về cho người
thân mang tiền đến trả nợ cho T thì mới thả chị L về như lời khai của T tại phiên
tòa.
Bị hại Nguyễn Thị L vắng mặt tại phiên tòa, lời khai của chị L trong quá
trình điều tra phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa. Chị L xác định do
bản thân cũng lỗi đã không trả hết nợ cho bị cáo T dẫn đến việc bị cáo bức xúc
đã có hành vi vi phạm pháp luật. Sau khi phạm tội các bị cáo đã bồi thường và xóa
hết nợ cho chị nên đề nghị Hội đồng xét xử xem t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
cho các bị cáo.
Sau phần xét hỏi công khai tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành
quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội đối với các bị cáo. Qua phân tích
hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình s đối với c bcáo, giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị Hội
đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.
- Áp dụng khoản 1 Điều 169; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; các
điều 17, 58 Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Văn T từ 30 tháng đến
36 tháng nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội Bắt cóc
nhằm chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 169; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; các
điều 17, 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A từ 24 tháng
đến 30 tháng nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60
tháng về tội “ Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo n T Nguyễn Tuấn
A.
4
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khon 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình
sự; khon 1 đim a khon 2 Điu 106 B lut T tụng hình sự: Tch thu sung
công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, vỏ mầu vàng, mặt nh trước bị
nứt, máy đã qua sử dụng bên trong chứa sim số 0947664321; 01 điện thoại di
động nhãn hiệu Iphone 6s pluc đã qua sử dụng, vỏ mầu bạc ốp lưng nhựa mầu
đen bên trong sim số 0382887432 đã thu giữ của các bị cáo Văn T
Nguyễn Tuấn A.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về việc vắng mặt của bhại người làm chứng: Tại phiên tòa bị hại
vắng mặt nhưng đã quan điểm xin vắng mặt tại phiên tòa, người làm chứng
vắng mặt. Xét thấy, tại giai đoạn điều tra, bhại người làm chứng đã được
quan điều tra lấy lời khai theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự, nên việc vắng mặt của bị hại người làm chứng không ảnh hưởng đến
việc xét xử bị cáo tại phiên tòa nên Hội đồng xét xquyết định xét xử vắng mặt bị
hại và người làm chứng theo quy định tại khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 293 của
Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra Công an huyện An
Dương, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện An
Dương, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã
thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng
Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại về
hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy,
các hành vi, quyết định của quan tiến hành ttụng, người tiến nh tố tụng
hợp pháp.
- Về tội danh các chứng cứ xác định có tội:
[3] Lời khai của các bị cáo tại phiên toà về việc bắt giữ chị L buộc chị L
gọi điện vcho người thân mang tiền đến cho bị cáo thì mới được thả về như nôi
dung nêu trên phù hợp với lời khai của các bị cáo tại quan điều tra, phù hợp lời
khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với Biên bản bắt giữ người có hành vi
phạm tội quả tang do quan điều tra Công an huyện An Dương, thành phố Hải
Phòng lập vào hồi 22 giờ, ngày 10 tháng 12 năm 2018 tại Công ty TNHH Dịch vụ
G, phù hợp với vật chứng thu giữ các tài liệu, chứng cứ khác trong hvụ
án.
Hội đồng xét xử, xét thấy giữa bị o T người bị hại có quan hệ vay nợ.
Bị hại không thực hiện việc trả nợ thì bị cáo có quyền đòi nợ nhưng phải thực hiện
quyền của mình theo đúng quy định của pháp luật. Bị cáo đã không thực hiện theo
đúng quy định mà đã cùng với bị cáo Tuấn A hành vi dùng vũ lực bắt giữ bị hại
ép bị hại gọi điện về cho người thân mang tiền đến trả cho bị cáo T thì mới
được thả là hành vi Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.
5
Bị cáo T bị cáo Tuấn Anh mặc không sự bàn bạc từ trước nhưng
các bị cáo đã tiếp nhận ý trí của nhau ngay tại hiện trường. Bị cáo Tuấn A đã cho
bị cáo T mượn địa điểm để bắt giữ chị L lời lẽ với bị hại ng hộ hành vi của
bị cáo T nên các bị cáo là đồng phạm trong vụ án.
[4] Tại thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi nêu trên, các bị cáo đã đủ tuổi
chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức điều khiển hành vi nên Hội
đồng xét xử đủ căn cứ xác định các bị cáo Văn T, Nguyễn Tuấn A đã
hành vi bắt giữ, đe dọa chị Nguyễn Thị L nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại tại
quán G thôn C, N, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Viện kiểm sát
nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội Bắt cóc
nhằm chiếm đoạt tài sản căn cứ. Căn cứ vào lời khai của bị cáo T lời khai
bị hại, người làm chứng. Các bị cáo đã hành vi bắt giữ, đánh, đe dọa yêu cầu bị
hại gọi điện về cho người thân mang tiền đến trả cho bị cáo T mới thả bị hại về.
Hành vi của các bị cáo nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền 15.500.000đồng của
bị hại.
Từ các căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận các bị cáo Văn T,
Nguyễn Tuấn A đồng phạm tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”, vi phạm khoản
1 Điều 169 Bộ luật Hình sự.
[5] Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho hội, đã xâm phạm
đến sức khỏe, quyền tự do thân thể quyền sở hữu tài sản của công dân. Tại thời
điểm các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo người đủ năng lực
trách nhiệm hình sự, phạm tội do cố ý. Do vậy, đối với hành vi phạm tội của các bị
cáo cần phải xử phạt một mức án thỏa đáng tương xứng với hành vi phạm tội của
các bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Văn T, Nguyễn
Tuấn A đều không phải chịu tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại
Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[7] Xét về nhân thân tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về nhân thân
các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tại Cơ quan điều tra tại phiên tòa, các bị cáo
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội các bị cáo đã bồi thường thiệt
hại cho bhại xóa toàn bộ khoản nợ còn lại cho bhại để hai bên hòa giải với
nhau, bị hại đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Mặt khác bị hại xác
định cũng một phần lỗi không thanh toán hết nợ dẫn đến hành vi phạm tội của
các bị cáo nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy
định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[8] Vvai trò của các bị cáo trong ván: Hội đồng xét xử, xét thấy đây là vụ
án đồng phạm giản đơn, không sự bàn bạc, chuẩn bị từ trước nên đánh giá vai
trò của các bị cáo như sau: Đối với bị cáo T như đã phân tích ở trên bị cáo là người
trực tiếp thực hiện hành vi bắt giữ chNguyễn Thị L đưa về quán G để giữ, đánh
chị L và ép chị L phải gọi điện về cho người thân mang tiền đến trả cho bị cáo mới
thả về. Do sợ hãi nên chị L đã gọi điện cho người thân mang tiền đến cho bị o.
Bị cáo Nguyễn Tuấn A tiếp nhận ý chí của bị cáo T vai trò giúp sức cho T
mượn địa điểm do mình quản lý, có lời nói ủng hộ để giúp T thực hiện hành vi bắt,
6
giữ chị L đòi tiền mới cho chị L về. vậy, bị cáo T vai trò chính trong vụ án
cao hơn bị cáo Tuấn Anh nên phải chịu mức hình phạt cao hơn.
[9] Về mức hình phạt: Xét thấy các bị cáo Văn T, Nguyễn Tuấn A chưa
tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự, nhân thân tốt,
nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này các bị cáo luôn tôn T các quy tắc hội,
chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi
trú, không vi phạm các điều pháp luật cấm, chưa bị kết án, bị xử hành
chính nên áp dụng hình phạt nhưng không quá ba năm không cần thiết buộc
các bị cáo phải chấp hành nh phạt nên áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự
cho c bị cáo được hưởng án treo, thể hiện skhoan hồng của pháp luật giao
các bị cáo về cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo tđể giám sát giáo
dục cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục c bị cáo phòng ngừa chung. Gia đình
các bị cáo trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám
sát, giáo dục các bị cáo.
[10] Về hình phạt bsung: Theo quy định tại khoản 6 Điều 169 Bộ luật Hình
sự các bị cáo có thể bị phạt tiền. Xét tính chất, mức độ tội phạm của các bị cáo, bản
thân các bị cáo việc làm không ổn định n miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[11] Về xử vật chứng: Quá trình giải quyết vụ án, quan điều tra đã thu
giữ 01 điện thoại Iphone 6 Plus màu đen đã qua s dụng, bên trong sim số
0382887432 của Nguyễn Tuấn A; 01 điện thoại Iphone 6 màu vàng đã qua sử
dụng, n trong có sim số 0947664321 của Văn T hiện đã chuyển Chi cục thi
hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng giải quyết theo vụ án. Xét
đây là các công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô của chị Nguyễn Thị L, Cơ quan điều tra đã giao lại
cho chị L sử dụng, chị L xác nhận đã nhận lại chiếc xe đã bán cho người khác
hiện không còn nên không còn gì phải xét.
Đối với chiếc xe mô BKS 15 B2 - 355.91 mang tên Văn T, bị cáo đã
dùng để đưa chị L tcây xăng xã A, huyện An Dương vquán G. Quá trình điều
tra, ông Văn Tạo là bố đê của bị cáo trình bày nguồn gốc chiếc xe do ông
mua nhưng cho bị cáo đứng tên dùng làm phương tiện đi lại sử dụng chung cho cả
gia đình. Sau đó, do cần tiền chữa bệnh nên gia đình ông đã bán chiếc xe trên cho
một người không quen biết. vậy, Cơ quan điều tra không thu giữ được chiếc xe
nói trên. Do chiếc xe mô hiện không còn nên Hội đồng xét xử không
cơ sở xem xét giải quyết.
- Về trách nhiệm dân sự và các vấn đề khác:
[12] Quá trình bắt giữ chị Nguyễn Thị L, bị cáo Văn T đã hành vi
dùng tay tát vào mặt chị L gây bầm tím vùng mặt. quan điều tra đã ban hành
Quyết định trưng cầu giám định thương tích của chị L. Tuy nhiên chị L đã đơn
từ chối giám định thương tích với do thương tích không lớn, không ảnh hưởng
đến sức khỏe của chị L. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
7
Các bị cáo Văn T, Nguyễn Tuấn A đã bồi thường cho chị L số tiền
2.000.000đ (hai triệu đồng) tiền viện phí, chữa trị vết thương. Chị L không yêu
cầu đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không còn gì phải xét.
[13]Trong vụ án này có Bùi Quang T là người được T nhờ đi xe máy của chị
L vquán G, nhưng không biết mục đích của T bắt chị L để đòi nợ. Đối với Đinh
Trường H, Tống Tam C những người mặt tại quán G, nhưng không tham gia
vào việc bắt giữ chị L. quan điều tra xác định Bùi Quang T, Đinh Trường H
Tống Tam C không đồng phạm không phạm tội nào khác nên không khởi tố
có căn cứ chấp nhận.
Ngoài hành vi phạm tội nêu trên, bị o Văn T n hành vi cho vay
với lãi suất cao. Tuy nhiên, số tiền thu lợi bất chính chưa đến mức phải truy cứu
trách nhiệm hình sự nên quan điều tra Công an huyện An Dương, thành phố
Hải Phòng không xử lý hình sự là có căn cứ.
[14] Về án phí: Các b cáo phải nộp án phí hình sự thẩm theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 254, 259, 260 và 326 Bộ luật Tố tụng hình sự,
Căn cứ khoản 1 Điều 169; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17,
58 và Điều 65 B luật Hình sự, xử phạt: Văn T 36 (ba mươi sáu) tháng
nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 ( sáu ơi) tháng về tội “ Bắt cóc
nhằm chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 169; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17,
58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Tuấn A 24 ( hai mươi tư) tháng tù
nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 ( bốn tám) tháng về tội Bắt cóc
nhằm chiếm đoạt tài sản”.
Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo Hà Văn T, Nguyễn Tuấn A.
Giao bị cáo Hà Văn T cho Ủy ban nhân dân A, huyện An Dương, thành
phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp
người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản
1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Giao bị cáo Nguyễn Tuấn A cho Ủy ban nhân dân N, huyện An Dương,
thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường
hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi trú thì thực hiện theo quy định tại
khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì Tòa án thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải
chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
Về xử vật chứng: Căn cứ khon 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khon 1
đim a khon 2 Điu 106 B lut T tụng hình sự:
8
Tch thu sung o ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu
Iphone 6, vỏ mầu vàng, mặt kính trước bị nứt, máy đã qua sử dụng bên trong
chứa sim số 0947664321 đã thu giữ của Hà Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu
Iphone 6s pluc đã qua sử dụng, vỏ mầu bạc ốp lưng nhựa mầu đen bên trong
sim số 0382887432 đã thu giữ của Nguyễn Tuấn A.
(Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An
Dương đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 4 năm
2019 giữa quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương Chi cục Thi
hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng
hình s năm 2015; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/
UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm
2016:
Buộc các bị cáo Văn T và Nguyễn Tuấn A mỗi bị o phải nộp 200.000
đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộpo ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Các bcáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t
ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
- Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- VKSND huyện An Dương;
- Cơ quan điều tra Công an huyện An Dương;
- Cơ quan thi hành án hình sự huyện An Dương;
- Phòng PV 27 CATP; Phòng PC 81 CATP; Sở
Tư pháp HP;
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương;
- Bị cáo, bị hại.
- Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thu Hƣơng
9
Nơi nhận:
- Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- VKSND huyện An Dương;
- Cơ quan điều tra Công an huyện An Dương;
- Cơ quan thi hành án hình sự huyện An Dương;
- Phòng PV 27 CATP; Phòng PC 81 CATP; Sở
Tư pháp HP;
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương;
- Bị cáo, bị hại.
- Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thu Hƣơng
Tải về
Bản án số 24/2019/HS-ST Bản án số 24/2019/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất