Bản án số 13/2018/HS-ST ngày 08/02/2018 của TAND huyện An Dương, TP. Hải Phòng về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 13/2018/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 13/2018/HS-ST ngày 08/02/2018 của TAND huyện An Dương, TP. Hải Phòng về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Tội danh: 134.Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện An Dương (TAND TP. Hải Phòng)
Số hiệu: 13/2018/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/02/2018
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 13/2018/HS-ST
Ngày: 08 - 02 - 2018
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Th Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Tỵ
Trần Thị Thúy
- Thư ký phiên toà: Đào Mai Anh - Cán bộ Toà án nhân dân huyện A.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A tham gia phiên toà: Ông
Trịnh Nhật - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 02 năm 2018, tại Trsở, Tán nhân dân huyện A mphiên
toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2017/HSST ngày 21 tháng
7 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2018/QĐXXST HS ngày
26 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:
Vũ Doãn H, sinh ngày 13 tháng 3 năm 1987 tại Hải Phòng; i cư trú: Thôn
4, B, huyện A, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá:
6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam, Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con
ông Doãn K, sinh năm 1956 Nguyễn Thị T, sinh năm 1956; v:
Nguyễn Thị Hải C một con; Tiền sự: Không; Tiền án, bản án số 21/2005/HSST
ngày 02 tháng 02 năm 2005 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng x phạt 24
tháng tù nhưng cho hưởng án treo, 36 tháng thử thách về tội Cướp tài sản và bản án
số 156/2006//HSST ngày 31 tháng 7 năm 2006 Tòa án nhân dân thành phố Hải
Phòng xử phạt 7 năm về tội Cướp tài sản. Tổng hợp hình phạt tại Bản án s
21/2005 là 9 năm giam, đến ngày 04 tháng 10 năm 2014 bị cáo ra trại; B cáo bị
tạm giữ từ ngày 10 tháng 5 năm 2017 đến ngày 13 tháng 5 năm 2017 được thay thế
bằng biện pháp cho bảo lĩnh; Có mặt.
- Bhại: Anh Quản Hữu T1, sinh năm 1979: Nơi trú: Thôn K, Q,
huyện A, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt;
2
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Chị Nguyễn Thị Hải C, sinh năm
1997 (là vợ bị cáo); Nơi trú: Thôn 4, B, huyện A, thành phố Hải Phòng.
mặt;
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trương Thị H1 Trợ giúp viên pháp lý của
Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng. Có mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Anh Quản Hữu T1, sinh năm 1979, trú tại thôn K, xã Q, huyện A, thành phố
Hải Phòng vay của Nguyễn Đức L số tiền 10.000.000đ ( Mười triệu đồng) t
tháng 7 năm 2016, lãi suất tự thỏa thuận. Khi đến hạn trả nợ, L đã nhiều lần gọi
điện cho người đến tìm anh T1 để đòi tiền nhưng không được. vậy, khoảng
19 giờ 30 phút ngày 19 tháng 3 năm 2017, trên đường đi chơi cùng với Bùi Văn
T2, Hoàng Văn T3, Nguyễn Mạnh S, Doãn H, Văn Đ, L đã bảo cả bọn:
“Anh em tranh thủ vào nhà T1 đòi tiền, nếu nó ở nhà mà không trả thì dẫn ra quán
nước để anh nói chuyện”. Phát hiện người của L đến, anh T1 đi ra phía sau nhà
trốn nhưng đã bị T2, T3, S, Hải, Đ tìm thấy và dùng vũ lực đưa anh T1 ra khỏi nhà.
Bọn T2 đưa anh T1 lên xe chở ra quán bia gia đình chị Phạm Thị Thủy
xóm 7 thôn K 1, Q. Tại đây, T2, Hải dùng tay đánh anh T1 rồi cả bọn tiếp tục
đưa anh T1 đi về phía xã Đặng Cương, huyện A, thành phố Hải Phòng.
Trên đường đi ra thì bọn T2 gặp L, L bảo T2, T3, S đưa anh T1 về quán
nước chè ở gần ngã tư Q để chờ L, còn Hải, Đ lên xe của bạn L đi cùng L vào xã Q
chơi. Anh T1 bị T3, T2, S đưa vào quán bia của gia đình anh Phạm Văn S thôn
Đồng Quang, xã Đặng Cương, huyện A. Tại đây, T3 đưa tiền cho S đi mua giấy bút
rồi T2 đe dọa bắt ép anh T1 viết giấy nhận nợ L stiền 40.000.000 đ (Bốn
mươi triệu đồng). Viết giấy nhận nợ xong, anh T1 gọi điện cho bạn anh Nguyễn
Ngọc T4đến gặp bọn T2 để thương lượng giúp. Sau đó, T2 đi về trước, còn T3 và S
tiếp tục lại. Sau khi anh T1 gọi điện về nthu xếp tiền trả nkhông được thì
T3, S đã đưa anh T1 về nhà trọ của L tại số 170 Quốc lộ 5 phường Q, quận H,
thành phố Hải Phòng. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, L bảo đồng bọn đưa anh T1
ra căn nhà địa chỉ số 2 đường H gần ngã tư Q có treo biển đại lý vé máy bay Jetstar
(không người ở) ăn đêm. Sau khi ăn uống xong, L để anh T1 ngủ lại đó bảo
T2 cùng với T3, S, Đ lại trông coi. Đến gần trưa ngày 20 tháng 3 năm 2017 thì
T3, S, Đ đưa anh T1 về nhà trọ của L. Tại đây, L bảo anh T1 viết lại giấy nhận nợ
khác thay cho giấy nhận nợ tối hôm trước mà T2 đọc cho anh T1 viết với số tiền
30.000.000đ ( Ba (Ba mươi triệu đồng) bao gồm cả gốc lãi, đồng thời yêu cầu
anh T1 gọi điện cho người nhà đến gặp L để trả nợ. Chiều cùng ngày, L bảo đồng
bọn đưa anh T1 ra quán nước chè của bà Nguyễn Thị T4 sinh năm 1948, địa chỉ số
5A đường H, phường Q, quận H, thành phố Hải Phòng để chờ người nhà anh T1
đến. Tuy nhiên, do người nhà anh T1 không đến nên tối hôm đó L đã bảo T2 cùng
3
với T3, S, Đ thay nhau ở lại quán nước để trông anh T1. Đến 11 giờ ngày 21 tháng
3 năm 2017, sau khi nhận được đơn trình báo của gia đình anh T1, Công an huyện
A đã đến giải thoát cho anh T1 và đưa T2, S, Đ về cơ quan Công an để làm việc.
Bản Cáo trạng số 33/CT - VKS ngày 20 tháng 7 năm 2017 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng truy t bị cáo Nguyễn Đức L và đồng bọn
v tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự,
riêng đối với Vũ Doãn H bị truy tố theo điểm c khoản 2 Điều 134 B luật Hình s
năm 1999.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án, căn cứ vào hồ bệnh án gia đình bị
cáo Doãn H cung cấp và đơn đề nghị trưng cầu giám định đối với Hải. Để đảm
bảo quyền lợi ích hợp pháp của bị cáo, ngày 23 tháng 8 năm 2017 Tòa án nhân
dân huyện A, thành phố Hải Phòng đã ban hành quyết định Trưng cầu giám định số
07/QĐ TCGĐ gửi Viện pháp y m thần Trung ương tạm đình chỉ xét xđối
với Hải chờ kết quả trưng cầu giám định. Đến ngày 17 tháng 01 năm 2018 Tòa án
nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng đã ban hành quyết định phục hồi vụ án số
01/2018/HSST- với do đã nhận được kết luận giám định pháp y m thần
của Viện pháp y tâm thần Trung ương đối với Vũ Doãn H.
Bản án số 47/2017/HSST ngày 29 tháng 9 năm 2017, Tòa án nhân dân
huyện A, thành phố Hải Phòng xphạt Nguyễn Đức L 36 tháng cho hưởng án
treo, 05 năm thử thách; Bùi Văn T2 30 tháng cho hưởng án treo, 05 năm thử
thách; Hoàng Văn T3 Nguyễn Mạnh S mỗi bị cáo 24 tháng cho hưởng án
treo, 04 năm thử thách; Văn Đ 18 tháng tù cho hưởng án treo, 03 năm thử thách
tính tngày tuyên án về tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều
134 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên toà, bị cáo Vũ Doãn H khai không nhớ nội dung vụ án, do vậy căn
cứ vào Điều 308 Bộ luật Ttụng Hình sự năm 2015 Hội đồng xét xử công bố lời
khai của bị cáo và các đồng phạm khác trong vụ án Nguyễn Đức L, Bùi Văn T2,
Hoàng Văn T3, Nguyễn Mạnh S, Văn Đ, người bị hại anh Quản Hữu T1
những người làm chứng bà Trần Thị T4, Nguyễn Ngọc T5, Nguyễn Thị S1 khai
trong hồ vụ án, Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo khác,
người bị hại, người làm chứng đã khai tại quan điều tra ng an huyện A,
thành phố Hải Phòng. Người bào chữa, người đại diện hợp pháp cho bị cáo tại
phiên tòa xác định hành vi của bị cáo Vũ Doãn H là vi phạm pháp luật, việc truy tố
xét xử đúng người đúng tội đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần
hình phạt cho bị cáo.
Sau phần xét hỏi công khai tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành
quyền công tố tại phiên toà tnh bày lời luận tội đối với bị cáo. Qua quan điểm
phát biểu Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đề nghị Hội đồng xét xử
kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng. Qua phân tích đánh giá mức độ nguy
hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự áp dụng đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
4
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 1999; các điểm b,
q, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình s năm
2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị Vũ Doãn H từ 04 năm đến 04 năm
06 tháng tù về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”.
Tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo Doãn H trình bày căn cứ pháp
để bảo vệ quyền lợi cho bị cáo. Quan quan điểm phát biểu, người bào chữa cho
bị cáo đồng ý với tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm nh s
mà đại diện Viện kiểm sát đưa ra tại phiên toà, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào
nhân thân, hoàn cảnh gia đình vai trò của bị cáo trong vụ án xem xét giảm nhẹ
hình phạt cho bị cáo. Người bào chữa xác định đây vụ án đồng phạm giản đơn
không mang tính tổ chức, bị cáo H vai trò thấp nhất trong vụ án, bị động khi bị
cáo khác rủ rê, bản thân bị cáo hiện sức khỏe yếu do bị người khác chém vào đầu
chưa hồi phục dẫn đến hạn chế khả năng điều khiển hành vi, gia đình bị cáo thuộc
hộ cận nghèo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 134 Bộ luật
Hình sự năm 1999; các điểm b, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 58
Bộ luật Hình snăm 2015, xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất
miễn khoản tiền án p cho bị cáo theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/ UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ so vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều
tra, truy tố xét xử:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều
tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra,
truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ
luật Tố tụng Hình s. Quá trình điều tra, truy tố tại phiên tòa bị cáo, người đại
diện hợp pháp cho bị cáo không khiếu nại vhành vi, quyết định của quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. vậy, các hành vi, quyết định của
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Xét về các chứng cứ kết tội bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Doãn H khai không nhớ nội dung vụ án nhưng căn
cứ vào lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra Công an huyện A, thành phố Hải
Phòng, Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của b cáo phù hợp lời khai của Nguyễn
Đức L, Bùi Văn T2, Hoàng Văn T3, Nguyễn Mạnh S, Văn Đ, người bị hại tại
Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa xét xử các đồng phạm của bị cáo vào ngày
29 tháng 9 năm 2017, lời khai người làm chứng, kết hợp với các tài liệu trong
hồ vụ án đủ căn cứ kết luận b cáo Doãn H đã hành vi cùng với
Nguyễn Đức L, Bùi Văn T2, Hoàng Văn T3, Nguyễn Mạnh S, Văn Đ bắt giữ
5
anh Quản Hữu T1 làm con tin tại nhà của anh T1 thôn K, Q, huyện A, thành
phố Hải Phòng đưa về Q, H, thành phố Hải phòng giữ nhằm buộc gia đình anh T1
phải giao tài sản theo yêu cầu của bị cáo và đồng bọn.
Hành vi của bị cáo Doãn H đã phạm tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài
sản” vi phạm Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 1999.
[3] Xét v tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết định khung hình
phạt, các tình tiết tăng nặng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự :
Tính chất vụ án nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm
cho hội, đã xâm phạm đến sức khỏe, quyền tự do thân thể, danh dự, nhân phẩm
của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Về
nhân thân bị cáo người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội do cố ý.
Do vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử phạt một mức án nghiêm
khắc cách ly bị cáo khỏi hội một thời gian nhất định mới tác dụng cải tạo,
giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết định khung hình phạt: Tài liệu hồ xác định trước khi thực
hiện hành vi phạm tội bị cáo đã hai tiền án, bản án số 21/2005/HSST ngày 02
tháng 02 năm 2005 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử 24 tháng nhưng
cho hưởng án treo, 36 tháng thử thách về tội Cướp tài sản bản án số
156/2006//HSST ngày 31 tháng 7 năm 2006 Tòa án thành phố Hải Phòng xử phạt 7
năm về tội Cướp tài sản. Tổng hợp hình phạt tại Bản án số 21/2005 là 9 năm
giam. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 04 tháng 10 năm 2014, Tính đến
ngày phạm tội bị cáo chưa được xóa án nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung
hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bcáo không phải chịu tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm
2015.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại quan điều tra bị cáo
thái độ khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của bản thân. Sau khi phạm tội bị
cáo đã ra đầu thú và cùng các bị cáo khác bồi thường cho người bị hại, người bị hại
xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bản thân bcáo hiện tại sức khỏe yếu do bị
người khác chém vào đầu chưa hồi phục. Tại bản kết luận giám định pháp y m
thần số 371/KLngày 11 tháng 01 năm 2018 của Viện pháp y tâm thần Trung
ương, kết luận: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám
định bị cáo Doãn H biểu hiện rối loạn cảm xúc thực tổn. Theo phân loại
bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh sF06.3. Tại các thời điểm trên bị
cáo đủ khả năng nhận thức, hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Nên bị cáo được
hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm nh sự “Thành khẩn khai báo” ; Bồi
thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” Người phạm tội người có bệnh bị hạn
chế khả năng điều khiển hành vi quy định tại các điểm b. q, s khoản 1 và khoản 2
Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
6
Vụ án đồng phạm nhiều bị cáo cùng tham gia, để áp dụng mức hình phạt
tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử phân hoá
vai tcủa bị cáo trong vụ án như sau: Bị cáo vai trò thực hành tích cực trực
tiếp thực hiện hành vi phạm tội giai đoạn đầu bắt giữ, đe dọa đưa anh T1 đến
địa điểm để các đối tượng khác trông. giữ.
Xét thấy bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên áp dụng Điều 54
Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo dưới mức khởi điểm của khung hình phạt
là thỏa đáng.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 134 Bộ luật Hình
sự bị cáo thể bị phạt tiền 10.000.000đ ( mười triệu đồng) đến 100.000.000đ (
một trăm triệu đồng), tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc
cấm cư trú từ một năm đến năm năm. Xét gia đình bị cáo khó khăn, bản thân chưa
có việc làm do đó miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân s: Đã giải quyết xong tại bản án số 47/2017/HSST
ngày 29 tháng 9 năm 2017. Do vậy, Hội đồng xét xử không phải xem xét giải
quyết.
[6] Về các vấn đề khác:
Ngoài ra trong vụ án, bạn gái của L tên là Quỳnh A biết việc các bị cáo bắt
giữ anh T1 đưa về Q một số đối tượng bạn của Quỳnh A L hành vi sử
dụng trái phép chất ma túy vào đêm ngày 19 tháng 3 năm 2017. Tuy nhiên, do
chưa xác định được tên tuổi địa chỉ nơi của Quỳnh A những đối tượng đã sử
dụng ma túy, vật chứng liên quan không nên quan điều tra tách ra, tiếp tục
xác minh làm rõ xử lý sau.
[7] Về án phí: Theo xác nhận của Ủy ban nhân dân nơi bị cáo trú gia
đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên bcáo Doãn H được miễn nộp khoản tiền
án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 254, 259, 260 và Điều 326 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Doãn H phạm tội “ Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản’ .
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 1999; các điểm b, q,
s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình s năm
2015:
Xử phạt: Bị cáo Doãn H 04( bốn) năm tù về tội Bắt cóc nhằm chiếm
đoạt tài sản”. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày bắt thi hành án. Được khấu
trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 10 tháng 5 năm 2017 đến ngày 13 tháng 5 năm 2017.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Vũ Doãn H.
7
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Điều 6, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 quy định về
mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữamặt có quyền
kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại vắng mặt quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được bản án
Nơi nhận:
- TANDTP Hải Phòng;
- Sở Tư pháp;
- Phòng PV 27; PC81
- Trại tạm giam Công an Hải Phòng;
- VKSND huyện A;
- Công an huyện A;
- THADS huyện A;
- UBNDxã, phường nơi cư trú của bị cáo;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thu Hƣơng
8
Tải về
Bản án số 13/2018/HS-ST Bản án số 13/2018/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất