Bản án số 45/2026/DS-ST ngày 22/04/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 45/2026/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 45/2026/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 45/2026/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 45/2026/DS-ST ngày 22/04/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên về tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên |
| Số hiệu: | 45/2026/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 22/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ngày 22 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 8 - Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – HƯNG YÊN
Bản án số: 45/2026/DS-ST
Ngày: 22 - 4 - 2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Quốc Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trương Văn Luân.
2. Bà Quách Thị Anh Thơ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hằng Nga - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 -
Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Hưng Yên tham gia phiên
toà: Ông Lê Quang Hưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 8 - Hưng
Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 130/2025/TLST-DS ngày 09
tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số 36/2026/QĐXX-ST ngày 30 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H. (Viết
tắt là Ngân hàng H3).
Địa chỉ: B, N, phường S, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu Đ - Chức vụ: Tổng giám
đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền theo giấy uỷ quyền ngày 13/5/2025: Ông Phạm
Duy C - Chức vụ: Giám đốc chi nhánh T2 - Ngân hàng TMCP phát triển thành phố
H.
Người đại diện theo uỷ quyền lại theo giấy uỷ quyền ngày 14/8/2025:
- Ông Phạm Thế D - Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ. Địa chỉ: Tầng C, số A,
N, phường H, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
- Ông Phạm Bá C1 - Chức vụ: Chuyên viên QHKH. (Vắng mặt).
- Ông Hoàng Tiến D1 - Chức vụ: TBP KHCN. (Có mặt).
Đều địa chỉ: Số E, đường Q, phường T, tỉnh Hưng Yên.
+ Bị đơn:
Anh Đinh Quang T, sinh năm 1987. (Có mặt).
Chị Nguyễn Thị Vân A, sinh năm 1987. (Vắng mặt).
Đều trú tại: Thôn V, xã H, tỉnh Hưng Yên.
+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

2
- UBND xã H, tỉnh Hưng Yên. Địa chỉ: Thôn N, xã H, tỉnh Hưng Yên.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T1 - Chức vụ: Chủ tịch.
(Vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1963. (Vắng mặt).
- Anh Đinh Quang H1, sinh năm 1991. (Vắng mặt).
Đều trú tại: Thôn V, xã H, tỉnh Hưng Yên.
- Chị: Đinh Thị Thu H2, sinh năm 1988. (Vắng mặt).
Trú tại: Thôn K, xã H, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa người
đại diện theo uỷ quyền lại của nguyên đơn là ông Hoàng Tiến D1 trình bày: Ngân
hàng TMCP Phát triển Thành phố H – Chi nhánh T2 và anh Đinh Quang T và chị
Nguyễn Thị Vân A có ký kết hợp đồng tín dụng số 9033/24MB/HĐTD ngày
10/04/2024 số tiền vay 500.000.000 đồng, mục đích bổ sung vốn lưu động kinh
doanh sàn gỗ, lãi suất trong hạn tại thời điểm giải ngân là 9,8%/năm, lãi suất quá
hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn kể từ
thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi suất chậm trả là 10%/năm và có thể được Ngân
hàng H3 điều chỉnh theo quy định của Ngân hàng H3 trên cơ sở phù hợp với quy
định của Ngân hàng N trong từng thời kỳ. Để đảm bảo cho khoản vay trên anh T,
chị A đã thế chấp toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất
số 128, tờ bản đồ số 05, diện tích 194.2m2, tại địa chỉ thôn V, xã V, Huyện H, tỉnh
Thái Bình (nay là thôn V, xã H, tỉnh Hưng Yên) theo Giấy chứng nhận Quyền sử
dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 571710, số vào
sổ cấp GCN: CH 00217 do UBND huyện H cấp ngày 16/08/2017 mang tên anh
Đinh Quang T, chị Nguyễn Thị Vân A và được công chứng tại Văn phòng C2, số
công chứng 587 quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/04/2024. Quá trình thực
hiện hợp đồng anh Đinh Quang T và chị Nguyễn Thị Vân A đã trả nợ đến ngày
17/3/2025 được cho Ngân hàng H3 số tiền 50.483.324 đồng (trong đó nợ gốc
5.000.657 đồng, nợ lãi 45.482.667 đồng). Kể từ ngày 17/3/2025 đến nay anh Đinh
Quang T và chị Nguyễn Thị Vân A đã vi phạm cam kết thỏa thuận trong Hợp đồng
tín dụng là không trả gốc, lãi theo thỏa thuận đã ký kết và số tiền còn nợ tạm tính
đến ngày 22/4/2026 là: Nợ gốc 494.999.343 đồng, nợ lãi trong hạn 3.350.435 đồng,
nợ lãi quá hạn 92.897.593 đồng. Tổng nợ là 591.247.371 đồng. Nay ngân hàng H3
yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc anh Đinh Quang T và chị Nguyễn Thị Vân A phải
thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng H3 toàn bộ nợ gốc, tiền lãi, lãi quá hạn
theo Hợp đồng tín dụng số 9033/24MB/HĐTD ngày 10/04/2024 đến ngày
22/4/2026 là: 591.247.371 đồng, trong đó: nợ gốc 494.999.343 đồng, nợ lãi trong
hạn 3.350.435 đồng, nợ lãi quá hạn 92.897.593 đồng. Anh Đinh Quang T và chị
Nguyễn Thị Vân A không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ
ngay sau khi bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng H3 có quyền
yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của anh Đinh Quang T và

3
chị Nguyễn Thị Vân A theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất là một phần diện tích ngôi nhà trên thửa đất đã thế chấp để thu hồi nợ
theo quy định của pháp luật, phần còn lại của ngôi nhà nằm trên phần đất của người
khác thì Ngân hàng H3 không yêu cầu giải quyết. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý
tài sản không đủ thanh toán hết khoản nợ thì anh Đinh Quang T và chị Nguyễn Thị
Vân A phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng H3.
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị
đơn anh Đinh Quang T trình bày: Anh đồng ý với lời trình bày của đại diện nguyên
đơn cụ thể anh và vợ là chị Nguyễn Thị Vân A có ký kết với Ngân hàng TMCP
Phát triển Thành phố H - Chi nhánh T2 hợp đồng tín dụng số 9033/24MB/HĐTD
ngày 10/04/2024 số tiền vay 500.000.000 đồng, mục đích bổ sung vốn lưu động
kinh doanh sàn gỗ, lãi suất trong hạn tại thời điểm giải ngân là 9,8%/năm, lãi suất
quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn kể từ
thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi suất chậm trả là 10%/năm và có thể được H3 điều
chỉnh theo quy định của H3 trên cơ sở phù hợp với quy định của Ngân hàng N trong
từng thời kỳ. Để đảm bảo cho khoản vay trên anh và chị Nguyễn Thị Vân A đã thế
chấp toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 128, tờ
bản đồ số 05, diện tích 194.2 m
2
, tại địa chỉ thôn V, xã V, Huyện H, tỉnh Thái Bình
(nay là thôn V, xã H, tỉnh Hưng Yên) theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất
Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 571710, số vào sổ cấp
GCN: CH 00217 do UBND huyện H cấp ngày 16/08/2017 mang tên anh và chị
Nguyễn Thị Vân A và được công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng 587
quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/04/2024. Đến thời điểm hiện tại anh và
chị Nguyễn Thị Vân A đã trả nợ được cho Ngân hàng H3 số tiền là 50.483.324
đồng (Trong đó nợ gốc 5.000.657 đồng, nợ lãi 45.482.667 đồng) như Ngân hàng
trình bày. Sau đó do làm ăn gặp khó khăn nên kể từ ngày 17/3/2025 anh và chị
Nguyễn Thị Vân A đã không trả gốc, lãi theo thỏa thuận đã ký kết và số tiền còn nợ
tạm tính đến ngày 22/4/2026 là: Nợ gốc 494.999.343 đồng, nợ lãi trong hạn
3.350.435 đồng, nợ lãi quá hạn 92.897.593 đồng. Tổng nợ là 591.247.371 đồng.
Nay ngân hàng H3 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng anh phải thực hiện
nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng H3 toàn bộ nợ gốc, tiền lãi tạm tính phí và các loại
phí liên quan theo Hợp đồng tín dụng số 9033/24MB/HĐTD ngày 10/04/2024 đến
ngày 22/4/2026 là: 591.247.371 đồng, trong đó: nợ gốc 494.999.343 đồng, nợ lãi
trong hạn 3.350.435 đồng, nợ lãi quá hạn 92.897.593 đồng. Anh đề nghị ngân hàng
H3 cho vợ chồng anh dãn nợ một thời gian nữa để anh sắp xếp trả nợ ngân hàng,
nếu ngân hàng không đồng ý anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp
luật. Nếu vợ chồng anh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ
ngay sau khi bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật thì ngân hàng H3 có quyền
yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của vợ chồng anh theo
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã nêu ở trên để
thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản

4
không đủ thanh toán hết khoản nợ thì vợ chồng ông không có trách nhiệm trả cho
Ngân hàng khoản tiền còn lại. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thừa để
thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng thì anh đề nghị giải quyết theo quy định
pháp luật.
Tại đơn đề nghị giải quyết và xét xử vắng mặt đề ngày 22/12/2025 chị
Nguyễn Thị Vân A trình bày: Chị đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án số
130/TB-TLVA, ngày 09-10-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên về
“Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa vợ chồng chị và Ngân hàng TMCP phát triển
thành phố H. Nhưng do công việc bận, chị không đến Tòa án để tham gia giải quyết
vụ án được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hưng Yên cho chị được
vắng mặt tại các buổi làm việc tại Tòa án, vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như vắng mặt tại phiên tòa xét
xử vụ án. Quan điểm của chị như sau: Chị và anh Đinh Quang T là vợ chồng. Vào
ngày 10/4/2024, vợ chồng chị có vay của Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H
theo Hợp đồng tín dụng số 9033/24B/HĐTD ngày 10-4-2024, khế ước nhận nợ số
90033/24MB/HĐTD/KUNN01 ngày 11/4/2024 để vay vốn với số tiền là
500.000.000 đồng, lãi suất là 9,8%/năm, thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày giải
ngân (11/04/2024). Ngoài ra, trong Hợp đồng còn quy định lãi suất quá hạn, lãi suất
chậm trả và các điều khoản khác. Để đảm bảo cho khoản vay trên, vợ chồng chị đã
ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số
128, tờ bản đồ số 05, diện tích 194,2 m
2
, tại địa chỉ thôn V, xã V, huyện H, tỉnh
Thái Bình (nay là thôn V, xã H, tỉnh Hưng Yên), theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 571710, số vào
sổ cấp GCN: CH 00217 do UBND huyện H cấp ngày 16-8-2017 mang tên vợ chồng
chị. Hàng tháng vợ chồng chị vẫn đóng lãi cho Ngân hàng TMCP phát triển thành
phố H đầy đủ theo đúng quy định trong Hợp đồng. Nhưng sau đó, do việc làm ăn
của vợ chồng chị gặp khó khăn nên không trả được cho Ngân hàng theo đúng cam
kết trong Hợp đồng. Nay Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H khởi kiện yêu
cầu vợ chồng chị phải trả cho Ngân hàng nợ gốc và lãi, lãi phạt của khoản vay thì
chị đồng ý nhưng chị đề nghị Ngân hàng dãn nợ cho vợ chồng chị một thời gian để
vợ chồng chị sắp xếp trả ngân hàng, nếu Ngân hàng không đồng ý thì chị đề nghị
Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại đơn công văn số 192 ngày 12/3/2026 của UBND xã H là người có quyền
lợi nghĩa vụ liên quan có nội dung: Theo hồ sơ lưu trữ tại phòng Kinh tế xã H, tỉnh
Hưng Yên và qua kết quả đo đạc hiện trạng sử dụng đất, thể hiện anh Đinh Quang T
và chị Nguyễn Thị Vân A có làm một phần công trình nhà ở trên phần đất giao
thông do UBND xã quản lý. Nếu Tòa án giải quyết vụ án dân sự số
130/2025/TLST-DS ngày 09/10/2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng", diện tích
đất mà anh Đinh Quang T và chị Nguyễn Thị Vân A lấn chiếm thuộc quyền quản lý
của UBND xã H. UBND xã H không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án này,
UBND xã H sẽ giải quyết về phần diện tích đất do UBND xã H quản lý với người

5
sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Do tính chất công việc nên UBND xã H
xin vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc và tại tất cả các phiên tòa xét xử vụ án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà là mẹ
đẻ của anh Đinh Quang T, anh T và chị Vân A có thửa đất số 128, tờ bản đồ số 05,
diện tích 194,2 m
2
, tại địa chỉ thôn V, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình (nay là thôn V,
xã H, tỉnh Hưng Yên), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 571710, số vào sổ cấp GCN: CH 00217 do
UBND huyện H cấp ngày 16-8-2017, trên đất vợ chồng anh T có xây một ngôi nhà
nhưng một phần ngôi nhà này lại nằm trên một phần đất nông nghiệp đã chuyển đổi
theo Nghị quyết 104 của Huyện ủy huyện H cũ của bà. Nay ngân hàng khởi kiện
anh T, chị A thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, còn việc anh
T xây nhà trên một phần đất của bà thì bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do
công việc bận mải nên bà xin vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc và tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đinh Quang H1 trình bày: Anh là
em trai của anh Đinh Quang T, anh T và chị Vân A có thửa đất số 128, tờ bản đồ số
05, diện tích 194,2 m
2
, tại địa chỉ thôn V, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình (nay là
thôn V, xã H, tỉnh Hưng Yên), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 571710, số vào sổ cấp GCN: CH
00217 do UBND huyện H cấp ngày 16-8-2017, trên đất vợ chồng anh T có xây một
ngôi nhà nhưng một phần ngôi nhà này lại nằm trên một phần đất nông nghiệp đã
chuyển đổi theo Nghị quyết 104 của Huyện ủy huyện H cũ của hộ gia đình anh
(gồm mẹ và anh chị em anh). Nay ngân hàng khởi kiện anh T, chị A thì đề nghị Tòa
án giải quyết theo quy định của pháp luật, còn việc anh T, chị A xây nhà trên một
phần đất của hộ gia đình anh thì anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do công việc
bận mải nên anh xin vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc và tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Đinh Thị Thu H2 trình bày: Chi là
em gái của anh Đinh Quang T, anh T và chị Vân A có thửa đất số 128, tờ bản đồ số
05, diện tích 194,2 m
2
, tại địa chỉ thôn V, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình (nay là
thôn V, xã H, tỉnh Hưng Yên), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 571710, số vào sổ cấp GCN: CH
00217 do UBND huyện H cấp ngày 16-8-2017, trên đất vợ chồng anh T có xây một
ngôi nhà nhưng một phần ngôi nhà này lại nằm trên một phần đất nông nghiệp đã
chuyển đổi theo Nghị quyết 104 của Huyện ủy huyện H cũ của hộ gia đình mẹ chị
là bà Nguyễn Thị H và anh em chị. Nay ngân hàng khởi kiện anh T, chị A thì đề
nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, còn việc anh T, chị A xây nhà
trên một phần đất của hộ gia đình chị thì chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do
công việc bận mải nên chị xin vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc và tại phiên tòa.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Hưng Yên phát
biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng
xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật và việc chấp hành pháp luật của
đương sự: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tuân thủ đúng

6
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Về giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử
căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; khoản 1 Điều 227,
Điều 147, Điều 157, Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2025;
các Điều 463, Điều 464, Điều 466, Điều 468, Điều 299 và Điều 303 Bộ luật Dân sự
năm 2015; khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều
7, Điều 8 và Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định
về án phí, lệ phí Toà án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP phát
triển thành phố H đối với anh Đinh Quang T, chị Nguyễn Thị Vân A. Buộc anh
Đinh Quang T, chị Nguyễn Thị Vân A phải trả cho Ngân hàng H3 số tiền nợ gốc là
494.999.343 đồng và tiền lãi theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 9033
ngày 10/4/2024. Anh Đinh Quang T, chị Nguyễn Thị Vân A phải tiếp tục trả lãi
phát sinh cho Ngân hàng H3 theo hợp đồng tín dụng trên kể từ ngày 23/4/2026 đến
ngày anh Đinh Quang T, chị Nguyễn Thị Vân A thực tế thanh toán hết nợ tại Ngân
hàng H3. Trường hợp anh Đinh Quang T, chị Nguyễn Thị Vân A không thực hiện
nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng H3 có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án dân sự có
thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại, bán/ chuyển nhượng tài sản bảo đảm của
khoản vay là thửa đất số 128, tờ bản đồ số 05, diện tích 194.2 m
2
, tại địa chỉ thôn V,
xã V, Huyện H, tỉnh Thái Bình (nay là thôn V, xã H, tỉnh Hưng Yên) theo Giấy
chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
số CK 571710, số vào sổ cấp GCN: CH 00217 do UBND huyện H cấp ngày
16/08/2017 cho ông Đinh Quang T và bà Nguyễn Thị Vân A trên đất có một phần
ngôi nhà của anh T, chị A để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Anh Đinh
Quang T, chị Nguyễn Thị Vân A phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và
phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật. Trả
lại Ngân hàng H3 số tiền 12.500.000 đồng tạm ứng án phí mà Ngân hàng H3 đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng H3 khởi kiện
yêu cầu anh Đinh Quang T, chị Nguyễn Thị Vân A trả nợ tiền gốc và lãi theo hợp
đồng cho vay đã ký kết, vì vậy cần xác định quan hệ tranh chấp là "Tranh chấp hợp
đồng tín dụng"; bị đơn anh Đinh Quang T, chị Nguyễn Thị Vân A có nơi cư trú tại
thôn V, xã H, tỉnh Hưng Yên nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân Khu
vực 8 - Hưng Yên theo quy định tại khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa đổi bổ sung năm 2025.
[2] Về tố tụng: Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng
nhưng bị đơn chị Nguyễn Thị Vân A và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan đều xin vắng mặt nên căn cứ vào quy định tại khoản 1, Điều 227 Bộ luật Tố
tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và những người có

7
quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[3] Về nội dung tranh chấp:
[3.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngày 10/4/2024, Ngân hàng H3
chi nhánh T2 có ký hợp đồng cho vay số 9033/24MB/HĐTD với anh Đinh Quang T,
chị Nguyễn Thị Vân A với nội dung Ngân hàng H3 cho anh T, chị A vay số tiền
500.000.000 đồng, thời hạn vay, mục đích vay, lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất
quá hạn, lãi chậm trả và quy định phương thức trả nợ như hợp đồng tín dụng đã ký.
Anh Đinh Quang T, chị Nguyễn Thị Vân A xác định có ký Hợp đồng tín dụng trên
với Ngân hàng H3. Hợp đồng tín dụng trên được lập thành văn bản, mục đích và nội
dung các thỏa thuận hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng, không bên nào bị lừa dối, ép
buộc, tuân thủ theo quy định tại Điều 116, Điều 117 của Bộ luật dân sự năm 2015
nên là hợp đồng hợp pháp. Do đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên và
các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thoả thuận đã cam kết khi ký hợp đồng.
[3.2] Sau khi Ngân hàng H3 giải ngân theo đúng quy định của Hợp đồng tín
dụng, quá trình thực hiện hợp đồng tính đến ngày 17/3/2025, anh Đinh Quang T, chị
Nguyễn Thị Vân A đã trả được cho Ngân hàng H3 số tiền là 50.483.324 đồng
(Trong đó nợ gốc 5.000.657 đồng, nợ lãi 45.482.667 đồng). Kể từ ngày 17/3/2025
anh Đinh Quang T, chị Nguyễn Thị Vân A đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân
hàng H3 khởi kiện anh T, chị A phải trả nợ cho Ngân hàng H3 là có căn cứ chấp
nhận. Do đó, để đảm bảo quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Điều 463 và
Điều 466 của Bộ luật dân sự, cần xử buộc anh Đinh Quang T, chị Nguyễn Thị Vân
A phải có nghĩa vụ thanh toán trả cho Ngân hàng H3 số tiền nợ theo hợp đồng vay
ngày 10/4/2024, số tiền nợ gốc là: 494.999.343 đồng.
[3.3] Theo Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng H3 và anh Đinh Quang T, chị
Nguyễn Thị Vân A đã thỏa thuận về mức lãi và lãi quá hạn. Đây là hợp đồng vay
giữa tổ chức tín dụng với cá nhân nên lãi suất được áp dụng theo hợp đồng tín dụng
giữa hai bên đã ký kết theo hướng dẫn tại các Điều 7, Điều 8 và Điều 13 Nghị quyết
01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Việc anh Đinh Quang T, chị
Nguyễn Thị Vân A không trả nợ theo đúng cam kết nên Ngân hàng H3 yêu cầu Tòa
án buộc anh Đinh Quang T, chị Nguyễn Thị Vân A phải thanh toán số tiền nợ lãi
trong hạn và nợ lãi quá hạn phải trả tính từ thời điểm Ngân hàng H3 chuyển sang nợ
quá hạn theo mức lãi suất nợ quá hạn tạm tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm (ngày
22/4/2026) và buộc anh Đinh Quang T, chị Nguyễn Thị Vân A phải tiếp tục trả lãi
theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến ngày anh Đinh
Quang T, chị Nguyễn Thị Vân A thực tế thanh toán hết nợ tại Ngân hàng H3 là có
căn cứ chấp nhận.
[3.4] Như vậy tính đến ngày 22/4/2026, anh Đinh Quang T, chị Nguyễn Thị
Vân A còn nợ Ngân hàng H3 số tiền theo hợp đồng vay ngày 10/4/2024. Nợ gốc là
494.999.343 đồng; nợ lãi trong hạn là 3.350.435 đồng; nợ lãi quá hạn là 92.897.593
đồng. Tổng số tiền anh Đinh Quang T, chị Nguyễn Thị Vân A phải trả là

8
591.247.371 đồng.
[3.5] Đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 9033/24MB/HĐBĐ
ngày 10/4/2024 được ký kết giữa Ngân hàng H3 và anh Đinh Quang T, chị Nguyễn
Thị Vân A để bảo đảm cho khoản vay trên. Theo hợp đồng thế chấp anh Đinh
Quang T, chị Nguyễn Thị Vân A có thế chấp toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với đất tại thửa đất số 128, tờ bản đồ số 05, diện tích 194.2m2, tại địa chỉ
thôn V, xã V, Huyện H, tỉnh Thái Bình (nay là thôn V, xã H, tỉnh Hưng Yên) theo
Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số CK 571710, số vào sổ cấp GCN: CH 00217 do UBND huyện H cấp ngày
16/08/2017 cho anh Đinh Quang T và chị Nguyễn Thị Vân A và được công chứng
tại Văn phòng C2, số công chứng 587 quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD ngày
10/04/2024. Giữa Ngân hàng H3 với anh Đinh Quang T, chị Nguyễn Thị Vân A đều
xác định có ký hợp đồng thế chấp nêu trên, anh Đinh Quang T, chị Nguyễn Thị Vân
A xác định trong trường hợp anh Đinh Quang T, chị Nguyễn Thị Vân A không trả
được cho Ngân hàng H3 số tiền đã vay thì Ngân hàng H3 có quyền xử lý tài sản thế
chấp theo Hợp đồng thế chấp đã ký. Vì vậy trong trường hợp anh Đinh Quang T,
chị Nguyễn Thị Vân A không trả được số tiền đã vay của Ngân hàng H3 thì Ngân
hàng H3 yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là phù hợp với quy định tại Điều 299 và
Điều 303 của Bộ luật Dân sự.
[3.6] Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/12/2025 thì thửa đất số
128, tờ bản đồ số 05, diện tích 194.2m2, tại địa chỉ thôn V, xã V, Huyện H, tỉnh
Thái Bình (nay là thôn V, xã H, tỉnh Hưng Yên) theo Giấy chứng nhận Quyền sử
dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 571710, số vào
sổ cấp GCN: CH 00217 do UBND huyện H cấp ngày 16/08/2017 cho anh Đinh
Quang T và chị Nguyễn Thị Vân A, trên thửa đất có một căn nhà mái bằng xây thô
chưa hoàn thiện một phần ngôi nhà nằm trên diện tích đất đã được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất có diện tích là 36 m
2
, phần còn lại của ngôi nhà nằm ngoài
phần đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hiện nay thửa đất vẫn do
anh Đinh Quang T, chị Nguyễn Thị Vân A quản lý, sử dụng. Như vậy việc thẩm
định của Ngân hàng H3 để cho anh T, chị A vay tiền là còn có sự chưa chính xác do
đó phần ngôi nhà nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Ngân hàng H3
sẽ không được kê biên, phát mại, người đại diện của Ngân hàng cũng đồng ý với
việc này nên chấp nhận.
[4] Đối với việc anh Đinh Quang T, chị Nguyễn Thị Vân A xây ngôi nhà một
phần trên diện tích đất do UBND xã H, tỉnh Hưng Yên và một phần trên diện tích
đất đã được cấp cho hộ gia đình bà Nguyễn Thị H và các con là anh Đinh Quang H1,
chị Đinh Thị Thu H2. UBND xã H, bà H, anh H1, chị H2 không yêu cầu giải quyết
nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[5] Về chi phí xem xét thẩm định tài sản: Chi phí xem xét thẩm định tài sản
số tiền là 4.700.000 đồng, Ngân hàng H3 đã tạm ứng để chi phí xem xét thẩm định
tài sản số tiền 10.000.000 đồng, do yêu cầu của Ngân hàng H3 được chấp nhận nên

9
Ngân hàng H3 không phải chịu tiền chi phí trên. Buộc anh Đinh Quang T, chị
Nguyễn Thị Vân A phải trả lại cho Ngân hàng H3 số tiền 4.700.000 đồng tiền chi
phí xem xét, thẩm định tài sản. Trả lại Ngân hàng H3 số tiền tạm ứng chi phí xem
xét thẩm định tại chỗ còn thừa là 5.300.000 đồng (Người đại diện theo uỷ quyền lại
của Ngân hàng H3 là anh Hoàng Tiến D1 đã nhận lại đủ số tiền còn thừa ngày
06/02/2026).
[6] Về án phí: Anh Đinh Quang T, chị Nguyễn Thị Vân A là bên vi phạm các
hợp đồng tín dụng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định
của pháp luật với tổng số tiền của hợp đồng cho vay là 591.247.371 đồng =
(20.000.000 đồng + ((4% x (591.247.371 - 400.000.000 đồng)) = 27.649.895 đồng
(làm tròn là 27.650.000 đồng). Do yêu cầu của Ngân hàng H3 được chấp nhận nên
trả cho Ngân hàng H3 số tiền tạm ứng án phí là 12.500.000 đồng.
[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên cần chấp
nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; khoản 1 Điều
227, Điều 147, Điều 157, Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm
2025; các Điều 463, Điều 464, Điều 466, Điều 468, Điều 299 và Điều 303 Bộ luật
Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
các Điều 7, Điều 8 và Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01
năm 2019; Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định
về án phí, lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần phát
triển thành phố H đối với anh Đinh Quang T, chị Nguyễn Thị Vân A về tranh chấp
hợp đồng tín dụng.
2. Buộc anh Đinh Quang T, chị Nguyễn Thị Vân A phải trả cho Ngân hàng
Thương mại cổ phần phát triển thành phố H số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng
số 9033/24MB/HĐBĐ ngày 10/4/2024, tính đến ngày 22/4/2026 với số tiền nợ gốc
là nợ gốc là 494.999.343 đồng; nợ lãi trong hạn là 3.350.435 đồng; nợ lãi quá hạn là
92.897.593 đồng. Tổng số tiền anh Đinh Quang T, chị Nguyễn Thị Vân A phải trả
là 591.247.371 đồng. Anh Đinh Quang T, chị Nguyễn Thị Vân A phải tiếp tục trả
lãi phát sinh cho Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H trên số dư
nợ gốc chưa thanh toán theo lãi suất quá hạn quy định trong hợp đồng tín dụng số
9033/24MB/HĐBĐ ngày 10/4/2024 kể từ ngày 23/4/2026 đến ngày anh Đinh
Quang T, chị Nguyễn Thị Vân A thực tế thanh toán hết nợ tại Ngân hàng Thương
mại cổ phần phát triển thành phố H. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Trong
trường hợp anh Đinh Quang T, chị Nguyễn Thị Vân A không thực hiện nghĩa vụ trả
nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H thì Ngân hàng
Thương mại cổ phần phát triển thành phố H có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án

10
dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại, bán/chuyển nhượng tài sản bảo
đảm của khoản vay là thửa đất số 128, tờ bản đồ số 05, diện tích 194.2 m
2
, tại địa
chỉ thôn V, xã V, Huyện H, tỉnh Thái Bình (nay là thôn V, xã H, tỉnh Hưng Yên)
theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất số CK 571710, số vào sổ cấp GCN: CH 00217 do UBND huyện H cấp
ngày 16/08/2017 cho anh Đinh Quang T và chị Nguyễn Thị Vân A và một phần
ngôi nhà mái bằng xây thô chưa hoàn thiện nằm trên diện tích đất đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích là 36 m
2
(có sơ đồ kèm theo) để thu hồi
nợ theo quy định của pháp luật. Trường hợp tài sản phát mại không đủ để thanh
toán toàn bộ khoản nợ của anh Đinh Quang T và chị Nguyễn Thị Vân A thì anh
Đinh Quang T và chị Nguyễn Thị Vân A phải tiếp tục trả nợ, lãi cho Ngân hàng
Thương mại cổ phần phát triển thành phố H cho đến khi các khoản nợ được tất toán.
Trường hợp anh Đinh Quang T và chị Nguyễn Thị Vân A thanh toán đầy đủ số tiền
nợ trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H phải có trách
nhiệm trả lại giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cho anh Đinh Quang T và chị
Nguyễn Thị Vân A.
Kể từ ngày 23/4/2026 anh Đinh Quang T và chị Nguyễn Thị Vân A phải tiếp
tục chịu khoản tiền lãi, phí phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức
lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay số 9033/24MB/HĐBĐ ngày
10/4/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
3. Chi phí tố tụng: Anh Đinh Quang T và chị Nguyễn Thị Vân A phải trả lại
cho Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H số tiền 4.700.000 đồng
tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ tài sản.
4. Về án phí: Anh Đinh Quang T và chị Nguyễn Thị Vân A phải chịu
27.650.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Trả lại Ngân hàng
Thương mại cổ phần phát triển thành phố H số tiền 12.500.000 đồng tạm ứng án phí
Ngân hàng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001952 ngày
09/10/2025 của Phòng THADS Khu vực 8 Hưng Yên.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Đại diện Ngân hàng và anh T có mặt có quyền kháng
cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị A, bà H, anh H1, chị H2,
UBND xã H vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
11
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- TAND tỉnh Hưng Yên;
- VKSND tỉnh Hưng Yên;
- VKSND Khu vực 8 - Hưng Yên;
- THADS tỉnh Hưng Yên;
- Lưu: HS-HCTP.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Vũ Quốc Khánh
Đã sửa in
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Quốc Khánh
12
Đã sửa in
13
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 24/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 23/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 20/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm