Bản án số 64/2026/HS-PT ngày 20/04/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 64/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 64/2026/HS-PT ngày 20/04/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 64/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/04/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Hồ Trọng P
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 64/2026/HS-PT
Ngày: 24-3-2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thiện Tâm
Các Thẩm phán:Bà Phạm Thị Thanh Giang
Ông Trần Thanh Tòng
- Thư ký phiên tòa: Thị Ánh Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Trần Quốc Vương – Kiểm sát viên.
Các ngày 13, 20 24 tháng 03 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ số 243/2025/TLPT-
HS ngày 22 tháng 12 năm 2025. Do kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Tây Ninh; kháng cáo của bị cáo Trung K người bị hại Nguyễn
Trọng H đối với Bản án hình sự thẩm số 27/2025/HS-ST ngày 11 tháng 11 năm
2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Tây Ninh.
Bị cáo có kháng cáo và bị kháng nghị:
Lê Trung K, tên gọi khác: Không, sinh ngày 13/7/2006, tại tỉnh Long An
(nay là tỉnh Tây Ninh); nơi trú: SG, đường M, ấp B, B, tỉnh Tây Ninh (nơi
trú trước khi sáp nhập: Số G, đường M, khu phố E, thị trấn B, huyện B, tỉnh
Long An); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính:
Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không rõ và bà Lê Thị Lệ
H1; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm gitừ ngày 10/02/2025 đến ngày 16/02/2025 chuyển tạm
giam cho đến nay tại Phân trại tạm giam Tân Lân thuộc Trại Tạm giam số 2, Công
an tỉnh T, có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo bị kháng nghị:
1. Nguyễn Hữu T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 06/11/2006, tại Thành
phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: Số A, đường H, ấp B, B, tỉnh Tây
Ninh (nơi đăng ký thường trú trước sáp nhập: Số A, đường H, khu phố E, thị trấn
B, huyện B, tỉnh Long An); chỗ ở hiện tại: Ấp D A, B, tỉnh Tây Ninh (Chỗ ở
2
trước sáp nhập: Ấp D, xã A, huyện B, tỉnh Long An); nghề nghiệp: Không; trình
độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt
Nam; con ông Nguyễn Hữu V Thị Ngọc H2; bị cáo chưa vợ, con; tiền
án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm gitừ ngày 10/02/2025 đến ngày 16/02/2025 chuyển tạm
giam cho đến nay tại Phân trại tạm giam Tân Lân thuộc Trại Tạm giam số 2, Công
an tỉnh T, có mặt tại phiên tòa.
2. Hồ Trọng P, tên gọi khác: Không, sinh ngày 25/12/2006, tại tỉnh Long
An (nay là tỉnh Tây Ninh); nơi trú: p D A, B, tỉnh Tây Ninh (nơi trú
trước sáp nhập: Ấp D, xã A, huyện B, tỉnh Long An); nghề nghiệp: Không; trình
độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt
Nam; con ông Hồ Văn N và bà Lê Thị Hồng N1; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án,
tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm gitừ ngày 10/02/2025 đến ngày 16/02/2025 chuyển tạm
giam cho đến nay tại Phân trại tạm giam Tân Lân thuộc Trại Tạm giam số 2, Công
an tỉnh T, có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại có kháng cáo: Nguyễn Trọng H, sinh năm 2000. Địa chỉ: Ấp
B, xã B, tỉnh Đồng Tháp. (Có Đơn yêu cầu xét xử vụ án vắng mặt)
Ngoài ra, vụ án còn 06 người liên quan không kháng cáo, không bị
kháng cáo, kháng nghị, nên không triệu tập.
NI DUNG V ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa thẩm,
nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 09/02/2025, các bị cáo Nguyễn Hữu T
Trung K đang tại nhà của bị cáo T thuộc khu dân N, ấp D, A, huyện B,
tỉnh Long An (nay ấp D A, B, tỉnh Tây Ninh); bị cáo T tham gia nhóm
kín trên Facebook, nên biết được lúc 05 giờ 00 phút cùng ngày sẽ có nhóm người
tụ tập “thử xe độ” trên đường T, trước Khu công nghiệp P, nên rủ K cùng đi xem
thử xe và được bị cáo K đồng ý. Bị cáo T điện thoại qua ứng dụng Messenger cho
bị cáo Hồ Trọng P rủ đi xem “thử xe độ” và bị cáo P đồng ý.
Khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo T nói với bị cáo K “trong nhóm
người thử xe có Nguyễn Trọng H mâu thuẫn trước đó với bị cáo T”, bị cáo T bảo
bị cáo K đi lấy 01 cây dao mang theo gặp bị hại H giải quyết mâu thuẫn. Bị cáo
K đi đến vị trí tủ thờ tại phòng khách nhà bị cáo T lấy 01 cây dao (có đặc điểm:
lưỡi bằng kim loại dài 45cm, lưỡi bén dạng uốn cong màu đen trắng, cán nhựa
màu đen dài 12cm) đưa cho bị cáo T cất giấu vào bên trong áo khoác phía trước
ngực. Sau đó, các bị cáo T và K đẩy xe môtô loại Vario màu xám đen, biển số
62N1-634.04 ra trước cửa gặp bị cáo P đang đứng đợi. Bị cáo K điều khiển xe
Vario màu xám đen, biển số 62N1-634.04 chở bị cáo T đi, còn bị cáo P điều khiển
xe môtô Vario màu xám đen, biển số 60H1-313.23 đi một mình, tất cả đi theo
đường Tỉnh lộ 830 đến trước cổng Khu công nghiệp P thì dừng lại. Lúc này, b
3
cáo T thấy xe môtô Vario màu xám đen, biển số 62N1-634.04 do bị cáo K điều
khiển sắp hết xăng, nên đi qua xe của bị cáo P đang điều khiển để chở đi.
Khoảng 05 - 10 phút sau, bị cáo T quan sát nhìn thấy bị hại H điều khiển
xe môtô loại Exciter, không gắn biển số cùng một số người khác chạy ngang qua
theo đường Tỉnh lộ 830 hướng về L. Khi chạy xe đến trước cổng ấp A, L,
bị hại H điều khiển xe băng qua đường vòng ngược lại, rồi cặp vào lề đường bên
phải, dừng lại phía trước Cửa hàng S1, số C, ấp A, xã L, huyện B, tỉnh Long An
(nay ấp A, L, tỉnh Tây Ninh) do xe bị hỏng. Bị cáo P điều khiển xe chở bị
cáo T chạy đến chặn phía trước xe của bị hại H, còn bị cáo K chạy xe qua chỗ của
bị hại H khoảng 10m thì dừng lại quan sát. Bị cáo T hỏi bị hại H “Mày nhớ tao
không” rồi ngay lập tức lấy con dao cất giấu bên trong áo khoác ra. Bị cáo T cầm
dao bên tay phải chém bị hại H 01 cái từ trên xuống nhưng không trúng. Bị hại H
phản xạ, quay lưng chạy thì bị vấp ngã xuống đường, bị cáo T tiếp tục đi đến
cầm dao chém tiếp 01 cái từ trên xuống trúng vào hông trái của bị hại H gây
thương tích. Bị hại H nhanh chóng ngồi dậy bỏ chạy ra dãy phân cách, bị bị cáo
P đuổi kịp bắt được nắm cổ áo kéo lại. Bị cáo T tiếp tục chạy đến cầm dao chém
bị hại H 01 cái từ trên xuống nhưng không trúng. Bị hại H leo qua dãy phân cách
chạy vào bãi đất trống của Khu công nghiệp P ẩn núp. Các bị cáo T và P quay lại
vị trí xe môtô Exciter, không biển số của bị hại H bỏ lại nằm ngã dưới đường, bị
cáo T cầm dao chém liên tiếp 02 - 03 cái vào xe của bị hại H rồi cùng bị
cáo P dựng xe lên. Bị cáo P điều khiển xe môtô Vario màu xám đen, biển s60H1-
313.23, dùng chân phải đạp vào gấp sau xe bên trái đẩy bị cáo T điều khiển xe
của bị hại H chạy theo đường Tỉnh lộ 830 hướng về Trạm thu phí B2. Tiếp theo,
các bị cáo P và K thay nhau dùng xe mô tô đang điều khiển đẩy xe của bị
hại H do bị cáo T điều khiển đi đến chân cầu vượt A cất giấu.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 88/KLTTCT-
TTPY ngày 28/8/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh T, giám định và kết luận: Tỷ lệ
phần trăm tổn thương thể của Nguyễn Trọng H tại thời điểm giám định 02%.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐG ngày 28/02/2025 của
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Long An định giá
và kết luận: Giá trị 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter, không biển số, số
khung: RLCE55P10DY347976, số máy: 55P1-347992 tại thời điểm chiếm đoạt
có giá trị là 3.750.000đồng.
Tại Bản Cáo trạng số 04/CT-VKSKV4 ngày 16 tháng 10 năm 2025 của
Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Tây Ninh đã truy tố các bị cáo Hồ Trọng P,
Trung K và Nguyễn Hữu T về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d
khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự thẩm số 27/2025/HS-ST ngày 11 tháng 11 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Tây Ninh, đã xét xử:
1. Về tội danh:
Tuyên bố: Các bị cáo Hồ Trọng P, Trung K và Nguyễn Hữu T phạm tội
“Cướp tài sản”.
4
2. Về hình phạt:
Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 168; các điểm b và s khoản 1 Điều 51; Điều
38; Điều 17; Điều 58 và Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
- Bị cáo Nguyễn Hữu T 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tính từ
ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 10/02/2025.
- Bị cáo Hồ Trọng P 07 (B) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm
giữ ngày 10/02/2025.
- Bị cáo Lê Trung K 07 (B) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm
giữ ngày 10/02/2025.
3. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ: Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao lưỡi kim loại dài 45cm, lưỡi bén dạng uốn
cong màu đen trắng, cán nhựa màu đen dài 12cm; 01 quần jeans dài màu xanh
đen; 01 áo thun ngắn tay màu đen, áo có chữ CODE STUDIO; 01 quần jeans dài
màu đen; 01 áo thun ngắn tay màu đen, cổ tròn, áo có chữ PlusClu; 01 quần jeans
ngắn màu xám đen và 01 áo sơ mi ngắn tay, caro màu xám đen.
Ngoài ra, bản ánthẩm còn tuyên về: Thời hạn tiếp tục tạm giam, về án
phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
- Ngày 14/11/2025, bị hại Nguyễn Trọng H Đơn kháng cáo với nội dung
xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trung K tăng nặng hình phạt đối với các
bị cáo Nguyễn Hữu T Hồ Trọng P. Ngày 09/12/2025, bị hại Nguyễn Trọng H
có Đơn rút kháng cáo.
- Ngày 24/11/2025, bị cáo Lê Trung K có Đơn kháng cáo với nội dung xin
giảm nhẹ hình phạt. Ngày 09/12/2025, bị cáo Lê Trung K có Đơn rút kháng cáo.
- Ngày 08/12/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh ban
hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 209/QĐ-VKS đối với Bản án hình sự
thẩm số 27/2025/HS-ST ngày 11 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu
vực 4 - Tây Ninh, nội dung: Hành vi dùng dao tính sát thương cao gây
thương tích cho bị hại H của các bị cáo T, P và K có dấu hiệu phạm tội “Sử dụng
trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại Điều 304 Bộ luật Hình sự, nhưng cấp sơ
thẩm không tiến hành điều tra, truy tố xét xử là dấu hiệu bỏ lọt tội phạm.
Đề nghị, hủy toàn bộ Bản án hình sự thẩm số 27/2025/HS-ST ngày 11 tháng
11 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Tây Ninh. Giao hồ vụ án cho
cấp sơ thẩm điều tra lại vụ án theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh không rút kháng nghị.
- Bị cáo Lê Trung K xác định việc rút kháng cáo là hoàn toàn tự nguyện.
5
- Các bị cáo Nguyễn Hữu T, Hồ Trọng P và Lê Trung K khai nhận hành vi
phạm tội như nội dung của án sơ thẩm và không có ý kiến đối với nội dung kháng
nghị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa phát
biểu quan điểm về giải quyết vụ án như sau:
Về thủ tục kháng cáo và rút kháng cáo của bị cáo Trung K và bị hại
Nguyễn Trọng H đúng quy định của pháp luật hoàn toàn tự nguyện nên đ
nghị xem xét theo quy định của pháp luật.
Về thủ tục kháng nghị đúng thời hạn và đúng quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự, nên vụ án đủ điều kiện để xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét
hỏi tại phiên toà phúc thẩm, xét thấy:
- Đối với nội dung kháng nghị: Ngoài thực hiện hành vi “Cướp tài sản”,
trước đó các bị cáo Nguyễn Hữu T, Trung K Hồ Trọng P còn sử dụng 01
cây dao lưỡi bằng kim loại dài 45cm, lưỡi bén dạng uốn cong, mũi nhọn, màu đen
trắng, cán bằng nhựa màu đen dài 12cm, trọng lượng 400gam dùng để chém bị
hại Nguyễn Trọng H gây tổn thương thể 02%. Tuy nhiên, cấp thẩm chưa
xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự các bị cáo về tội “Sử dụng trái phép vũ khí
quân dụng” theo Điều 304 Bộ luật Hình sự là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm. Do đó
Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 209/QĐ-VKS ngày 08/12/2025 của Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Qua xem xét Bản án thẩm số 27/2025/HS-ST ngày 11/11/2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực 4 Tây Ninh, tuyên xử các bị cáo Nguyễn Hữu T, Hồ Trọng
P Trung K về tội “Cướp tài sản” theo Điều 168 Bộ luật Hình sự căn
cứ. Đối với hành vi của các bị cáo dùng dao gây thương tích cho bị hại Nguyễn
Trọng Hậu C xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Sử dụng vũ khí quân
dụng” theo Điều 304 Bộ luật Hình sự. Do đó, việc huỷ bản án sơ thẩm đđiều tra,
xét xử lại không làm thay đổi hành vi phạm tội “Cướp tài sản”, nhằm để đảm bảo
ổn định bản án, cần sửa bản án thẩm. Viện kiểm sát thay đổi nội dung kháng
nghị theo hướng: Căn cứ Điều 144 và khoản 4 Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự,
yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 Tây Ninh khởi tố vụ án, để xử
hành vi “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo Điều 304 Bộ luật Hình sự.
- Do đã tách hành vi “Dùng khí…” quy định tại điểm d khoản 2 Điều
168 Bộ luật Hình sự để xlý về một tội danh độc lập, nên các bị cáo chỉ bị xét xử
về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần sửa
hình phạt đối với các bị cáo và sửa về phần xử lý vật chứng là 01 cây dao.
- Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự,
đề nghị chấp nhận kháng nghị số 209/QĐ-VKS ngày 08/12/2025 của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh. Sửa một phần của bản án thẩm số
27/2025/HS-ST ngày 11/11/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4 Tây Ninh
theo hướng yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Tây Ninh khởi tố vụ án
để điều tra hành vi “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” của các bị cáo Nguyễn
6
Hữu T, Hồ Trọng P và Lê Trung K; sửa về hình phạt theo hướng áp dụng khoản
1 Điều 168 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt mỗi bị cáo Nguyễn Hữu T Hồ
Trọng P từ 04 năm đến 05 năm tù, bị cáo Lê Trung K từ 03 năm đến 04 năm tù;
Về xử vật chứng: Đề nghị chuyển 01 dao lưỡi bằng kim loại dài 45cm, lưỡi bén
dạng uốn cong, mũi nhọn, màu đen trắng, cán bằng nhựa màu đen dài 12cm kèm
theo yêu cầu khởi tố vụ án đến Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 Tây Ninh để
tiếp tục xử lý trong vụ án khác.
Các bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo đều trình bày xin giảm nhẹ hình phạt.
NHN ĐNH CA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hvụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh
kháng nghị đúng quy định tại các Điều 336 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự,
nên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh thụ vụ án để giải quyết theo thủ tục phúc
thẩm là có căn cứ.
[2] Về nội dung vụ việc và quyết định của án sơ thẩm:
[2.1] Xuất phát từ mâu thuẫn trước đó giữa bị cáo Nguyễn Hữu T và bị hại
Nguyễn Trọng H, khi biết được trong nhóm “thử xe độ” có bị hại H tham gia, nên
các bị cáo T và K thống nhất mang theo 01 cây dao (đặc điểm: lưỡi kim loại dài
45cm, lưỡi bén dạng uốn cong màu đen trắng, cán nhựa màu đen dài 12cm) do bị
cáo T cất giấu vào bên trong áo khoác đang mặc, để gặp H giải quyết mâu thuẫn
(hoàn toàn không ý thức mang theo dao để dùng lực nhằm chiếm đoạt tài
sản của bhại H); đồng thời, bcáo T gọi điện thoại rủ bị cáo P đi đến nhà để cùng
nhau đi xem “thử xe độ”. Tại khu vực “thử xe độ”, phát hiện bị hại H điều khiển
xe đi ngang qua, các bị cáo điều khiển xe chạy theo sau, khi bị hại H ngừng xe
lại, các bị cáo gây thương tích cho bị hại H với tỷ lệ tổn thương thể 02%.
Sau khi bị hại bỏ chạy bộ thoát qua bên kia đường đlại xe tô, các bị cáo
chiếm đoạt xe của bị hại và nhanh chóng rời khỏi hiện trường.
[2.2] Hành vi như trên của các bị cáo T, P và K đã đủ yếu tố cấu thành các
tội “Cố ý gây thương tích” và “Cướp tài sản”, Hội đồng xét xử xét:
- Đối với tội “Cố ý gây thương tích”: Người bị hại không yêu cầu xem xét
trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, nên cấp sơ thẩm không xem xét là có căn
cứ chấp nhận.
- Đối với tội “Cướp tài sản”: Về ý thức chiếm đoạt của các bị cáo, chỉ phát
sinh ngay sau khi thực hiện hành vi “Cố ý gây thương tích” đối với bị hại. Do đó,
cấp sơ thẩm đã lấy hành vi dùng lực, dùng dao gây thương tích cho bị hại từ
tội “Cố ý gây thương ch” để làm tình tiết định khung tăng nặng của tội “Cướp
tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự “Sử dụng
khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác” để xét xử các bị cáo không
đúng với quy định của pháp luật. Do đó, hành vi phạm tội “Cướp tài sản” của các
7
bị cáo chỉ thuộc khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình svà có khung hình phạt từ 03
năm đến 10 năm tù.
- Căn cứ Điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về phạm vi xét xử phúc
thẩm, Hội đồng xét xử xét thấy cần sửa bản án thẩm về khung hình phạt
quyết định lại hình phạt đối với các bị cáo cho đúng với tính chất của vụ án vai
trò của từng bị cáo trong vụ án theo quy định của pháp luật.
[3]. Về kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh
thay đổi nội dung kháng nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, thấy
rằng:
[3.1] Ngoài các hành vi như xem xét tại mục [2.2] đối với các bị cáo T, P
K; bị cáo T còn hành vi trực tiếp sdụng 01 cây dao (đặc điểm: lưỡi kim
loại dài 45cm, lưỡi bén dạng uốn cong màu đen trắng, cán nhựa màu đen dài
12cm) gây nên các thương tích trên thể bị hại H với tỷ ltổn thương là 02%.
Xét thấy, cây dao bị cáo T sử dụng để gây thương cho bị hại chưa được cấp
thẩm Trưng cầu giám định theo trình tự thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ
luật Tố tụng hình sự, nhằm xác định có thuộc hay không thuộc “Danh mục dao
tính sát thương cao” được quy định tại Thông s 75/2024/TT-BCA ngày
15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C1. Qua đó mới đủ căn cứ để xác định đủ hay
không đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại
Điều 304 Bộ luật Hình sự, nhưng cấp sơ thẩm không thực hiện có thiếu sót, nên
kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh là có căn cứ.
[3.2] Tuy nhiên, nếu cây dao các bị cáo sử dụng gây thương tích cho bị hại
thuộc “Danh mục dao tính sát thương cao” được quy định tại Thông số
75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C1 và đủ yếu tố cấu thành
tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại Điều 304 Bộ luật Hình sự,
thì đây là tội danh độc lập với tội danh đang xét xử các bị cáo trong vụ án này và
cũng không ảnh hưởng gì đến việc quyết định hình phạt đối với các bị cáo trong
vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải hủy án thẩm để
giao hồ vụ án về cấp thẩm điều tra lại vụ án cho đúng quy định của pháp
luật. Căn cứ các Điều 144 153 Bộ luật Tố tụng Hình sự, kiến nghị đến Viện
kiểm sát nhân dân Khu vực 4 Tây Ninh tiếp tục xem xét, xử theo quy định
của pháp luật đối với hành vi sử dụng 01 cây dao (đặc điểm: lưỡi kim loại dài
45cm, lưỡi bén dạng uốn cong màu đen trắng, cán nhựa màu đen dài 12cm) của
bị cáo T khi gây thương tích cho bị hại liên quan trong vụ án, nhằm tránh bỏ
lọt tội phạm. Do đó, tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát tham gia
phiên tòa thay đổi nội dung kháng nghị từ đề nghị hủy án thẩm sang đnghị
kiến nghị đến Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Tây Ninh tiếp tục xem xét xử
lý theo quy định của pháp luật là có căn cứ chấp nhận. Cấp sơ thẩm cũng cần rút
kinh nghiệm.
[4] Về vật chứng liên quan đến nội dung kiến nghị: 01 cây dao (đặc
điểm: lưỡi kim loại dài 45cm, lưỡi bén dạng uốn cong màu đen trắng, cán nhựa
màu đen dài 12cm) liên quan đến dấu hiệu của tội phạm khác, nên cần thiết
phải giao cho Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 Tây Ninh tiếp tục xem xét theo
8
thẩm quyền và xử lý theo quy định của pháp luật. vậy, cần sửa một phần về x
lý vật chứng của án sơ thẩm như đã nhận định.
[5] Xét yêu cầu kháng cáo và rút kháng cáo có liên quan trong vụ án:
[5.1] Đối với kháng cáo và rút kháng cáo của bị hại H: Qua các tài liệu có
trong hồ vụ án, việc bị hại H rút lại yêu cầu kháng cáo là hoàn toàn tnguyện.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử đình
chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị hại H.
[5.2] Đối với kháng cáo và rút kháng cáo của bị cáo K, thấy rằng: Tại phiên
tòa, bị cáo K trình bày việc rút kháng cáo hoàn toàn tự nguyện, nếu căn cứ điểm
đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ đình chỉ xét xử
phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo, Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật đối
với bị cáo và sẽ gây bất lợi cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không đình xét xử
phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo và xem xét theo nguyên tắc có lợi cho b
cáo.
[6] Về căn cứ quyết định hình phạt đối với các bị cáo:
[6.1] Về tình tiết tăng nặng: Qua xem xét, các bị cáo không tình tiết tăng
nặng theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6.2] Về các tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, xét xử vụ án các bị o
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; đã tác động gia đình bồi
thường thiệt hại cho bị hại; các bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân chưa tiền
án, tiền sự; tài sản đã thu hồi giao trả lại cho người bị hại. Đây tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều
51 Bộ luật Hình sự.
[6.3] Trong ván này, các bị cáo T P vai trò ngang nhau cùng
các tình tiết giảm nhẹ như nhau, nên khi quyết định mức hình phạt đối với 02 bị
cáo là ngang nhau; còn đối với bị cáo K, vai tđồng phạm giúp sức không
đáng kể và cùng có các tình tiết giảm nhẹ như nhau, nên khi quyết định hình phạt
đối với bị cáo K phải thấp hơn so với các bị cáo P và T. Xét thấy, mức hình phạt
đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp,
nên ghi nhận xem xét.
[7] Từ những nhận định trên, căn cứ: Điều 345; Điều 348; các điểm b và đ
khoản 1 Điều 355; các điểm b và c khoản 1, điểm d khoản 2 khoản 3 Điều 357
Bộ luật Tố tụng hình sự. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị hại
Nguyễn Trọng H; chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Tây Ninh và kháng cáo của bị cáo Lê Trung K. Sửa một phần về khung hình
phạt, về hình phạt xử lý vật chứng đối với các bị cáo Nguyễn Hữu T, Hồ Trọng
P và Lê Trung K tại Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2025/HS-ST ngày 11 tháng 11
năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4 Tây Ninh, như đề nghị của đại diện
Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ để chấp nhận.
[8] Về án phí phúc thẩm:
9
Căn cứ: Các Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Các bị cáo và người bị hại không phải chịu án phí.
[9] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐNH:
1. Căn cứ: Điều 345; Điều 348; các điểm b đ khoản 1 Điều 355; các điểm
b và c khoản 1, điểm d khoản 2 và khoản 3 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị hại Nguyễn Trọng H;
- Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây
Ninh và kháng cáo của bị cáo Trung K.
- Sửa một phần về khung hình phạt, về hình phạt xử vật chứng tại Bản
án hình sự thẩm số 27/2025/HS-ST ngày 11 tháng 11 năm 2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 4 Tây Ninh đối với các bị cáo Nguyễn Hữu T, Hồ Trọng P
và Lê Trung K.
2. Về tội danh:
Tuyên bố: Các bị cáo Hồ Trọng P, Nguyễn Hữu T Lê Trung K phạm tội
“Cướp tài sản”.
3. Về hình phạt:
3.1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 168; các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38; Điều 17; Điều 58 và Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 04 (B1) năm tù. Thời hạn tính tngày
10/02/2025.
3.2. Căn cứ: Khoản 1 Điều 168; các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38; Điều 17; Điều 58 và Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hồ Trọng P 04 (B1) năm tù. Thời hạn tính từ ngày
10/02/2025.
3.3. Căn cứ: Khoản 1 Điều 168; các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38; Điều 17; Điều 58 và Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trung K 03 (Ba) năm . Thời hạn tính từ ngày
10/02/2025.
Căn cứ: Khoản 3 Điều 347 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam mỗi
bị cáo Nguyễn Hữu T, Hồ Trọng P và Lê Trung K 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ
ngày tuyên án phúc thẩm 24/3/2026 để đảm bảo việc thi hành án.
4. Căn cứ các Điều 144 153 Bộ luật Tố tụng hình sự: Kiến nghị đến Viện
kiểm sát nhân dân Khu vực 4 Tây Ninh xem xét, xử lý vụ việc dấu hiệu tội
phạm, đối với bcáo Nguyễn Hữu T về việc “Có hành vi sử dụng 01 cây dao (đặc
10
điểm: lưỡi kim loại dài 45cm, lưỡi bén dạng uốn cong màu đen trắng, cán nhựa
màu đen dài 12cm) gây thương tích cho bị hại Nguyễn Trọng H, xảy ra vào khoảng
05 giờ ngày 09/02/2025 tại khu vực Cửa hàng S1 thuộc ấp A, L, tỉnh Tây Ninh
hay không dấu hiệu phạm tội “Sử dụng trái phép khí quân dụng” theo
quy định tại Điều 304 Bộ luật Hình sự và các đồng phạm khác (nếu có).
5. Về xử lý vật chứng:
Giao cho Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 Tây Ninh quản xử
theo quy định của pháp luật đối với 01 cây dao (đặc điểm: lưỡi kim loại dài 45cm,
lưỡi bén dạng uốn cong màu đen trắng, cán nhựa màu đen dài 12cm). Vật chứng
hiện do Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4 – y Ninh đang quản lý.
6. Về án phí hình sự phúc thẩm:
Các bị cáo Nguyễn Hữu T, Hồ Trọng P Trung K bị hại Nguyễn
Trọng H không phải chịu án phí.
7. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh
có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo
thủ tục phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Tây Ninh (01);
- TAND Khu vực 4 (02);
- VKSND Khu vực 4 (01);
- THADS tỉnh Tây Ninh (01);
- Công an tỉnh Tây Ninh (02);
- Bị cáo; người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thiện Tâm
Tải về
Bản án số 64/2026/HS-PT Bản án số 64/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 64/2026/HS-PT Bản án số 64/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất