Bản án số 052/2026/DS-PT ngày 23/03/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp hợp đồng thuê nhà

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 052/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 052/2026/DS-PT ngày 23/03/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp hợp đồng thuê nhà
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê nhà
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Ngãi
Số hiệu: 052/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 52/2026/DS-PT
Ngày: 23/3/2026
“V/v tranh chấp hợp đồng thuê
nhà”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
A ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Mỹ Giang.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Minh Thành;
Ông Vũ Văn Thuấn.
- Thư phiên tòa: Trần Thị Tuyết Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi: Bùi Thị Thanh
Hiền – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 31 tháng 12 năm 2025, ngày 04 tháng 02 23 tháng 3
năm 2026, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử phúc
thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 100/2025/TLPT-DS ngày 05 tháng 11 năm
2025 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
Do bản án dân sự thẩm số: 33/2025/DS-ST ngày 13/9/2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử phúc thẩm số 198/2025/QĐXX-PT ngày 15 tháng 12 năm 2025 của
Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Duy T, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ C, phường N,
tỉnh Quảng Ngãi (trước sáp nhập tổ E, Phường L, thành phố Q, tỉnh Quảng
Ngãi); có đơn xin xét xử vắng mặt và vắng mặt tại phiên toà.
- Bị đơn: Lê Thị Minh H, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số nhà C đường
Q, tổ B, phường C, tỉnh Quảng Ngãi (trước sáp nhập tổ B, Phường T, thành phố
Q, tỉnh Quảng Ngãi); chỗ hiện nay: Số nhà C V, phường C, tỉnh Quảng Ngãi
(trước sáp nhập là phường C, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi); có mặt trong ngày
xét xử 31/12/2025, vắng mặt trong các ngày xét xử 04/02/2026 và 23/3/2026.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Minh H: Ông Hoàng Thanh
B, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ A, phường H, thành phố Đà Nẵng (trước sáp nhập
phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Theo văn bn y quyn ngày 14/5/2025;
mặt trong ngày xét xử 31/12/2025, vắng mặt trong các ngày xét x04/02/2026
và 23/3/2026.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:
+ Luật Mai Lâm P luật Phạm Ngọc H1 của Công ty L thuộc Đoàn
Luật Thành phố H; địa chỉ: Số C đường số G, phường B, Thành phố Hồ Chí
Minh (trước sáp nhập phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh); luật
Mai Lâm P mặt trong ngày xét xử 31/12/2025, vắng mặt trong các ngày xét
xử 04/02/2026 và 23/3/2026; luật sư Phạm Ngọc H1 vắng mặt.
+ Luật Nguyễn Thế H2, thuộc Đoàn Luật Thành phố H; địa chỉ:
Công ty L1, số 634 (tầng trệt) đường N, phường B, Thành phố HChí Minh;
mặt trong ngày xét xử 31/12/2025, vắng mặt trong các ngày xét xử 04/02/2026
23/3/2026.
+ Luật Hoàng Thị Tuấn T1, thuộc Văn phòng L2 - Đoàn Luật Đ; địa
chỉ: A đường N, phường H, thành phố Đà Nẵng; tham gia tố tụng ngày 23/3/2026
và có mặt trong ngày xét xử 23/3/2026.
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị Bích V, sinh năm
1980; địa chỉ: Tổ C, phường N, tỉnh Quảng Ngãi (trước sáp nhập là tổ E, Phường
L, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi); đơn xin xét xử vắng mặt vắng mặt tại
phiên toà.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Võ Duy T người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Bích V: Ông Huỳnh Ngọc ; địa
chỉ: Số H đường H, phường C, tỉnh Quảng Ngãi (Theo Hợp đồng ủy quyn cùng
ngày 06/5/2025); có đơn xin vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 13 tháng 5 năm 2024, Biên bản về phiên họp
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; các tài liệu có tại hồ sơ vụ
án và tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Võ Duy
T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bích V trình bày:
Vợ chồng ông Võ Duy TNguyễn Thị Bích V chủ sở hữu căn nhà
gắn liền với quyền sử dụng đất tại thửa đất số 92, tờ bản đồ số 43 Phường L, tại
địa chỉ: Số A đường P, phường N, tỉnh Quảng Ngãi (Sau đây được viết tắt là n
số A), đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản gắn liền với đất số DN002087, s vào sổ cấp GCN: VP09122, ngày
02/10/2023.
Ngày 21/4/2023, ông T Thị Minh H Hợp đồng thuê nhà, nội
dung H thuê nhà số A, thời gian thuê 05 năm; thời gian tính tiền thuê bắt đầu
từ ngày 21/6/2023; mục đích thuê để kinh doanh, buôn bán; giá thuê năm đầu:
17.000.000 đồng/tháng, hai năm tiếp theo là 19.000.000 đồng/tháng, hai năm tiếp
theo tăng 10% so với năm trước đó; thời gian thanh toán tiền thuê nhà là 06 tháng
01 lần, thời gian thanh toán vào ngày đầu của 06 tháng tiếp theo.
Quá trình thực hiện hợp đồng: Sau khi bàn giao nhà cho H sử dụng, để
tạo điều kin cho vic kinh doanh ca bà H, hai tháng đầu ông, bà không tính tin
thuê nhà; ông, bắt đầu tính tin thuê nhà k t ngày 21/6/2023. Tuy nhiên, k
t ngày đó đến nay, bà H chưa thanh toán bt kì khon tin thuê nhà nào cho ông,
bà theo như đã tha thun trong hợp đồng. Ông, bà đã liên h trc tiếp và gửi văn
bản đề ngh bà H thanh toán tin thuê nhà nhiều lần nhưng H chỉ hứa hẹn và
sau đó thì ông, không gặp được bà H và bà H t chi hp tác. Nay ông T,
V yêu cu Tòa án gii quyết:
- Tuyên b chm dt Hp đồng thuê nhà đã ký ngày 21/4/2023 gia ông T
và bà Lê Thị Minh H đi với căn nhà gn liền với quyền sử dụng đất tại thửa đất
số 92, tờ bản đồ số 43 Phường L (nay phường N), tại địa chỉ: Số A đường P,
phường N, tỉnh Quảng Ngãi.
- Buc bà Lê Thị Minh H phải trả lại nhà số A.
- Buc bà Thị Minh H phi thanh toán tin thuê nhà k t ngày 21/6/2023
đến ngày 04/9/2024 là 235.900.000 đồng.
- Buc bà Lê Thị Minh H phi thanh toán tin lãi phát sinh t s tin thuê
nhà chm tr k t ngày 21/6/2023 tm tính đến ngày 09/7/2025 với lãi suất
10%/năm là 38.526.000 đồng.
Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Duy T t một phần yêu cầu khởi kiện
đối với các yêu cầu về việc buộc bà Lê Thị Minh H phi tháo d toàn b tài sn,
vt dụng, đồ đạc ca bà H có trong nhà số A yêu cầu buộc H phi bồi thường
vi s tiền 400.000.000 đồng đ ông sa cha lại căn n như hiện trạng ban đầu.
Đối với ý kiến của bà Lê Thị Minh H cho rằng ông cố tình không cho số tài
khoản ngân hàng và không nhận tiền thuê nhà của bà là không có căn cứ. Bởi vì,
sau khi ký kết hợp đồng thuê nhà, bà H đã đặt cọc số tiền 10.000.000 đồng thông
qua hình thức chuyển khoản vào số i khoản của vợ chồng ông, bà. Đồng thời,
khi bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán, vợ chồng ông đã nhiều lần gặp mặt
yêu cầu H thanh toán tiền thuê nhà đúng tha thuận nhưng H không thực
hiện, cố tình né tránh, nếu thật sự có thiện chí thanh toán thì bà H có thể đến nhà
gặp vợ chồng ông, là nơi hai bên ký hợp đồng để thanh toán tiền thuê nhà.
Đến khoảng tháng 12 âm lịch năm 2023, lúc này theo hợp đồng bà H phải
thanh toán tiền nhà kỳ 2 102.000.000 đồng và tiền nợ của 06 tháng đầu tiên là
92.000.000 đồng (102.000.000 đồng 10.000.000 đồng), tổng cộng 194.000.000
đồng. Tuy nhiên, bà H gọi cho ông và chỉ đề nghị trả trước 50.000.000 đồng nên
vợ chồng ông không đồng ý, số tiền thuê nhà H đề nghị trả chỉ được ¼ số
tiền mà bà H phải thanh toán.
Đối với các bản chụp tin nhắn zalo bà H nộp cho Tòa án có nội dung bà H
nhắn tin cho ông khi chưa kết bạn trên ứng dụng zalo với ông, đây chỉ là các nội
dung nhắn đơn phương từ phía H, ông hoàn toàn không biết các nội dung tin
nhắn này.
Tại đơn trnh bày ý kiến ngày 17/01/2025, đơn phản t ngày 24/02/2025
tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn Lê Thị Minh H người đại diện theo ủy quyền
của bà H trình bày: Ngày 21/3/2023 ông T có ký kết Hợp đồng thuê nhà số
A để kinh doanh dịch vụ spa (dịch vụ chăm sóc sức khe, làm đẹp thư giãn),
đặt cọc cho ông T số tiền 10.000.000 đồng, ông T đồng ý cho 02 tháng
không đóng tiền nhà đđầu bắt đầu tính tiền thuê nhà từ ngày 21/6/2023.
Ông T có giới thiệu cho bà đơn vị thi công cải tạo căn nlàm dịch vụ spa là ông
Trương Quang P1. Ngày 03/6/2023, ký hợp đồng cải tạo spa với ông P1,
nhưng do ông P1 thi công chậm trễ kéo dài hơn 4 tháng nên thương lượng
với ông T cho thanh toán chậm tiền thuê nhà ông T đồng ý khi nào khai
trương th đóng tiền thuê”. Đầu năm 2024, bà gọi cho ông T đề nghị thanh toán
50% số tiền thuê nhà rồi 01 tháng sau sẽ thanh toán đủ, nhưng ông T cố tình không
lấy tiền và còn chửi bới xúc phạm bà. Ông T, bà V cũng cố tình không cho số tài
khoản để trả tiền thuê nhà. Ngày 30/5/2024, ông T có nhắn tin yêu cầu bà trả
tiền thuê nhà, nếu không trả tiền thì ông T sẽ lấy lại nhà nhưng ông T không nói
đến vấn đề đền bù hợp đồng khi lấy lại nhà trước thời hạn. Ông T và bà V nhiều
lần đến nhà số A quậy phá, xúc phạm nhân viên khiến nhân viên sợ, nghỉ việc nên
bà không hoạt động được.
Do đó, bà không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
không chấp nhận hòa giải, u cầu Tòa án xử ông T làm đơn tố o sai sự
thật để đòi lấy lại nhà trước thời hạn nhằm mục đích không đền bù cho bà và yêu
cầu ông T đền bù chi phí đầu tư cho bà theo hợp đồng.
Tại phiên tòa 09/7/2025, bà H trình bày: Bà thuê nhà nhưng không làm ăn
được nên nay ông T khởi kiện đòi lại nhà, cũng đồng ý trả lại nhà cho ông T,
nhưng ông T phải bồi thường cho bà số tiền 1.000.000.000 đồng. Vì khi thuê nhà
b tiền ra đầu trang thiết bị, đào tạo nhân viên đlàm spa đồng ý trả
tiền thuê nhà cho ông T từ ngày 21/6/2023 đến ngày 04/9/2024; yêu cầu Hội
đồng xét xử cho bà thời gian đbà làm đơn phản tố và bổ sung tài liệu, chứng cứ.
Tuy nhiên, tại phiên tòa ngày 11/9/2025 người đại diện theo ủy quyền của nguyên
đơn ông Hoàng Thanh B trình bày: Bị đơn không đồng với toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn. Trường hợp phải trả lại nhà cho ông T, thì ông T phải
bồi thường cho bị đơn số tiền 1.000.008.000 đồng tiền chi phí đầu trang thiết
bị, đào tạo nhân viên.
Bản án dân sự thẩm s 33/2025/DS-ST ngày 13/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi đã quyết định như sau:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Duy T.
+ Tuyên b chm dt Hợp đồng thuê nhà đã ký ngày 21/4/2023 gia ông
Duy T và bà Lê Thị Minh H đi với căn nhà gắn liền với quyền sử dụng đất
tại thửa đất số 92, tờ bản đồ số 43 Phường L, tại địa chỉ: Số A đường P, phường
N, tỉnh Quảng Ngãi.
+ Buc bà Lê Thị Minh H phải trả lại nhà số A cho ông Võ Duy T.
+ Buc bà Thị Minh H phi thanh toán tin thuê nhà k t ngày
21/6/2023 đến ngày 04/9/2024 số tiền 235.900.000 đồng cho ông Võ Duy T.
+ Buộc Thị Minh H phải trả tiền lãi chậm thanh toán tiền thuê nhà
cho ông T số tiền là 38.526.000 đồng.
- Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc
bà Thị Minh H phi tháo d toàn b tài sn, vt dụng, đồ đạc ra khi nhà số A
bồi thường vi s tiền 400.000.000 đồng để ông Duy T sa cha lại căn
nhà như hiện trạng ban đầu.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, lãi suất chậm
thanh toán và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 24/9/2025, Thị Minh H kháng cáo toàn bộ bản án thẩm:
đề nghị Toà án cấp phúc thẩm hutoàn bbản án dân sự thẩm, do Tán
cấp sơ thẩm xét xử không đúng thực tế và có nhiều vi phạm tố tụng.
Ý kiến của các luật Mai Lâm P, Nguyễn Thế H2 người bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Toà án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố
tụng, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự như: Vthẩm quyền
xét xử thẩm, Toà án nhân dân khu vực 1 Quảng Ngãi xét xử không đúng
theo thẩm quyền mà các đương sự đã thoả thuận trong hợp đồng; không xem xét
nội dung phản tố của bị đơn là không giải quyết triệt để được vụ án; đưa thiếu
người tham gia tố tụng chủ sở hữu nhà sA tại thời điểm cho thuê ngân hàng
nguyên đơn thế chấp nhà ông Hoàng Thanh B người góp vốn kinh doanh
dịch vụ spa với bị đơn; vi phạm trong việc mở khoá để xem xét, thẩm định tại ch
và niêm phong nhà số A. Vì vậy, đề nghị huỷ bản án thẩm, giao hồ sơ về cho
cấp sơ thẩm xét xử lại.
Ý kiến của luật sư Hoàng Thị Tuấn T1 là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp cho bị đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên toà để tạo điều kiện cho bị
đơn mặt và luật sư nghiên cứu hồ sơ, tham gia phiên toà. Vì luật T1 chỉ mới
nộp thủ tục đăng người bảo vệ vào sáng ngày 23/3/2026, được Hội đồng xét
xử đồng ý cho luật tham gia phiên toà, nhưng luật sư chưa được tiếp cận hồ sơ
nên không có ý kiến gì khác.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tại phiên toà
phúc thẩm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng kể từ khi
thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng theo quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về hình thức: Đơn kháng cáo của Thị Minh H làm trong hạn luật
định là hợp lệ theo các Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Cấp thẩm xét xử căn cứ, đúng pháp luật; căn c
điểm a khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự m 2015, đề nghị Hội đồng xét
xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cvào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra xem xét kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi
phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Bđơn bà Thị Minh H kháng cáo trong thời hạn theo quy định tại
khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên được chấp nhận xem
xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Về thẩm quyền của Tòa án: Mặc dù tại Điều 7 của Hợp đồng thuê
nhà đã ngày 21/4/2023 giữa nguyên đơn bị đơn tha thuận tranh chấp sẽ
được giải quyết tại Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi. Tuy nhiên,
tha thuận của các đương sự không đúng quy định tại Bluật Tố tụng dân sự nên
Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm
a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên
đơn người quyền nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Bích V đơn
đề nghị xét xử vắng mặt; người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn
luật Phạm Ngọc H1 vắng mặt; người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là luật sư Mai Lâm P, luật sư
Phạm Ngọc H1 mặt trong ngày xét xử 31/12/2025, vắng mặt trong các ngày
xét xử khác. Căn cứ Điều 296, khoản 2 Điều 259, Điều 304 Bộ luật Tố tụng dân
sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[1.4] Ngày 31/12/2025 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã mở phiên tòa
phúc thẩm xét xử vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, để giải quyết triệt
để vụ án, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên nên đã quyết định tạm
ngừng phiên tòa để thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ, cụ thể tiến nh xem
xét thẩm định tại chỗ đ xác định tài sản của các đương sự tại nhà số A. Ngày
26/01/2026, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã tiến hành xem xét thẩm định tại
chỗ nhà số A, nhưng bị đơn vắng mặt, anh Hoàng Thanh B có mặt nhưng không
mở khóa cản trở không cho thực hiện việc xem xét thẩm định tại chỗ, không
biên bản. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm không thể thu thập bổ sung tài liệu,
chứng cứ và xét xử trên cơ sở tài liệu, chứng cứ đã thu thập có tại hồ sơ vụ án.
[2] Xét kháng cáo của bà Lê Thị Minh H:
[2.1] Bđơn cho rằng Toà án cấp thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục
tố tụng:
- Về việc cấp thẩm trả lại đơn phản tố cho ThMinh H, Toà án
cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng quy định tại Điều 193 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015. Trường hợp H tiếp tục tranh chấp thì quyền khởi kiện bằng vụ kiện
dân sự khác theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Bị đơn cho rằng Tòa án cấp thẩm đưa thiếu người tham gia tố tụng
đến tháng 10/2023 vợ chồng ông T, V mới được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cùng quyền sở hữu căn nhà, nhà đang thế chấp tại ngân hàng, nhưng
không đưa chủ sở hữu nhà tại thời điểm cho thnhà ngân hàng tham gia tố
tụng. Tuy nhiên, bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh từ
lúc nguyên đơn kết hợp đồng, giao nhà cho bị đơn cho đến phiên tòa phúc thẩm
có ai tranh chấp quyền sở hữu nhà và tranh chấp liên quan đến hợp đồng thuê nhà
số A.
- Bị đơn cho rằng ông Hoàng Thanh B người góp vốn xây dựng spa
nhưng thời điểm thuê nchỉ có H kết hợp đồng thuê nhà, H cũng không
thông báo cho bên cho thuê nội dung này. Tại cấp thẩm H uỷ quyền cho ông
B tham gia tố tụng trong vụ án, quá trình tham gia tố tụng, ông B không có yêu
cầu gì liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông. Vì vậy, Tòa án không đưa
ông B vào tham gia tố tụng với tư cách người quyền nghĩa vụ liên quan
đúng pháp luật. Trường hợp ông B tranh chấp liên quan đến việc góp vốn
với H thì quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác theo đúng quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Ngày 04/9/2024 Toà án cấp sơ thẩm đã tiến hành xem xét, thẩm định tại
chỗ nhà số A đúng quy định tại Điều 101 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại thời điểm này nguyên đơn đã có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê
nhà và không tiếp tục tính tiền thuê nhà số A. Sau khi xem xét, thẩm định tại chỗ,
theo Đơn đề nghị niêm phong (bút lục số 81) của chủ sở hữu nhà số A là ông
Duy T, bà Nguyễn Thị Bích V hiện trạng căn nhà này cũng là chứng cứ để giải
quyết yêu cầu của các đương sự trong vụ án nên Toà án cấp sơ thẩm đã tiến hành
niêm phong căn nđể bảo vệ chứng cứ theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 110
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
vậy, Toà án cấp thẩm không vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự.
[2.2] Về phần nội dung của bản án sơ thẩm:
Hợp đồng ngày 21/4/2023 về việc thuê nhà số A giữa ông Duy T và bà
Thị Minh H được các bên tự nguyện giao kết, không bị lừa dối, không vi phạm
điều cấm của pháp luật nên có hiệu lực.
Về việc thực hiện hợp đồng: Ông T đã n giao nhà số A cho H đúng
thoả thuận trong hợp đồng, bà H đã s dng nhà và ci tạo để làm dch v spa.
Tuy nhiên, k t ngày phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng (ngày
21/6/2023) cho đến ngày ông T khi kin, bà H chưa thanh toán bt kì khon tin
thuê nhà nào cho ông T, trừ khoản tiền đặt cọc 10.000.000 đồng. Ông T đã nhiều
lần liên hệ trc tiếp và gửi văn bản đề ngh bà H thanh toán tin thuê nhà.
Tại phiên tphúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của bđơn cho rằng
nguyên nhân dẫn đến việc bị đơn chậm trả tiền thuê nhà do nguyên đơn giới
thiệu người thi công spa cho bị đơn, nhưng người thi công chậm tiến độ nên
nguyên đơn phần trách nhiệm. Tuy nhiên, trong phiên toà mở ngày 31/12/2025,
người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn trình bày nguyên đơn chỉ giới thiệu người
thi công, còn việc kết hợp đồng thi công giữa bị đơn và người thi công hoàn
toàn tự nguyện, nguyên đơn không can thiệp gì.
Như vậy, bà H người thuê nhà đã vi phạm Điều 2, mục 2 Điều 6 Hp
đồng thuê nhà hai bên đã ký kết ngày 21/4/2023. Vì vậy, Toà án cấp thẩm chấp
nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn ông Duy T, tuyên bố chấm dứt hợp
đồng thuê nđã ký ngày 21/4/2023, buc bà H phải trả lại nhà số 188 cho ông
Võ Duy T là phù hp với quy định tại điểm b khoản 2 Điu 132 Lut Nhà năm
2014: Bên cho thuê ncó quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng
thuê nhà và thu hồi nhà ở đang cho thuê khi thuộc một trong các trường hợp sau
đây: Bên thuê không trả tiền thuê nhà theo thỏa thuận từ 03 tháng trở lên
không có lý do chính đáng”.
[2.3] Đối vi yêu cu buc bà Lê Thị Minh H phi thanh toán tin thuê nhà
k t ngày 21/6/2023 đến ngày 04/9/2024 là 235.900.000 đồng: Sau khi hai bên
ký kết hợp đồng thuê nhà ngày 21/4/2023, ông T đã bàn giao nhà số A cho bà H
nhận, sử dụng và bà H đã sửa chữa, ci tạo để làm dch v spa. Ngoài số tiền đặt
cọc 10.000.000 đồng, bà H không thanh toán tiền thuê nhà cho ông T. Theo Hợp
đồng thì stiền thuê ncòn phải thanh toán là 244.267.000 đồng, ông T yêu cầu
bà H trả 235.900.000 đồng là thấp hơn số tiền phải thanh toán nên Toà án cấp sơ
thẩm chấp nhận phù hợp với quy đnh ti các Điều 472, 481 B lut Dân s
năm 2015.
[2.4] Đối vi yêu cu buc bà Lê Thị Minh H phi thanh toán tin lãi phát
sinh t s tin thuê nhà chm tr k t ngày 21/6/2023 đến ngày 10/9/2025, với
mức lãi suất 10%/năm 38.526.000 đồng. Xét thấy, từ ngày thuê nhà đến nay,
H chỉ trả 10.000.000 đồng tiền đặt cọc, ngoài ra H chưa trả tiền thuê nhà
cho ông T, n ông T yêu cầu tính lãi đối với khoản tiền thuê nhà chậm trả theo
mức lãi suất 10%/năm là phù hợp với quy định tại các Điều 357, 468 Bộ luật Dân
sự năm 2015. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu, buộc bà H phải trả
tiền lãi chậm thanh toán tiền thuê nhà cho ông T theo từng đợt thanh toán
căn cứ. Số tiền chậm trả 45.017.000 đồng, tuy nhiên ông T chỉ yêu cầu
38.526.000 đồng, nên Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận là đúng quy định pháp luật.
[3] Qua những phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo
của Thị Minh H, Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án thẩm
của Toà án nhân dân khu vực 1 – Quảng Ngãi.
[4] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội
đồng t xnên được chấp nhận; ý kiến của những người bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của bị đơn không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí:
Án phí thẩm các chi phí tố tụng, toà án cấp thẩm đã giải quyết
đúng quy định pháp luật.
Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm nên Lê Thị Minh H
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 148
Bộ luật Tố tụng dân s năm 2015 khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
V các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự;
khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Minh H.
2. Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số 33/2025/DS-ST ngày 13/9/2025
của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị Minh H phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp
theo biên lai số 0001620 ngày 17/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng
Ngãi.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- TAND KV1 - Quảng Ngãi;
- VKSND KV1 - Quảng Ngãi;
- THADS tỉnh Quảng Ngãi;
- Các đương sự; các luật sư;
- Lưu hồ sơ vụ án; Tòa Dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Mỹ Giang
Tải về
Bản án số 052/2026/DS-PT Bản án số 052/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 052/2026/DS-PT Bản án số 052/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất