Bản án số 43/2026/HNGĐ-ST ngày 15/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 43/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 43/2026/HNGĐ-ST ngày 15/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 43/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/07/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: TRẦN THỊ TỐ Q "LY HÔN" NGUYỄN VĂN K
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 43/2026/HNGĐ-ST Bản án số 43/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 43/2026/HNGĐ-ST Bản án số 43/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – TÂY NINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 43/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 15-7-2026
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đặng Thị Bích Loan
2. Ông Đặng Kim Qui.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4
- Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Huỳnh Đỗ Phúc Lợi – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 69/2026/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 3 năm
2026 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
38/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa
số 26/2026/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Tố Q, sinh năm 1989
Địa chỉ: Ấp N, xã T, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1981
Địa chỉ: Số G đường N, ấp A, xã B, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 25/02/2026, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn bà Trần Thị Tố Q trình bày tóm tắt như sau:
Do quen biết và được hai bên gia đình đồng ý nên vào năm 2010 bà và Nguyễn
Văn K đã xác lập quan hệ vợ chồng, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được
Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An nay là xã B, tỉnh Tây Ninh cấp giấy
chứng nhận kết hôn vào ngày 11/5/2010.
Cuộc sống chung của vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc. Tuy nhiên, đến năm
2015 thì phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được. Nguyên
nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn tiếng nói chung
2
nên thường xuyên xảy ra cự cãi. Do mâu thuẫn không thể hàn gắn, bà và ông K đã ly
thân từ năm 2016 cho đến nay. Sau đó, bà cũng tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn,
chung sống lại nhưng không được. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục
đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên bà yêu cầu Tòa
án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn K.
Về nuôi con chung: Quá trình chung sống, bà và ông K có 02 con chung tên
Nguyễn Trần T, sinh ngày 06/6/2008 và Nguyễn Trần K1, sinh ngày 02/8/2011, cháu
K1 hiện đang sống cùng với ông K. Sau khi ly hôn, bà đồng ý giao cháu K1 cho ông K
tiếp tục nuôi dưỡng, bà đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu K1 mỗi tháng 2.500.000 đồng,
thời gian cấp dưỡng từ ngày Tòa án xét xử sơ thẩm cho đến khi cháu K1 đủ 18 tuổi.
Từ khi ly thân cho đến nay, mỗi tháng bà vẫn cấp dưỡng cho con đầy đủ. Đối với
Nguyễn Trần T đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về chia tài sản: Bà không tranh chấp về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
Về nợ chung: Quá trình chung sống, bà và ông K không có nợ chung.
Bị đơn ông Nguyễn Văn K vắng mặt và không cung cấp bất cứ ý kiến, tài liệu,
chứng cứ nào có liên quan đến vụ án.
Cháu Nguyễn Trần K1 có nguyện vọng, nếu cha mẹ ly hôn, thì được tiếp tục
sống cùng với cha.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục thông báo về phiên họp
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự
nhưng ông Nguyễn Văn K đều vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Do đó,
Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Đi diện Viện kim sát nhân dân khu vực 4 – Tây Ninh tham gia phiên tòa phát
biu quan đim:
Về thủ tục: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự và những người tham gia tố
tụng trong vụ án chấp hành pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm
Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung: Về hôn nhân: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ
cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Tố Q và ông Nguyễn Văn K là hợp
pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, đã sống ly thân từ năm
2016 đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Trong quá trình Tòa án giải
quyết vụ án, ông K không tham gia tố tụng, không có ý kiến về việc đoàn tụ, chứng tỏ
mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn
nhân không đạt được. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị
Tố Q theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Về con chung: Đối với cháu
Nguyễn Trần T đã thành niên nên đề nghị không xem xét giải quyết. Đối với cháu
Nguyễn Trần K1 hiện đang sinh sống ổn định cùng ông Nguyễn Văn K và có nguyện
vọng tiếp tục sống với cha. Bà Q cũng thống nhất giao cháu K1 cho ông K trực tiếp
nuôi dưỡng và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.500.000 đồng kể từ ngày
Tòa án xét xử sơ thẩm cho đến khi cháu K1 đủ 18 tuổi. Việc giao cháu K1 cho ông K
3
trực tiếp trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với nguyện
vọng của con, bảo đảm quyền lợi mọi mặt của con chưa thành niên và phù hợp quy
định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Về tài sản chung và nợ
chung, nguyên đơn không yêu cầu giải quyết, bị đơn vắng mặt không có ý kiến nên đề
nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét
xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 107, 110, 116 và 117 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Tố Q.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bà Trần Thị Tố Q khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn
K, địa chỉ: xã B, tỉnh Tây Ninh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và
điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân khu
vực 4 - Tây Ninh thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Nguyễn Văn K đã được Tòa án
thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia vụ án nhưng đều vắng
mặt. Nguyên đơn bà Trần Thị Tố Q vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn
cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa
án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông K, bà Q.
[3] Về nội dung tranh chấp:
[3.1] Về tính hợp pháp của quan hệ hôn nhân: Bà Q và ông K chung sống với
nhau có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng
nhận kết hôn vào ngày 11/5/2010 (số 72, quyển số 01/2010), nên quan hệ hôn nhân của
bà Q và ông K là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014.
[3.2] Xét yêu cầu ly hôn của bà Q, thấy rằng: Theo bà Q, sau một thời gian chung
sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn
tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã; do mâu thuẫn không thể hàn gắn nên bà
và ông K đã ly thân từ năm 2016 đến nay. Sau đó, hai bên cũng tạo điều kiện để vợ
chồng hàn gắn, chung sống lại nhưng không được. Hơn nữa, sau khi Tòa án thụ lý vụ
án đã tiến hành tống đạt cho ông K các văn bản tố tụng để tham gia vụ án. Tuy nhiên,
ông K đều vắng mặt và không gửi cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của mình về yêu cầu
khởi kiện của bà Q. Từ đó cho thấy, ông K cũng không có thiện chí để hàn gắn tình
cảm vợ chồng. Nhận thấy, hôn nhân của bà Q và ông K đã không còn hạnh phúc, phát
sinh mâu thuẫn trong nhiều năm, hiện các bên không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ
lẫn nhau, một trong hai bên đã không còn thiết tha vun đắp cuộc sống chung của vợ
chồng, điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà Q và ông K đã đến mức trầm
trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó,
căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly
hôn của bà Q.
[3.3] Về nuôi con chung: Bà Q và ông K có hai con chung là Nguyễn Trần T,
sinh ngày 06/6/2008 và Nguyễn Trần K1, sinh ngày 02/8/2011. Đối với cháu Nguyễn
Trần T đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên Hội đồng xét xử không
xem xét giải quyết. Đối với cháu Nguyễn Trần K1, hiện đang sinh sống ổn định cùng
ông Nguyễn Văn K. Quá trình giải quyết vụ án, bà Q thống nhất giao cháu K1 cho ông
4
K tiếp tục nuôi dưỡng. Đồng thời, Tòa án đã ghi nhận nguyện vọng của cháu K1, cháu
có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng cha nếu cha mẹ ly hôn. Do đó, để đảm bảo sự
phát triển ổn định của con chung nên giao cháu Nguyễn Trần K1 cho ông K trực tiếp
trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với các Điều 81, 82 và 83
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3.4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Trần Thị Tố Q tự nguyện cấp dưỡng nuôi con
chung mỗi tháng 2.500.000 đồng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày Tòa án xét xử sơ
thẩm cho đến khi cháu K1 đủ 18 tuổi. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông K đã được
Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, không có ý kiến đối với yêu cầu cấp dưỡng.
Theo khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì mức cấp dưỡng không thấp hơn một phần hai
mức lương tối thiểu vùng tại nơi người có nghĩa vụ cấp dưỡng đang cư trú đối với mỗi
người con. Bà Q cư trú tại xã T, tỉnh Vĩnh Long nên mức lương tối thiểu vùng
3.700.000 đồng/tháng theo Nghị định số 293/2025/NĐ-CP ngày 10/11/2025 của Chính
phủ. Do đó, bà Q tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.500.000 đồng kể
từ ngày Tòa án xét xử sơ thẩm cho đến khi con chung đủ 18 tuổi là cao hơn mức cấp
dưỡng tối thiểu luật quy định, phù hợp với quy định tại các Điều 107, 110, 116, 117
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP
ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nên Hội đồng xét
xử chấp nhận.
[3.5] Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà Q không tranh chấp về tài sản chung
và xác định vợ chồng không có nợ chung. Ông K vắng mặt và không có văn bản nêu ý
kiến về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy
định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí sơ thẩm: Bà Trần Thị Tố Q phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm và
án phí cấp dưỡng nuôi con theo Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, điểm a
khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân
sự; Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 107, 110, 116 và 117 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014; Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao; Điều 26, điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Tố Q về
việc “Tranh chấp ly hôn” với bị đơn ông Nguyễn Văn K.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị Tố Q và ông Nguyễn Văn K.
5
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Trần K1, sinh ngày 02/8/2011 cho ông
Nguyễn Văn K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà Trần Thị
Tố Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 2.500.000 đồng, thời gian
cấp dưỡng từ tháng 7/2026 cho đến khi cháu Nguyễn Trần K1 đủ 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con
chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, Toà án có thể ra quyết
định thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng khi có yêu cầu của một hoặc hai bên.
Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để
cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con
của người đó.
3. Về án phí: Bà Trần Thị Tố Q phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án
phí hôn nhân sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi
con, tổng cộng là 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ
300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005277
ngày 18/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Bà Trần Thị Tố Q còn phải nộp
tiếp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống
đạt hợp lệ.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi
hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu
thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tây Ninh;
- VKSND khu vực 4 – Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 4 - Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Đương sự;
- UBND xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Thị Thúy Hồng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 43/2026/HNGĐ-ST Bản án số 43/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 43/2026/HNGĐ-ST Bản án số 43/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất