Bản án số 497/2026/DS-PT ngày 24/07/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 497/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 497/2026/DS-PT ngày 24/07/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm...
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 497/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn Th
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 497/2026/DS-PT Bản án số 497/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 497/2026/DS-PT Bản án số 497/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 497/2026/DS-PT
Ngày 24 - 7 - 2026
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn A Đam
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hiền
Ông Lê Phan Công Trí
- Thư phiên tòa: Ông Ngô Thế Bắc Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Từ
Thanh Thùy - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 26 tháng 6 ngày 24 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án
nhân dân tỉnh Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số:
181/2025/TLPT-DS ngày 13 tháng 6 năm 2025 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng
đất và hợp đồng chuyển cầm cố quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 123/2025/DS-ST ngày 01 tháng 4 năm 2025 của
Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời (Nay Tòa án nhân n Khu vực 3
Mau) bị kháng cáo.
- Nguyên đơn: Ông Võ Văn T, sinh năm 1957; CCCD ************ địa chỉ:
Khóm A, xã S, tỉnh Cà Mau (có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Giang Trung
K, là Luật sư của Văn phòng luật sư Giang Trung K thuộc Đoàn luật sư tỉnh C.
Địa chỉ: Ấp A, xã T, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn: Ông Võ Văn Ú, sinh năm 1962; CCCD ************; địa chỉ: Ấp
C, xã K, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Võ Văn Ú: Bà Phạm Thị C, sinh
năm 1968; địa chỉ: Ấp C, xã K, tỉnh Cà Mau (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông Văn Ú: Ông Hồ P,
sinh năm 1980; Địa chỉ: Đường N, khóm D, phường A, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
1. UBND huyện T, tỉnh Mau (người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng:
UBND xã K, tỉnh Cà Mau) (không triệu tập);
Địa chỉ: Ấp T, xã K, tỉnh Cà Mau.
2. Bà Phạm Thị C, sinh năm 1968; địa chỉ: Ấp C, xã K, tỉnh Cà Mau (có đơn
xin xét xử vắng mặt);
3. Võ Phương A, sinh năm 1987; địa chỉ: Ấp C, K, tỉnh Cà Mau (có đơn
xin xét xử vắng mặt);
4. Ông Hoài Đ, sinh năm 2001; địa chỉ: p C, K, tỉnh Mau (vắng
mặt);
5. Thị H, sinh năm 1983; địa chỉ: Ấp C, xã K, tỉnh Cà Mau (có yêu cầu
xét xử vắng mặt);
6. Ông Lê Tấn Đ1, sinh năm 1976; địa chỉ: Ấp C, xã K, tỉnh Cà Mau (có yêu
cầu xét xử vắng mặt);
7. Nguyễn Hồng X, sinh năm 1981; địa chỉ: Khóm B, S, tỉnh Mau;
chỗ ở: Ấp C, xã K, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
Người kháng cáo: Ông Văn Ú bị đơn; Phạm Thị C, Phương
A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nnguyên đơn ông Văn T người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của
ông T trình bày:
Phần đất tranh chấp nguồn gốc từ mẹ của ông Trần Thị M nhận chuyển
nhượng của Trần Thị S năm 1980, đất toạ lạc tại ấp C, K, huyện T, tỉnh
Mau. Thời điểm này ông ông Ú còn sống chung với M. Sau khi chuyển
nhượng, M cho ông phần đất vườn ruộng diện ch thể hiện tại bản vẽ
hiện trạng ngày 27 tháng 12 năm 2023 7.524,2m
2
gồm 1.299,2m
2
đất vườn
6.225m
2
đất ruộng; sau khi được cho đất, ông trực tiếp canh tác được một thời gian
thì do điều kiện đi làm ăn xa nên ông không tiếp tục canh tác mà để lại cho em của
ông là ông Võ Văn Ú canh tác. Quá trình canh tác, ông Ú đăng ký kê khai cấp giấy
chứng nhận toàn bộ phần diện tích đất của mẹ ông được cấp giấy chứng nhận
năm 1995 đứng tên ông Võ Văn Ú. Do ông Ú em ông và trực tiếp chăm sóc mẹ
ông nên việc ông để cho ông Ú canh tác đất thoả thuận giữa anh em trong gia đình
nên không lập văn bản về việc mượn đất. Hiện nay, do nhu cầu canh tác đất
mà ông được tặng cho nên ông yêu cầu ông Ú trả lại phần đất nêu trên thì ông Ú trả
lời đồng ý nhưng cố tình không thực hiện đến nay. Do đó, ông yêu cầu Toà án giải
quyết buộc ông Văn Ú cùng vợ là Phạm Thị C trách nhiệm giao trả lại phần
đất diện tích theo đo đạt thực tế 7.524,2m
2
gồm 1.299,2m
2
đất vườn và 6.225m
2
đất ruộng thuộc thửa đất s233, tờ bản đồ số 16 toạ lạc tại ấp C, K, huyện T, tỉnh
Mau. Trong quá trình Tòa án giải quyết tranh chấp, vợ chồng ông Ú, C cầm
3
cố quyền sử dụng thửa đất này cho bà Nguyễn Hồng X. Ông yêu cầu tuyên bố hợp
đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Ú, bà C và bà X hiệu đối với
phần đất ông yêu cầu công nhận quyền sử dụng.
Do đó, đề nghị Toà án công nhận cho ông T được quyền sử dụng đối với phần
đất tranh chấp theo đo đạt thực tế.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Hồng X trình bày: Năm
2024, bà và vợ chồng ông Võ Văn Ú, bà Phạm Thị C có thoả thuận về việc bà nhận
cố đất của vchồng ông Ú, C toàn bộ diện tích theo giấy chứng nhận vợ
chồng ông Ú, C được cấp. Việc cố đất được các bên lập thành biên bản viết tay
chữ nhận các bên nhưng không xác nhận chính quyền địa phương. Thời
hạn cố đất là 10 năm. Hiện bà đang canh tác trên toàn bộ phần đất trên có bao gồm
phần đất tranh chấp nguyên đơn ông Văn T yêu cầu. Bà xác định, việc cố đất
sự tự nguyện thoả thuận giữa vợ chồng ông Ú, bà C nên trường hợp chấp
nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn bà đồng ý giao đất cho nguyên đơn theo quyết
định của Tòa án và bà sẽ thoả thuận với vợ chồng ông Ú, bà C về việc xem xét hiệu
lực của hợp đồng cầm cố cũng như thiệt hại trong việc không canh tác được đất đối
với phần tranh chấp nêu trên. Trường hợp phát sinh tranh chấp bà sẽ khởi kiện vợ
chồng ông Ú, bà C thành một vụ kiện khác.
Tại đơn yêu cầu ngày 10 tháng 4 năm 2024 ông Tấn Đ1, Thị H thống
nhất trình bày: Ông từng nhận cố đất của ông Ú toàn bộ phần đất ruộng
ông Ú được cấp giấy chứng nhận; tuy nhiên đến thời điểm ngày 10 tháng 4 năm
2024 ông bà và ông Ú đã chấm dứt việc cầm cố đất, ông bà đã giao đất lại cho ông
Ú và ông Ú đã giao trả lại đầy đủ vàng cố đất cho ông bà, ông bà không có yêu cầu
gì trong vụ án, yêu cầu được xét xử vắng mặt.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã triệu tập
hợp lệ cũng như tống đạt các văn bản tố tụng nhưng bị đơn Văn Ú, người
quyền lợi, nghĩa vliên quan bà Phạm Thị C, bà Võ Phương A, ôngVõ H nhưng đều
vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu
của nguyên đơn cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án về việc giải
quyết vụ án.
Tại bản án dân sự thẩm số 123/2025/DS-ST ngày 01 tháng 4 năm 2025 của
Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời (Nay Tòa án nhân dân Khu vực 3
Mau) quyết định:
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn T;
1. Công nhận cho ông Võ Văn T được quyền sử dụng một phần thửa đất 839,
840, tờ bản đồ số 16 tọa lạc tại ấp C, K, huyện T, tỉnh Mau, diện tích đất
7.524,2m
2
gồm 1.299,2m
2
đất vườn và 6.225m
2
đất ruộng; có tứ cận:
Phía Bắc giáp phần đất còn lại ông Võ Văn Ú
Phía Nam giáp đất ông Đinh Văn T1.
Phía Tây giáp đường lộ bê tông.
4
Phía Đông giáp thửa còn lại ông Võ Văn Ú.
Tứ cận, hiện trạng đất tại thửa số 2, 9, 8 tương ứng với các vị trí M4, M5, M6,
M7, M8, M9, M10, M11, M12, M21, M20, M19, trên sơ đồ bản vẽ kèm theo.
2. Buộc vợ chồng ông Võ Văn Ú, bà Phạm Thị CNguyễn Hồng X giao
cho ông Võ Văn T phần đất nêu trên.
3. Tuyên bố hiệu một phần hợp đồng cầm cố quyền sdụng đất giữa vợ
chồng ông Văn Ú, Phạm Thị C Nguyễn Hồng X đối với phần đất
diện tích 7.524,2m
2
được công nhận cho ông Võ Văn T.
Ngoài ra án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án, án phí
và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 26/4/2025, bị đơn Võ Văn Ú, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Phạm Thị C, chị Võ Phương A kháng cáo với nội dung: Yêu cầu sửa bản án sơ thẩm
theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn T.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn Văn Ú trình bày: Bị
đơn Văn Ú ginguyên nội dung yêu cầu kháng cáo; người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan Phạm Thị C, Phương A đơn xin xét xử vắng mặt, xin bảo lưu ý
kiến trình bày là giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, bởi lẽ: Nguyên đơn ông Võ Văn T
trình bày ông Ú có viết “Tờ trả đất thổ cư” ngày 02 tháng 12 năm 2022 và “giấy trả
đất gắn liền với đất ở” ngày 20 tháng 7 năm 2022, T2 ấp xác nhận không
đúng sự thật. Thể hiện tại giấy xác nhận ngày 23/3/2026, của ông Nguyễn Minh D
Trưởng ấp C, K, tỉnh Mau cho rằng biên bản lấy lời khai ngày 31/3/2025
không schứng kiến của bà Nguyễn Thị P1 nhưng giấy xác nhận lại có; Các biên
bản trả đất ông Ú không ký trước mặt ông D, viết xong rồi ông D mới xác nhận
vào biên bản để chứng kiến. Đối với “Giấy trả đất gắn liền với đất vào ngày
20/7/2022” không thật, do phần “phụ trú về nền nhà thể hiện ghi ngày
20/7/2002” và có xác nhận của ông D, không phải cùng ngày là ngày 20/7/2022 như
nguyên đơn trình bày. Ngoài ra, các giấy trả đất trên hiện không xác định được ai là
người viết. Nguồn gốc đất không phải do mẹ là bà Trần Thị M mua lại của bà Trần
Thị S đất của vợ chồng ông Ú, C khai phá, hiện nay đã được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Ú, bà C nên đây là tài sản chung của ông
Ú, bà C; Trường hợp ông Ú có làm giấy trả đất cho ông T thì cũng không có giá trị
pháp lý. Do đó, đề nghị hoãn phiên toà để giám định chữ viết và trích lục hồ sơ cấp
giấy lần đầu cho ông Ú để xác định nguồn gốc đất.
Nguyên đơn ông Võ Văn T không thống nhất với nội dung và các căn cứ kháng
cáo bị đơn ông Văn Ú và những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình
bày. Bởi lẽ, phần đất tranh chấp ông T được mẹ ruột bà Trần Thị M tặng cho, việc
tặng cho không lập thành văn bản nhưng được ông Ú thừa nhận đồng ý giao trả
lại đất năm 2022, ông Ú cùng tên vào các tờ trả đất ông Nguyễn Minh D
Trưởng ấp ký chứng kiến xác nhận. Đồng thời việc mẹ ông Trần Thị M cho
5
đất có xác nhận của các chị ông là bà Võ Thị T3 và bà Võ Thị Ánh . Đối với “Giấy
trả đất gắn liền với đất vào ngày 20/7/2022”, phần phụ trú về nền nhà ghi ngày
20/7/2002 và xác nhận của ông D do người ghi nhầm năm 2002, thực tế giấy
viết trên cùng thời điểm 20/7/2022, cùng trang giấy xác nhận của trưởng ấp;
Đối với yêu cầu hoãn phiên toà của bị đơn thì ông không thống nhất, do quá trình
giải quyết vụ án ngừng phiên toà để cung cấp chứng cứ nhưng bị đơn không cung
cấp; Về nguồn gốc đất khi hoà giải, giải quyết tranh chấp bị đơn thừa nhận nguồn
gốc đất do mẹ ruột bà Trần Thị M mua lại cho lại các con, ông Ú được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1995, đến năm 2024 ông Ú mới khai
đăng ký cấp lại đứng tên ông Ú và bà C, do đó bị đơn cho rằng nguồn gốc đất do vợ
chồng ông Ú, bà C khai phá, là tài sản chung của ông Ú, bà C là không phù hợp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu ý kiến:
Về thủ tục ttụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định
của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ
của các đương sự được pháp luật quy định.
Về nội dung: Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp
nhận kháng cáo của ông Ú, bà C, bà A; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm;
trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của người tham gia tố tụng,
của Kiểm sát viên, HĐXX nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của ông Văn Ú, Phạm Thị C, Phương A trong
thời hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc
thẩm.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, người quyền lợi nghĩa, vụ liên quan bà Phạm
Thị C, bà Võ Phương A, ông Võ Hoài Đ, bà Thị H, ông Lê Tấn Đ1, bà Nguyễn
Hồng X vắng mặt, dù đã được triệu tập xét xử hợp lệ. Do đó, áp dụng khoản 2 Điều
227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự nêu
trên.
[3] Xét nội dung, căn cứ kháng cáo của ông Võ Văn Ú, bà Phạm Thị C, bà
Phương A, qua xem xét các tài liệu, chứng cứ tại hồ vụ án, lời trình bày các
đương sự tại phiên toà, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về nguồn gốc đất tranh chấp: Các thửa đất số 268, 269 cùng tờ bản đồ số 14
tọa lạc tại ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nguồn gốc của mẹ ông T, ông Ú
Trần Thị M nhận chuyển nhượng của bà Trần Thị S khoảng năm 1980. Tại phiên
toà, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn không thừa nhận nguồn gốc
đất tranh chấp của mẹ ruột Trần Thị M nhận chuyển nhượng để lại. Tuy
nhiên, qua Biên bản hòa giải cơ sở ngày 06/7/2023 ông Võ Văn Ú trình bày và thừa
6
nhận nguồn gốc đất của mẹ ruột là bà Trần Thị M mua của bà Trần Thị S để lại cho
ông; ngoài ra, các anh, chị em của ông T, ông Ú như Thị T3, Thị Á,
Thị L, Văn B điều xác nhận trình bày nguồn gốc đất do cụ Trần Thị M nhận
chuyển nhượng của người khác để lại. Do đó, căn cứ xác định nguồn gốc đất tranh
chấp của cụ Trần Thị M nhận chuyển nhượng để lại, hiện ông Ú đứng tên quyền sử
dụng đất, hiện phần đất ông Ú đã cố cho Nguyễn Hồng X. Theo bản vẽ hiện trạng
thửa đất thì các thửa đất được gộp lại thành thửa 233 tbản đsố 16. Năm 2024,
khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Văn Ú, Phạm
Thị C thì các thửa đất đã được điều chỉnh tương ứng thửa số 839, 840, tờ bản đồ số
16, tọa lạc tại ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
[4] Theo các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ thể hiện, mặc dù phần đất hiện
đã được cấp giấy chứng nhận cho cả hai vợ chồng ông Ú, C vào năm 2024, nhưng
tại thời điểm năm 2022 khi viết giấy trả đất thì toàn bộ phần đất do ông Ú người
đứng tên trên giấy chứng nhận nên ông có đầy đủ các quyền của người sử dụng đất
trong đó quyền định đoạt. Do đó, việc bị đơn cho rằng đây là tài sản chung của vợ
chồng ông Ú, bà C không phù hợp.
[5] Xét về các giấy trả đất, thấy rằng: Quá trình xét xử phúc thẩm bị đơn ông
Võ Văn Ú cho rằng các giấy trả đất vào ngày 20/7/2022 và 02/12/2022 là không có
thật, ông Ú không tên và yêu cầu giám định chữ ký. Tại Kết luận giám định
số 229/KL-KTHS, ngày 29/5/2026 của Phân viện Kỹ thuật hình sự tại thành phố Hồ
Chí Minh kết luận: không đủ cơ sở kết luận chữ ký đứng tên Võ Văn Ú và mẫu gởi
giám định do cùng một người viết ra. Tuy nhiên, căn cứ vào xác nhận của ông
Nguyễn Minh D trong các tờ cho đất bản xác nhận ngày 23/6/2026 ông D xác
nhận có hỏi ông Ú có ký vào tờ cho đất hay không, ông Ú trả lời là có nên ông D
để chứng kiến, đối với “Giấy trả đất thổ cư” ngày 02/12/2022 thì ông Ú đọc cho ông
T viết tại nhà ông D và ông D có ký chứng kiến vào giấy trả đất và tại biên bản xác
minh ngày 16/7/2026 của Tán nhân dân tỉnh Mau, ông D trình bày vào năm
2022, ông T trực tiếp chở ông Ú vào nông 02 lần để cho ông chứng kiến và ký
tên vào giấy trả đất, lần đầu vào tháng 7 năm 2022, ông T chở ông Ú đến nhà ông
để xác nhận giấy trả đất, khi ông chứng kiến thì ông Ú và ông T đã ký tên trong
Giấy trả đất đã viết sẳn, ông D hỏi ông Ú đúng nội dung tên trong
giấy hay không? thì ông Ú cho rằng đúng nội dung đã tên nên ông D chứng
kiến xác nhận; lần thứ hai ông T chở ông Ú vào nhà ông là tháng 12 năm 2022, ông
T và ông Ú viết giấy trả đất tại nhà ông có ông trực tiếp chứng kiến và ký tên.
Từ đó cho thấy, ông T, ông Ú có đến nhà ông D là T2 ấp nhờ chứng kiến ký
xác nhận vào giấy trả đất là thực tế có diễn ra, thhiện ý chí thừa nhận mẹ ông là
M cho đất ông T và ông đồng ý trả lại cho ông T, nên đủ căn cứ để xác định
việc ông T được nhận tặng cho phần đất nêu trên là đúng với thực tế, nên cần công
nhận cho ông T được quyền sử dụng 7.524,2m
2
gồm 1.299,2m
2
đất vườn 6.225m
2
đất ruộng thuộc các thửa đất số 839, 840, tbản đồ số 16 tọa lạc tại ấp C, xã K,
huyện T, tỉnh Cà Mau theo quy định pháp luật.
7
[6] Tại phiên toà, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông
Văn Ú yêu cầu hoãn phiên toà để giám định chữ viết trong các tờ trả đất và trích lục
hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để xác định nguồn gốc đất. Hội đồng
xét xử xét thấy, qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong vụ án, có căn cứ chứng
minh ông Ú ông T trực tiếp đến nhà trưởng ấp C, K, tỉnh Mau để nhờ
chứng kiến giấy trả đất là thực tế có diễn ra, có xác nhận của ông Nguyễn Minh
D tại giấy xác nhận ngày 23/6/2026, Biên bản xác minh ngày 31/3/2025 của Toà án
nhân dân huyện Trần Văn Thời (củ) nay là Toà án nhân dân Khu vực 3 – Mau
Biên bản xác minh ngày 16/7/2026 của Toà án nhân dân tỉnh Mau. Việc bị đơn
yêu cầu ngừng phiên toà để sao lục hồ đất đai để xác định nguồn gốc đất do vợ
chồng ông Ú, bà C khai phá, xét lời trình bày của ông Ú tại biên bản hoà giải cơ sở
ngày 06/7/2023 lời trình bày các anh, chị em ông Ú, Giấy trả đất gắn liền đất
ngày 20/7/2022 đều thể hiện nguồn gốc đất do cụ Trần Thị M sang nhượng để lại.
Do đó, bị đơn yêu cầu hoãn phiên toà để giám định chữ viết, trích lục hồ sơ đất đai
là không cần thiết, không làm thay đổi bản chất của vụ án.
[7] Với những phân tích trên, xét thấy bản án thẩm nhận định quyết định
phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, không chấp nhận kháng cáo
của bị đơn ông Võ n Ú, những người có quền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị
C, Phương A, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm
sát tại phiên tòa.
[8] Xét về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận, nên
ông Võ Văn Ú, bà Phạm Thị C phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng số tiền 27.189.000
(hai mươi bảy triệu một trăm tám mươi chín nghìn) đồng chi phí xem xét, thẩm định
tại chỗ, định giá tài sản và trích đo hiện trạng thửa đất.
- Chi phí giám định chữ viết 4.822.000 đồng, do ông Văn Ú yêu cầu
nhưng không giám định được nên ông Ú tự chịu. Đã qua ông Ú đã nộp đủ.
[9] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Võ Văn Ú được miễn do là người
cao tuổi. Bà Phạm Thị C, bà Võ Phương A phải chịu theo quy định của pháp luật.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Văn Ú được miễn do người cao tuổi.
Phạm Thị C, Võ Phương A phải chịu theo quy định của pháp luật.
[10] Các quyết định khác của án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
8
Không chấp nhận kháng cáo của ông Văn Ú, Phạm Thị C,
Phương A; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 123/2025/DS-ST ngày 01 tháng 4
năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời (Nay Tòa án nhân dân
Khu vực 3 – Cà Mau).
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn T.
1. Công nhận cho ông Võ Văn T được quyền sử dụng một phần thửa đất 839,
840, tờ bản đồ số 16 tọa lạc tại ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Mau (Nay là ấp C,
K, tỉnh Cà Mau), diện tích đất 7.524,2m
2
gồm 1.299,2m
2
đất vườn 6.225m
2
đất
ruộng; có tứ cận:
Phía Bắc giáp phần đất còn lại ông Võ Văn Ú
Phía Nam giáp đất ông Đinh Văn T1.
Phía Tây giáp đường lộ bê tông.
Phía Đông giáp thửa còn lại ông Võ Văn Ú.
Tứ cận, hiện trạng đất tại thửa số 2, 9, 8 tương ứng với các vị trí M4, M5, M6,
M7, M8, M9, M10, M11, M12, M21, M20, M19, trên sơ đồ bản vẽ kèm theo.
2. Buộc vợ chồng ông Võ Văn Ú, bà Phạm Thị CNguyễn Hồng X giao
cho ông Võ Văn T phần đất nêu trên.
3. Tuyên bố hiệu một phần hợp đồng cầm cố quyền sdụng đất giữa vợ
chồng ông Văn Ú, Phạm Thị C Nguyễn Hồng X đối với phần đất
diện tích 7.524,2m
2
được công nhận cho ông Võ Văn T.
4. Về chi phí tố tụng: Buộc vợ chồng ông Văn Ú, Phạm Thị C phải
thanh toán lại cho ông Văn T số tiền 27.189.000 (hai mươi bảy triệu một trăm
tám mươi chín nghìn) đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản
trích đo hiện trạng thửa đất.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Chi phí giám định chữ viết là 4.822.000 đồng, ông Võ Văn Ú yêu cầu nhưng
không giám định được nên ông Ú tự chịu. Đã qua ông Ú đã nộp đủ.
5. Về án phí: Vợ chồng ông Võ Văn Ú, bà Phạm Thị C phải chịu 300.000 (ba
trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Văn Ú được miễn do là người cao tuổi; Bà
Phạm Thị C, Phương A phải chịu mỗi người 300.000 đồng. Đã qua dự nộp
9
tạm ứng án phí phúc thẩm tại các biên lai 0005573; 0005574 ngày 06/5/2025 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được chuyển thu.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân
sự, người phải thi hành án dân sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu
thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại
các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực
hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân Khu Vực 3 - Cà Mau;
- Phòng THADS Khu vực 3 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn A Đam
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 497/2026/DS-PT Bản án số 497/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 497/2026/DS-PT Bản án số 497/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất