Bản án số 388/2025/DS-PT ngày 14/12/2025 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp đất đai
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 388/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 388/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 388/2025/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 388/2025/DS-PT ngày 14/12/2025 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp đất đai |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp đất đai |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đắk Lắk |
| Số hiệu: | 388/2025/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 14/12/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ông Nguyễn Văn G yêu cầu ông Pahn M và ông Phan T trả đất |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 388/2025/DS-PT
Ngày 10/12/2025
V/v: “Yêu cầu công nhận quyền sử
dụng đất, tháo dỡ cây trồng trả lại
quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Huyền
Các Thẩm phán: Ông Phạm Cao Gia và bà Lưu Thị Thu Hường
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Linh Chi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông
Phan Văn Công - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở TAND tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm
công khai vụ án dân sự thụ lý số 293/2025/TLPT-DS ngày 06/10/2025 về việc
“Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất, tháo dỡ cây trồng trả lại quyền sử dụng
đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2025/DS-ST ngày 16/6/2025 của Tòa án
nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 14 –
Đắk Lắk) bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số
399/2025/QĐ-PT ngày 11/11/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1958; địa chỉ: thôn P, xã A,
huyện T, tỉnh Phú Yên (Nay là thôn P, xã T, tỉnh Đắk Lắk), có mặt.
- Bị đơn: Ông Phan M, sinh năm 1954 và ông Phan T, sinh năm 1963; (ông
M có mặt, ông T vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phan T: Ông Phan Văn T1, có mặt.
Cùng địa chỉ: thôn G, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên (Nay là thôn G, xã T,
tỉnh Đắk Lắk)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
2
+ Bà Phan Thị L, sinh năm 1961; địa chỉ: thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú
Yên (Nay là thôn P, xã T, tỉnh Đắk Lắk), có mặt.
+ Bà Phan Thị L1, sinh năm 1967; địa chỉ: thôn G, xã A, huyện T, tỉnh Phú
Yên (Nay là thôn G, xã T, tỉnh Đắk Lắk), có mặt.
+ Bà Phan Thị B, sinh năm 1969; địa chỉ: Đ, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa
(Nay là xã V, tỉnh Khánh Hòa), có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện nguyên đơn ông Nguyễn Văn G trình bày:
Cha mẹ vợ của ông là ông Phan G1 và bà Nguyễn Thị L2 được ông bà để lại
03 thửa đất rẫy. Thửa thứ nhất: Diện tích 3.407m², có vị trí phía Đông giáp đất
ông Nguyễn L3; phía Tây giáp đất ông Trần H; phía Nam giáp đất ông Nguyễn
Văn G; phía Bắc giáp đất ông Nguyễn Văn T2. Thửa thứ hai: Diện tích 798.9m²,
vị trí phía Đông giáp đất ông Nguyễn L3; phía Tây giáp đất ông Trần H; phía Nam
giáp đất ông Trần H1; phía Bắc giáp đất ông Nguyễn Văn G. Thửa thứ ba: Diện
tích 863m², vị trí phía Đông giáp đất ông Nguyễn L3; phía Tây giáp đất ông Trần
H; phía Nam và phía Bắc giáp đất Nguyễn Văn G, tất cả đều tọa lạc tại thôn G, xã
A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Năm 1991, cha mẹ vợ chuyển nhượng 03 thửa đất trên
cho vợ chồng ông với giá trị 01 cây vàng. Có lập giấy chuyền nhượng đất viết tay
với nội dung: “Tôi tên Phan G1, 60 tuổi vợ Nguyễn Thị L2, 61 tuổi tôi có sở rẫy
động gành dưa là 3 miếng cho con tôi, tôi giao toàn bộ số tờ sở rẫy là số vàng 1
cây khi nào vợ chồng tôi có khả năng chuộc lại tính theo quy cây vàng ra thành
tiền tỉnh theo lãi suất ngân hàng lúc chộc sở rẫy là lúc đó tôi mới lấy lại. Tôi thục
cho con tôi Nguyễn Văn G 33 tuổi, vợ Phan Thị L, 30 tuổi...”. Ông đã giao cho
cha mẹ vợ 01 cây vàng, cha mẹ vợ đã giao toàn bộ giấy tờ liên quan đến 03 thửa
đất trên cho vợ chồng ông và giao đất cho vợ chồng ông quản lý, sử dụng từ ngày
10/02/1991 đến nay. Cha Phan G1 chết năm 1998, mẹ Nguyễn Thị L2 chết năm
2016, nhưng không chuộc lại 03 thửa đất trên là đã giao đứt cho vợ chồng ông
quản lý, sử dụng.
Ngày 23/10/2021 (âm lịch) các ông Phan M, Phan T là con của ông Phan G1,
bà Nguyễn Thị L2 tự ý đem keo đến trồng tại 03 thửa đất mà cha mẹ vợ đã chuyển
nhượng cho vợ chồng ông. Nay, ông khởi kiện yêu cầu công nhận 03 thửa đất trên
cho ông và buộc bị đơn tháo dỡ cây trồng trên đất trả lại đất cho ông quản lý. sử
dụng.
- Bị đơn ông Phan M, Phan T thống nhất trình bày:
3
Cha mẹ của các ông là ông Phan G1 (chết 1998) bà Nguyễn Thị L2 (chết
năm 2015). Cha mẹ có 05 người con chung gồm: Phan Mượng, Phan T, Phan Thị
L, Phan Thị L1 và Phan Thị B. Nguồn gốc 03 thửa đất mà hiện nay ông G tranh
chấp là của ông nội của các ông để lại cho cha mẹ. Sau khi cha mẹ chết anh chị
em không ai quản lý nên hai ông quản lý và sử dụng. Từ năm 1998 cho bà Nguyễn
Thị N và Nguyễn T3 thuê đến nay, thuê 01 năm/100kg lúa. Đến năm 2021 các
ông mới bắt đầu quản lý, sử dụng trồng keo và bạch đàn. 03 thửa đất trên chưa
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay, các ông không đồng ý với yêu
cầu khởi kiện của ông G vì cha mẹ không có chuyển nhượng cho vợ chồng ông
G, 03 thửa đất này là di sản của cha mẹ để lại.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị B, Phan Thị L1
thống nhất trình bày:
Cha mẹ của các bà là ông Phan G1 (chết 1998) bà Nguyễn Thị L2 (chết năm
2015) có 05 người con chung gồm Phan M, P, Phan Thị L, Phan Thị L1 và Phan
Thị B. Nguồn gốc đất hiện nay anh G tranh chấp với ông Phan T, Phan M là của
ông nội để lại cho cha mẹ. Ba thửa đất trên thời gian cha mẹ còn sống đã chuyển
nhượng cho anh Nguyễn Văn G với giá 01 cây vàng, dùng số tiền trên để chữa
bệnh cho mẹ. Việc chuyển nhượng trên gia đình ai cũng biết và thống nhất là bán
để có tiền chữa bệnh cho mẹ (bà L2). Sau khi cha mẹ chết thì vợ chồng anh G có
đến hỏi bà B, bà L1, anh T, anh M là có ai muốn nhận lại đất mà cha mẹ đã bán
cho vợ chồng anh G thì nhận lại và trả lại 01 cây vàng cho vợ chồng anh G nhưng
bà B, bà L1 anh T, anh M đều không đồng ý nhận lại đất. Do đó, 03 thửa đất trên
thuộc quyền quản lý sử dụng của anh G, chị L.
- Bà Phan Thị L trình bày: Thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn
ông Nguyễn Văn G.
Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2025/DS-ST ngày 16/6/2025 của Tòa án nhân
dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 14 – Đắk Lắk)
đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 116, 117, 119 Bộ luật dân sự; Điều 166 Luật đất đai;
các Điều 147, 157, 165 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết
số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
4
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu
cầu công nhận quyền sử dụng đất và buộc bị đơn tháo dỡ cây trồng trả lại quyền
sử dụng đất, tại các thửa:
Thửa 140, tờ bản đồ số 12, diện tích 3.515,6m
2
, có vị trí: Đông giáp lối đi
bằng đất đến đất ông T4; Tây giáp ông Trần Tấn B1; Nam giáp đất ông Lê L4
thửa 157, đất bà Lê Thị N1 thửa 163 và giáp thửa 164 đất ông Phan G1. Bắc giáp
đất ông Nguyễn Hữu T5.
Thửa 164 tờ bản đồ số 12 diện tích đo đạc thực tế 850,3m
2
có vị trí: Đông
giáp đất ông Trần Tấn B2 thửa 82; Tây giáp đất ông Trần Tấn B1; Nam giáp thửa
165 của ông Phan G1; Bắc giáp thửa 140 của ông Phan G1.
Thửa 165 tờ bản đồ số 12 diện tích đo đạc thực tế 938,6m
2
có vị trí: Đông
giáp đất ông Trần Tấn B2 thửa 82 và một phần đất ông Trần H2 thửa 195; Tây
giáp đất ông Trần Tấn B1; Nam giáp bờ ranh cây rừng đến đất lúa ông Trần Đ;
Bắc giáp thửa 164 đất ông Phan G1.
Đều tọa lạc tại thôn G, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên (kèm theo sơ đồ bản vẽ).
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng
cáo.
Ngày 26/6/2025, nguyên đơn ông Nguyễn Văn G kháng cáo toàn bộ bản án
sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo hướng chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên toà, nguyên đơn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện, đơn kháng
cáo.
* Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự
đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn không có căn cứ. Do
đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận đơn kháng cáo của
nguyên đơn ông Nguyễn Văn G. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số
22/2025/DS-ST ngày 16/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Đắk
Lắk (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 14 – Đắk Lắk) .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án, được
thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem
5
xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương
sự. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng:
[1.1]. Về nguồn gốc đất tranh chấp: Căn cứ lời thừa nhận của các đương sự,
Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã A, Sổ mục kê năm 1997 có cơ sở để
xác định: Các thửa đất đang tranh chấp số 140, 164, 165; tờ bản đồ số 12 tại thôn
G, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên có nguồn gốc của vợ chồng ông Phan G1 (chết
năm 1998) và bà Nguyễn Thị L2 (chết năm 2015). Ông G1, bà L2 chết không để
lại di chúc, di sản chưa được phân chia. Diện tích đất tranh chấp chưa được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[1.2] Nguyên đơn ông Nguyễn Văn G cho rằng 03 thửa đất trên ông Phan
G1, bà Nguyễn Thị L2 đã chuyển nhượng cho nguyên đơn theo “Giấy chuyển
nhượng đất rẫy” lập ngày 10/02/1991, xét thấy: Quá trình tố tụng, các bên đương
sự thừa nhận khi còn sống bà L2 không biết chữ nên có căn cứ xác định chữ ký
viết họ tên dưới mục người để đất Nguyễn Thị L2 trong Giấy chuyển nhượng đất
rẫy không phải do bà L2 ký và viết ra. Hiện ông Phan G1 đã chết, bị đơn ông Phan
M và ông Phan T cho rằng chữ ký, chữ viết trong Giấy chuyển nhượng đất rẫy
không phải của ông G1, nguyên đơn xác nhận mặc dù không tận mắt nhìn thấy
ông G1 viết và ký nhưng Giấy chuyển nhượng đất rẫy là do ông G1 đưa cho ông,
nguyên đơn có đơn yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết của ông G1 nhưng không
cung cấp được chữ ký, chữ viết của ông G1, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành thu
thập chữ ký, chữ viết của ông G1 nhưng tại địa phương không thu thập được. Do
đó, không có cơ sở xác định chữ ký, chữ viết của ông G1 trong “Giấy chuyển
nhượng đất rẫy lập ngày 10/02/1991” có phải của ông G1 hay không?
Hơn nữa, Giấy chuyển nhượng đất rẫy có nội dung: “Tôi tên Phan G1, 60
tuổi vợ Nguyễn Thị L2, 61 tuổi tôi có sở rẫy động gành dưa là 3 miếng cho con
tôi, tôi giao toàn bộ số tờ sở rẫy là số vàng 1 cây khi nào vợ chồng tôi có khả
năng chuộc lại tính theo quy cây vàng ra thành tiền tỉnh theo lãi suất ngân hàng
lúc chuộc sở rẫy là lúc đó tôi mới lấy lại. Tôi thục cho con tôi Nguyễn Văn G 33
tuổi, vợ Phan Thị L, 30 tuổi...”.
“Tôi có thục sở rẫy của cha mẹ ở gành dưa, toàn bộ giấy tờ cha mẹ vợ giao
cho tôi, tôi giao 01 cây vàng cho ông Phan G1 và Nguyễn Thị L2 sau này cha vợ
và mẹ vợ có khả năng chuộc lại lúc nào và năm đó tính theo cây vàng ra tiền quy
ra lãi suất ngân hàng thì chuộc lại”.
6
Tại biên bản hòa giải ngày 28/4/2022 tại Ủy ban nhân dân xã A ông G trình
bày: “Năm 1991 cha vợ tôi là Phan G1 có đến nhà tôi mượn 1 cây vàng 9999 về
để khám chữa bệnh…” (BL số 20)
Tại biên bản lấy lời khai ngày 11/3/2025 tại Tòa án nhân dân huyện Tuy An,
ông G trình bày: “Thực tế giao dịch giữa các bên là thục đất, khi nào cha mẹ có
tiền vàng thì chuộc lại đất, được tính bằng vàng quy ra tiền và lãi suất ngân hàng”
(BL số 152)
Xét thấy: “Thục đất” là tập quán tại địa phương là một dạng giao dịch dân
sự có bản chất tương tự như việc cầm cố tài sản (quyền sử dụng đất) để bảo đảm
nghĩa vụ trả nợ cho một giao dịch vay tài sản hoặc hình thức chuyển nhượng
quyền sử dụng đất có điều kiện người chuyển nhượng chuộc lại quyền sử dụng
đất sau khi trả nợ vay và lãi suất theo thỏa thuận. Như vậy, bản chất giao dịch giữa
nguyên đơn và ông N2 là vay tài sản (vay vàng) có bảo đảm bằng hình thức cầm
cố đất (Thục đất). Đây không phải là giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
[1.3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải nhổ bỏ
cây trồng trên đất và trả lại đất cho nguyên đơn, thấy rằng: Quá trình tố tụng
nguyên đơn cho rằng ông Phan G1, bà Nguyễn Thị L2 giao đất cho ông quản lý,
sử dụng từ năm 1991 đến năm 2021 các ông Phan M, Phan T chiếm lại và trồng
cây trên đất nhưng nguyên đơn không có tài liệu chứng cứ chứng minh, không
được bị đơn thừa nhận và không phù hợp với lời khai của những người làm chứng.
cụ thể: Tại giấy làm nhân chứng của ông Trần H1 (BL số 83), BB ghi lời khai của
bà Nguyễn Thị N tại TAND huyện Tuy An (BL số 170); Giấy mướn đất của vợ
chồng ông Nguyễn T3, bà Nguyễn Thị N (BL số 82) đều thể hiện các thửa đất
tranh chấp do bị đơn ông Phan M quản lý sử dụng, sau đó cho ông T3, bà N thuê
để sản xuất, canh tác trên đất.
[1.4] Nguồn gốc đất đang tranh chấp thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông
Phan G1, bà Nguyễn Thị L2. Là di sản của ông G1, bà L2 đã chết không để lại di
chúc, chưa phân chia di sản thừa kế. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ
thẩm đã giải thích và hỏi các đương sự có yêu cầu phân chia di sản thừa kế đối
với tài sản đang tranh chấp không, nhưng các đương sự đều không có yêu cầu do
đó Tòa án không đề cập giải quyết là phù hợp.
[1.5] Nguyên đơn không yêu cầu kiện đòi tài sản cho ông G1, bà L2 vay vàng
nên có quyền khởi kiện bằng vụ kiện khác.
[1.6] Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn về việc công nhận quyền sử dụng đất và buộc bị đơn tháo dỡ cây
trồng trên đất để trả lại quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là có căn cứ.
7
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn về việc yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo
hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, HĐXX thấy: Như
nhận định và phân tích ở mục [1] yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được
chấp nhận. Tại cấp phúc thẩm nguyên đơn không cung cấp tài liệu chứng cứ mới
làm thay đổi nội dung vụ án nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của
nguyên đơn mà cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn là người cao tuổi nên được
miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị
quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn G. Giữ
nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2025/DS-ST ngày 16/6/2025 của Tòa án
nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 14 – Đắk
Lắk).
[2] Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc
yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và buộc bị đơn tháo dỡ cây trồng trả lại
quyền sử dụng đất, tại các thửa:
Thửa 140, tờ bản đồ số 12, diện tích 3.515,6m
2
có vị trí: phía Đông giáp lối
đi bằng đất đến đất ông T4; phía Tây giáp đất ông Trần Tấn B1; phía Nam giáp
đất ông Lê L4 thửa 157, đất bà Lê Thị N1 thửa 163 và đất ông Phan G1 thửa 164;
phía Bắc giáp đất ông Nguyễn Hữu T5.
Thửa 164, tờ bản đồ số 12, diện tích đo đạc thực tế 850,3m
2
có vị trí: phía
Đông giáp đất ông Trần Tấn B2 thửa 82; phía Tây giáp đất ông Trần Tấn B1; phía
Nam giáp thửa 165 của ông Phan G1; phía Bắc giáp thửa 140 của ông Phan G1.
Thửa 165, tờ bản đồ số 12, diện tích đo đạc thực tế 938,6m
2
có vị trí: phía
Đông giáp đất ông Trần Tấn B2 thửa 82 và một phần đất ông Trần H2 thửa 195;
phía Tây giáp đất ông Trần Tấn B1; phía Nam giáp bờ ranh cây rừng đến đất lúa
ông Trần Đ; phía Bắc giáp thửa 164 đất ông Phan G1.
Đều tọa lạc tại thôn G, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên (kèm theo sơ đồ bản vẽ).
8
[3] Về án phí: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn G được miễn án phí dân sự sơ
thẩm và phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND khu vực 14;
- THADS khu vực 14;
- Các đương sự;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Lê Thị Thanh Huyền
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 17/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 16/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm