Bản án số 36/2023/QĐST-DS ngày 28/03/2023 của TAND huyện Nhà Bè, TP. Hồ Chí Minh về y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 36/2023/QĐST-DS

Tên Bản án: Bản án số 36/2023/QĐST-DS ngày 28/03/2023 của TAND huyện Nhà Bè, TP. Hồ Chí Minh về y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích
Quan hệ pháp luật: Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Nhà Bè (TAND TP. Hồ Chí Minh)
Số hiệu: 36/2023/QĐST-DS
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/03/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố một người mất tích
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHÀ BÈ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 36/2023/QĐST-DS
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Nhà bè, ngày 28 tháng 3 năm 2023
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Việt Hồng – Thẩm phán
Thư phiên họp: Bùi Thị Thủy - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện
Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên họp: Nguyễn Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà thành ph
Hồ Chí Minh mở phiên họp thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ số:
190/2022/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2022 về việc Tuyên bố một người mất tích
theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 244/2023/QĐST-DS
ngày 13 tháng 03 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Bà Đỗ Thị L - sinh năm 1981.
Địa chỉ: 26D21, khu phố A, phường B, thành phC, tỉnh T.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu ngày 03/8/2022 L trình bày: Đỗ Thị L ông Trần Văn
D - sinh năm 1972 đăng kết hôn tại UBND Đồng K, huyện C, tỉnh T vào
ngày 24/5/2002, trong quá trình sống chung xảy ra mâu thuẫn vào năm 2008
ông D bỏ nhà đi từ đó đến nay không có tung tích xác thực, đồng thời ông D không có
liên lạc cho gia đình và người thân quen hay bạn bè của ông Dạn. Gia đình Bà Đỗ Thị
L cố gắng đi tìm kiếm ông D đến nay không có tin tức.
Đỗ Thị L yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Nhà thành phố Hồ Chí Minh
tuyên bố một người mất tích đối với ông Trần Văn D - sinh năm 1972, địa chỉ cuối
cùng tại 908/5/12 tổ 8, ấp 5, xã A, huyện B, Thành phố H. Mục đích của bà L yêu cầu
Tòa tuyên bố một người mất tích đối với ông Trần Văn D nhằm bổ túc hồ sơ ly hôn.
2
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ việc dân sự được thẩm
tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp,
Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
[1] Về quan hpháp luật đương sự yêu cầu tuyên bố một người mất ch thẩm
quyền giải quyết của Tòa án:
Căn cứ vào nội dung biên bản xác minh ngày 30/12/2022 của Công an Phú
Xuân huyện Nhà Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ số
190/2022/QĐ-CCTLCC ngày 24/10/2022 đối với ông Trần Văn D thì có sở c
định nơi trú cuối cùng của ông D tại huyện Nhà Bè. Do đó, đây loại việc dân
sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí
Minh theo quy định tại khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2
Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét việc L yêu cầu Tòa tuyên bố một người mất tích đối với ông Trần
Văn D - sinh năm 1972, địa chỉ cuối ng tại 908/5/12 tổ 8, p 5, xã A, huyện B,
Thành phố H.
Ông Trần Văn D Đỗ Thị L đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết
hôn số 40 quyển số 01 tại UBND Đồng K, huyện C, tỉnh T vào ngày 24/5/2002.
Trong quá trình chung sống với nhau ông D L hai cháu Trần Tấn Dũng sinh
ngày 03/8/2002 đã chết năm 2006 và cháu Trần Thanh Sơn sinh ngày 26/7/2007.
Vào khoảng năm 2008 L ông D mâu thuẫn gia đình thì ông D bỏ nhà đi biệt
tích đến hôm nay đi đâu L không biết, ngoài ra không tin tức về xác thực ông D
còn sống hay chết và làm gì, ông D không liên lạc cho gia đình và người thân quen
hay bạn của ông Dạn. Tuy nhiên L trình báo với chính quyền địa phương sự
việc ông D mất tích tại địa phương cũng như L cố gắng đi tìm kiếm ông D đến nay
không tin tức. Nguyên nhân ông D bỏ nhà đi thì L cho rằng nguyên nhân mâu
thuẫn từ vợ chồng.
Căn cứ biên bản xác minh ngày 30/12/2022 của Công an Phú Xuân huyện
Nhà thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, sở xác định thời điểm ông Trần Văn D
bỏ nhà đi từ năm 2016 cho tới nay, thuộc trường hợp khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự
“Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp
thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không
tin tức xác thực về việc người đó n sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người
quyền, lợi ích liên quan, Tòa án thể tuyên bố người đó mất tích; Thời hạn 02
năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối ng về người đó; nếu không xác định
được ngày tin tức cuối cùng tthời hạn này được tính tngày đầu tiên của tháng
tiếp theo tháng tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày tháng tin tức
cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức
3
cuối cùng”. Cho nên xác định thời hạn biệt ch ông D trên sở ngày 01 tháng 01
năm 1917. Đồng thời L đã đăng tin tìm ông Trần Văn D trên báo Công
hội quan của Tòa án nhân dân Tối Cao liên tiếp các ngày 18/10/2022, 21/10/2022,
25/10/2022 phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam liên tiếp các ngày 20/10, 21/10,
22/10/2022 lúc 06h30 07h00 từ 14h30 đến 15h00; Cổng thông tin điện tcủa
Tòa án nhưng vẫn không tin tức. Như vậy, đã đspháp xác định việc
biệt ch quá 02 năm liền không tin tức xác thực về việc người đón sống hay
đã chết nên tuyên bố một người mất tích đối với ông Trần Văn D.
[2] Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự.
Theo nội dung đơn yêu cầu của bà L xin tuyên bố một người mất tích đối với ông
Trần Văn D nhằm bổ túc hồ ly hôn. Căn cứ biên bản xác minh ngày 30/12/2022
của Công an xã Phú Xuân huyện Nhà Bè TPHCM thì ông D bỏ nhà đi biệt tích từ năm
2016 đến hôm nay nhưng vẫn không có tin tức, đã có đủ cơ sở pháp lý cho thấy ông D
biệt ch quá 02 năm liền theo khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự. Đồng thời, mục
đích yêu cầu của các đương sự là hoàn toàn chính đáng và phù hợp pháp luật nên nghĩ
chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39;
Điều 361; Điều 362; Điều 367; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 385;
Điều 387; Điều 388; Điều 389 Bộ luật tố tụng Dân sự.
- Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu miễn giảm thu nộp quản
lý sử dụng án phí lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.
1. Chấp nhận yêu cầu của Bà Đỗ Thị L.
2. Tuyên bmột người mất tích đối với ông Trần Văn D - sinh năm 1972, nơi
trú cuối ng tại: 908/5/12 tổ 8, ấp 5, A, huyện B, Thành phố H kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2017.
3. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Bà Đỗ Thị Lệ phải nộp 300.000
đồng, được tính vào tiền tạm ứng lệ phí đã tạm nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu
tiền số AA/2021/0038084 ngày 11/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà
Bè Thành Phố Hồ Chí Minh, Bà Đỗ Thị L đã nộp đủ án phí.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu quyền kháng cáo trong thời
hạn 10 (mười) ngày ktừ ngày Tòa án ra quyết định này. Riêng các người yêu cầu
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp thì nh từ ngày họ
nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc ktừ ngày quyết định này được
thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp quyền kháng nghị quyết định giải
4
quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyền
kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Nơi nhận:
- TAND Tp.HCM;
- VKSND huyện Nhà Bè;
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè;
- Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan;
- UBND xã A, huyện B, Thành phố H
- Lưu hồ sơ vụ án.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
Nguyễn Việt Hồng
Tải về
Bản án số 36/2023/QĐST-DS Bản án số 36/2023/QĐST-DS

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất