Bản án số 34/2026/HNGĐ-ST ngày 28/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 34/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 34/2026/HNGĐ-ST ngày 28/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 34/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/08/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 34/2026/HNGĐ-ST Bản án số 34/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 34/2026/HNGĐ-ST Bản án số 34/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 34/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 28/8/2026.
V/v: Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CÔNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Quỳnh Anh.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Hiếu và bà Đinh Thị Nga.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Uyên - Thư ký viên Tòa án nhân dân
Khu vực 12 – Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Thị Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2026 tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 12 – Phú
Thọ mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số
218/2026/TLST-HNGĐ
ngày 21 tháng 5 năm 2026 về việc: “Ly hôn”. Theo quyết
định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2026/QĐXX-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2026
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đỗ Minh N, sinh năm 2003; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã P,
thành phố Hà Nội.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Xóm G (nay là
TDP tổ I), phường K, tỉnh Phú Thọ.
(Chị N có mặt; Anh D vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa
nguyên đơn – chị Đỗ Minh N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Minh N và anh Nguyễn Văn D kết hôn với
nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn năm 2021 tại Ủy ban nhân dân xã
M, thành phố H, tỉnh Hòa Bình (nay là UBND phường K, tỉnh Phú Thọ). Sau khi
kết hôn vợ chồng anh chị về nhà bố mẹ đẻ anh D chung sống tại xóm G (nay là tổ
dân phố số I), phường K, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống
hạnh phúc bình thường. Tuy nhiên đến năm 2022, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bất
đồng quan điểm cãi vã nhau, không có tiếng nói chung, không có thấu hiểu nhau
và chia sẻ với nhau. Do đó, chị N đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ chị N sinh sống tại
2
Thôn Đ, xã Đ, huyện C (nay là thôn Đ, xã P), thành phố Hà Nội từ đó cho đến
nay. Từ khi chị N bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống anh D cũng không có thiện chí
muốn vợ chồng hàn gắn, không quan tâm đến vợ và con, vợ chồng không thể hàn
gắn. Đến nay tình cảm vợ chồng không còn, chị N đề nghị Tòa án giải quyết cho
chị được ly hôn với anh D.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Ánh L, sinh
ngày 11/8/2021. Khi ly hôn, chị N đề nghị được trực tiếp nuôi con chung. Về cấp
dưỡng nuôi con chung, chị N không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con
chung.
- Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung. Không đề nghị Toà án
giải quyết.
- Về nợ chung: Vợ chồng không có công nợ chung.
- Về án phí ly hôn: Chị Đỗ Minh N nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn.
* Quá trình cung cấp chứng cứ, bị đơn - anh Nguyễn Văn D vắng mặt, không
tham gia tố tụng, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ nhiều lần.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn – chị Đỗ Minh N vẫn giữ nguyên những
quan điểm đã nêu trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền
và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn
có mặt; Phía bị đơn đã được tống đạt các giấy triệu tập phiên tòa hợp lệ hai lần
nhưng vẫn vắng mặt, nên áp dụng các điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự,
xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn, xử cho chị N ly hôn với anh D. Về con chung: có 01 con chung là Nguyễn
Ngọc Ánh L, sinh ngày 11/8/2021. Khi ly hôn, đề nghị giao con chung cho chị N
trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con,
chị N không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập giải
quyết. Về tài sản chung, chị N xác nhận không có tài sản chung, nên không đề
cập. Về nợ chung: chị N xác nhận không có, nên không đề cập. Về án phí, nguyên
đơn phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong Hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa, đương sự không
có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Thẩm phán và Hội
3
đồng xét xử. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng
xét xử đã thực hiện đều hợp pháp. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có
trong Hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp về hôn nhân gia đình, cụ
thể về việc ly hôn. Đồng thời, bị đơn – anh Nguyễn Văn D có đăng ký thường trú
và cư trú tại xóm G (nay là tổ dân phố số I), phường K, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ quy
định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 29 của
Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2025/NQ - HĐTP ngày 27/6/2025 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định
về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân, vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ.
Tại phiên toà, bị đơn – anh Nguyễn Văn D vắng mặt mặc dù đã được tống
đạt giấy triệu tập phiên tòa hợp lệ hai lần, căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật
tố tụng dân sự, Toà tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Minh N và anh Nguyễn Văn D là vợ chồng
hợp pháp, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Xác
định là hôn nhân hợp pháp, được xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật. Quá
trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn về quan điểm, không có tiếng nói
chung giữa hai bên, chung sống không hạnh phúc; Căn cứ theo ý kiến trình bày
của nguyên đơn và nội dung xác minh thể hiện: Từ năm 2022 đến nay, vợ chồng
chị N, anh D không sinh sống cùng nhau. Hội đồng xét xử xét thấy, chị N và anh
D đã ly thân kéo dài, cuộc sống chung thực tế không tồn tại, mâu thuẫn trầm trọng,
mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của chị N là có căn cứ,
phù hợp với thực tế mâu thuẫn vợ chồng, nên được chấp nhận.
Về con chung: Chị Đỗ Minh N và anh Nguyễn Văn D có 01 con chung là
Nguyễn Ngọc Ánh L, sinh ngày 11/8/2021. Khi ly hôn, chị N đề nghị giao con
chung Nguyễn Ngọc Ánh L cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi
trưởng thành và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung; Xét thấy, từ khi
anh D và chị N ly thân năm 2022 cho đến nay, con chung Nguyễn Ngọc Ánh L
sinh sống ổn định và do chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Đồng thời trong
quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ, tuy nhiên anh D
cũng không đến Toà giải quyết và không có quan điểm về việc đề nghị được trực
tiếp nuôi con chung. Do vậy, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung chưa
thành niên, xét thấy giao cháu Nguyễn Ngọc Ánh L cho chị Đỗ Minh N trực tiếp
chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N không đề nghị anh D phải cấp
dưỡng nuôi con chung, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4
Về tài sản chung, công nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án, chị Đỗ Minh N
có quan điểm về tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng không có, nên Hội
đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn tự nguyện chịu án phí ly hôn sơ thẩm, sự tự nguyện
là phù hợp theo quy định, được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, 228,
271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày
25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng
hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hoà giải,
đối thoại tại Toà án.
Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc
hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Nghị quyết số 01/2025/NQ - HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận
nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Đỗ Minh N.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Minh N được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.
- Về nuôi con chung: Chị Đỗ Minh N và anh Nguyễn Văn D có 01 con chung
là Nguyễn Ngọc Ánh L, sinh ngày 11/8/2021. Khi ly hôn, giao con chung Nguyễn
Ngọc Ánh L cho chị Đỗ Minh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Văn D chưa phải cấp dưỡng
nuôi con chung.
Anh Nguyễn Văn D có quyền thăm nom con chung, quyền yêu cầu thay đổi
người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo luật định.
2. Về án phí: Chị Đỗ Minh N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền
án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng)
tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo Biên lai số 0004681 ngày 21/5/2026 của
Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được kháng cáo trong hạn 15 ngày,
kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận: TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
5
- TAND tỉnh Phú Thọ; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND Khu vực 12;
- THADS tỉnh Phú Thọ;
- UBND phường Kỳ Sơn,
tỉnh Phú Thọ;
- Đương sự;
- Lưu HS.
Đỗ Thị Quỳnh Anh
6
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN
TÒA
7
8
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 34/2026/HNGĐ-ST Bản án số 34/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 34/2026/HNGĐ-ST Bản án số 34/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất