Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 22/09/2025 của TAND tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 34/2025/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 22/09/2025 của TAND tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 34/2025/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/09/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp chia tài sản chung, tranh chấp nuôi con giữa nguyên đơn Trần Thị Mỹ K với bị đơn Lê Minh Đ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Châu
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thu Trang
Ông Lê Thành Trung
- Thư phiên tòa: Ông Lưu Chí Tâm - Thư Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh
Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Thanh Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2025, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm
công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 27/2025/TLPT-HNGĐ ngày 07 tháng
8 năm 2025 về việc Ly hôn, tranh chp v nuôi con, chia tài sn khi ly hôn và tranh
chp hợp đồng tín dng”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 62/2025/HNGĐ-ST, ngày
20 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bến Tre (Nay là Tòa
án nhân dân khu vực X - Vĩnh Long) bị kháng cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử phúc thẩm số: 37/2025/QĐ-PT, ngày 04 tháng 09 năm 2025, Quyết định hoãn
phiên tòa số 40/QĐ-ST ngày 18/09/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ch Trn Th M K, sinh năm 1996, địa ch: S B, p B, xã B,
thành ph B, tnh Bến Tre (Nay là s B, ấp B, phường B, tnh Vĩnh Long), có mt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Nhật Long
H, Luật sư của Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh V (có mặt).
- Bị đơn: Anh Minh Đ, sinh năm 1989; địa ch: Số B, ấp B, B, thành
phố B, tỉnh Bến Tre (Nay là số B, ấp B, phường B, tỉnh Vĩnh Long), có mặt.
Ngoài ra còn có người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là:(1) Ngân hàng
Thương mại cổ phần Đ2 (B1); Trụ sở: Tháp B1, số A, T, phường H, Thành phố
Nội, Người đại din theo y quyn tham gia t tng ca Ngân hàng B1: Trn Th
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 34/2025/DS-PT
Ngày 22 - 9 - 2025
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con,
chia tài sản khi ly hôn và tranh chấp
hợp đồng tín dụng”
2
Trúc H1; Địa ch: S B, Đại l Đ, phường A, thành ph B, tnh Bến Tre (Nay là s
B, Đại l Đ, phường A, tỉnh Vĩnh Long) và (2). Từ Thị H2, sinh năm 1960; địa
chỉ: Số B, ấp T, H, huyện C, tỉnh Bến Tre (Nay là số B, ấp T, H, tỉnh Vĩnh
Long), do không liên quan đến việc kháng cáo nên không triệu tập tham dự phiên
tòa phúc thẩm.
- Người kháng cáo: Ch Trn Th M K là nguyên đơn trong v án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị
Trần Thị Mỹ K trình bày và có yêu cầu như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Mỹ K anh Minh Đ kết hôn
đăng kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày
13/12/2017, hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn, thời gian đầu cuộc sống gia đình
hạnh phúc, đến khoảng năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn
là do bất đồng quan điểm, anh Đ có hành vi hành hung chị K nên đã sống ly thân từ
tháng 12/2023 cho đến nay. Chị K và anh Đ đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành
nên xin được ly hôn với anh Đ.
Về con chung: 01 con chung tên Trần Thiên I, sinh ngày 20/6/2021. Sau
khi ly hôn, chị K yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung không yêu cầu
anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Hiện con chung đang sinh sống với chị K. Khi nộp đơn
yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn thì chị K và anh Đ có thỏa thuận về con
chung sẽ giao cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng và chị K không cấp dưỡng nuôi con.
Tuy nhiên, sau đó anh Đ ngăn cản việc thăm nom con của chị K nên chị K đã rút
yêu cầu lại và Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ việc. Chị K yêu cầu được trực tiếp
nuôi dưỡng vì con chung là con gái và hiện đang có cuộc sống, học tập tốt bên mẹ;
anh Đ không nhiều thời gian chăm sóc con chung, anh Đ tính côn đồ, hành
hung chị K và mẹ ruột của chị K nên việc giao con chung cho anh Đ nuôi dưỡng s
ảnh hưởng đến cuộc sống quyền, lợi ích hợp pháp của con chung. Đối với giấy
cam kết là do chị K viết, lý do chK viết là vì lúc đó con của chị K đang ở bên nhà
mẹ ruột anh Đ, cho nên buộc chị K phải viết nội dung như thế thì mới được đón con
về. Hiện tại chK và con chung đang thuê nhà trọ sinh sống tại B, thành phố B,
tỉnh Bến Tre, từ khi nộp đơn ly hôn đến nay chị K người trực tiếp nuôi con, anh
Đ khônghỏi thăm con, không cấp dưỡng nuôi con hiện nay con đang học tại
Trường mầm non B2. Hiện chị K đang làm việc tại Bệnh viện N1 ng ty trách
nhiệm hữu hạn B3, thu nhập mỗi tháng khoảng 25.000.000 đồng. Chị K chỉ làm việc
giờ hành chính, không có trực ca đêm và khi chị K đi làm thì con chung đi học.
Về tài sản chung: có 01 căn nhà trên thửa đất số 1381, tờ bản đồ số 5, tọa lạc
tại xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre được xây dựng vào năm 2019 trong thời kỳ
hôn nhân, tiền xây dựng nhà là của 02 vợ chồng, đất là tài sản riêng của anh Đ. Số
3
tiền xây dựng nhà khoảng 600.000.000 đồng, bao gồm 200.000.000 đồng vay của
Ngân hàng B4, chị K đưa vàng cưới của chị K cho mẹ ruột anh Đ bán lấy tiền xây
nhà, số lượng khoảng 02 lượng vàng 24K, phần còn lại là anh Đ lo vì lúc đó anh Đ
đi làm về không có đưa tiền lương cho chị K, chK phải lo cho gia đình lo cho
con, chị K là người đóng tiền điện nước nên mặc phần còn lại anh Đ lo nhưng
vẫn của chồng công vợ. Chị K xác định tài sản chung của chị K anh Đ căn
nhà với giá trị là 400.000.000 đồng và không yêu cầu định giá tài sản, chị K đề nghị
chia đôi mỗi người nhận 200.000.000 đồng, do chị K đã nhận 100.000.000 đồng từ
anh Đ nên yêu cầu anh Đ tiếp tục giao cho chị K 100.000.000 đồng nữa thì anh Đ
được toàn quyền sở hữu nhà. Đối với việc thỏa thuận về phần tài sản chung theo đơn
thuận tình ly hôn với nội dung anh Đ giao cho chị K 100.000.00 đồng cũng nphần
con chung với điều kiện chị K phải được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nhưng sau
đó anh Đ không làm đúng như thỏa thuận nên chị K thay đổi ý kiến yêu cầu chia tài
sản theo giá trị thực tế.
Về nợ chung: nợ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ2 chi nhánh B5
số tiền 88.325.446 đồng, do số nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân và phục vụ cho
nhu cầu của gia đình nên chị K yêu cầu chia đôi số nợ trên mỗi người phải trả số tiền
bằng 44.162.723 đồng. Chị K vay sử dụng để mua xe gắn máy và mua nội thất trong
gia đình, hiện xe đã bán để đóng tiền học cho con.
Theo bản t khai; các n bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án; những
lời trình bày tại các biên bản hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại
phiên tòa, bị đơn anh Minh Đ cùng người đại diện theo ủy quyền (về phần tài sản
chung và nợ chung) là bà Trần Thị Ngọc Như Ý1 cùng trình bày:
Anh Minh Đ thống nhất với lời trình bày của chị Trần Thị Mỹ K về thời
gian kết hôn, điều kiện kết hôn như lời trình bày của chị K. Anh Đ xác định có xảy
ra mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình của chị K và chăm c con không tốt. Đối với
việc chị K trình bày ông anh Đ có hành hung mẹ chị K là hoàn toàn không có. Nay
xét thấy tình cản vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh
Đ đồng ý thuận tình ly hôn với chị K.
Về con chung: 01 con chung tên Trần Thiên Ý, sinh ngày 20/6/2021.
Anh Đ không đồng ý giao cho chị K nuôi dưỡng, anh Đ yêu cầu được trực tiếp nuôi
dưỡng con chung không yêu cầu chị K cấp dưỡng nuôi con. Con chung từ nhỏ
đến lớn sống chung với anh Đ chị K tại B, từ tháng 12/2023 do mâu thuẫn
nhiều chị K đi học nên anh Đ đã gửi về nhà nội H, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Đến ngày 15/9/2024, chị K đến nhà cha mẹ ruột của anh Đ để đòi bắt con, anh Đ
mời Công an xã lên làm việc, chị K viết cam kết trong vòng 03 ngày sẽ giao
con lại cho anh Đ có sự chứng kiến của Trưởng ấp, tuy nhiên sau khi nhận con đến
nay chị K vẫn không giao con lại cho anh Đ. Đối với việc chị K cho rằng anh Đ nn
cản việc thăm nom con không đúng, anh Đ vẫn cho chị K thăm nom chăm sóc con
4
bình thường, không ngăn cản. Từ khi nộp đơn ly hôn, anh Đ xuống nhà mẹ
của chị K H, huyện G xin thăm con nhưng chị K không cho anh Đ nộp
đơn tại Công an xã H.
Về tài sản chung: Anh Đ và chị K không có tài sản chung. Căn nhà mà chị K
yêu cầu chia được xây dựng năm 2019, nguồn tiền xây dựng vay tiền của Ngân
hàng B4 100.000.000 đồng (vay của Ngân hàng 200.000.000 đồng, trong đó xây nhà
100.000.000 đồng anh Đ đi học 100.000.000 đồng), số tiền còn lại là của mẹ ruột
anh Đ là bà Từ Thị H2 cho riêng anh Đ để xây dựng nhà. Việc thanh toán tiền công
xây dựng nhà cũng như vật liệu xây dựng do anh Đ H2 thực hiện, lúc anh
Đ không có nhà thì chị K đại diện ký nhận. Anh Đ không đồng ý xác định căn nhà
là tài sản chung của vợ chồng mà là tài sản riêng của cá nhân anh Đ, anh Đ đồng ý
xác định giá trị căn nhà hiện nay 400.000.000 đồng để Tòa án làm căn cứ giải
quyết vụ án, không cần phải định giá tài sản. do trước đây anh Đ thỏa thuận trong
vụ việc thuận tình ly hôn anh Đ giao cho chị K 100.000.000 đồng do để được nuôi
con, hỗ trợ cho chK tiền đi học và tình nghĩa vợ chồng.
Về nợ chung: Anh Đ chị K không nợ chung. Trong các khoản vay của
chị K vay tiền trong đó khoản vay thấu chi thì anh Đ không biết Ngân hàng
cũng không liên hệ gì với anh Đ. Anh Đ không đồng ý trả khoản vay trên, đồng thời
trong đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn trước đây các bên cũng trình bày
không có nợ chung.
Theo bản t khai, lời trình bày tại các biên bản hòa giải trong quá trình giải
quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo y quyền của người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ2 là bà Trần Thị Trúc H1
trình bày:
Chị Trần Thị Mỹ K hợp đồng tín dụng s01/2022/12004194/HĐTD
ngày 15/7/2022 vay của Ngân hàng số tiền 50.000.000 đồng, đồng thời Ngân hàng
có cấp hạn mức thấu chi cho bà K với mức 50.000.000 đồng theo hợp đồng cấp hạn
mức thấu chi số 01/2023/12004194/HĐTD ngày 10/8/2023. Mục đích vay: phục vụ
nhu cầu tiêu dùng của nhân gia đình. nợ hiện tại của cả hai hợp đồng cả
gốc lãi tính đến hết ngày 18/6/2025 88.325.446 đồng (bao gồm: nợ gốc
77.129.576 đồng nlãi: 11.195.870 đồng), hiện các khoản vay trên đã quá hạn
thanh toán. vậy, Ngân hàng yêu cầu chị K anh Đ liên đới thanh toán tất 02
khoản vay trên, yêu cầu mỗi người phải trả một nữa tương đương stiền 44.162.723
đồng.
Theo lời trình bày tại biên bản hòa giải, người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan bà Từ Thị H2 trình bày:
Từ Thị H2 mruột của ông Minh Đ . Năm 2019, H2 đứng ra
mua vật liệu xây dựng, trả tiền công xây dựng để xây dựng nhà cho con ông
5
Minh Đ, số tiền khoảng hơn 300.0000.000 đồng, số tiền này mục đích bà H2 cho
riêng con bà là ông Đ để cất nhà, bà không có cho chị K, bà đề nghị bà K và ông Đ
trả cho bà H2 số tiền nêu trên. Việc bà K trình bày có đưa vàng cưới cho H2 bán
để cất nhà là hoàn toàn không có. Hiện bà H2 không có yêu cầu gì trong vụ án này,
H2 xin vắng mặt tại các lần giải quyết, xét xử tiếp theo tại Tòa án các cấp. Đề
nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, riêng phần tiền của bà H2
xây dựng nhà H2 xác định là cho riêng ông Lê Minh Đ .
Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 62/2025/HN-ST, ngày 20 tháng
6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bến Tre (Nay Tòa án nhân
dân khu vực X - Vĩnh Long) đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, các điểm
a, c khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 157, 201, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015; Áp dụng c Điều 463, 466 của Bộ luật Dân snăm 2015;
Áp dụng các Điều 91 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Áp dụng các Điều 33,
51, 56, 58, 59, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Áp dụng Điều
26 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sdụng
án phí và lệ phí Tòa án, đã tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần ThMỹ K
về việc yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con và chia i sản khi ly hôn đối với bị
đơn anh Minh Đ chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của Ngân hàng Thương
mại cổ phần Đ2 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với chị Trần Thị Mỹ K,
anh Lê Minh Đ . Cụ thể tuyên:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Mỹ K được ly hôn với anh Lê Minh
Đ .
1.2. Về con chung: Buộc chị Trần Thị Mỹ K giao con chung tên Trần Thiên
Ý, sinh ngày 20/6/2021 cho anh Lê Minh Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận anh
Minh Đ không yêu cầu chị Trần Thị Mỹ K cấp dưỡng nuôi con.
Chị Trần Thị Mỹ K được quyền đến thăm, chăm sóc và giáo dục con chung,
không ai được quyền ngăn cản. lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên
quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.
1.3. Về tài sản chung:
- Buộc anh Minh Đ trách nhiệm hoàn trả cho chị Trần Thị Mỹ K số tiền
20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp
quan thi hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày
có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải
trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án
6
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Anh Lê Minh Đ được trọn quyền quản lý, sử dụng căn nhà trên thửa đất số
1381, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã B, thành phố B, tnh Bến Tre.
1.4. Về nợ chung:
- Buộc chị Trần Thị Mỹ K có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ
phần Đ2 số nợ tính đến hết ngày 18/6/2025 là: 44.162.723 (Bốn mươi bốn triệu, một
trăm sáu mươi hai nghìn, bảy trăm hai mươi ba) đồng.
- Buộc anh Minh Đ trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần
Đ2 số nợ tính đến hết ngày 18/6/2025 là: 44.162.723 (Bốn mươi bốn triệu, một trăm
sáu mươi hai nghìn, bảy trăm hai mươi ba) đồng
- Chị Trần Thị Mỹ K anh Minh Đ còn phải tiếp tục chịu lãi suất phát
sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số
01/2022/12004194/HĐTD ngày 15/7/2022 hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số
01/2023/12004194/HĐTD ngày 10/8/2023 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ2
- Chi nhánh B5 chị Trần Thị Mỹ K kể từ ngày 19/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ
cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ2.
Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí quyền
kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, chị Trần Thị Mỹ K kháng cáo về phần con chung,
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự thẩm theo hướng giao con chung
Trần Thiên Ý, sinh ngày 20/6/2025 cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng, chị không
yêu cầu anh Lê Minh Đ cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu kháng cáo; tại phiên
tòa phúc thẩm, anh Đ và chị K đã thỏa thuận được với nhau về việc thay đổi người
trực tiếp nuôi con chung, theo đó, anh Đ thống nhất giao con chung tên Trần
Thiên Ý, sinh ngày 20/6/2025 lại cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đ không cấp
dưỡng nuôi con chung.
Ý kiến của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Thống nhất
theo sự tự nguyện thỏa thuận giữa chị K và anh Đ, không ý kiến bổ sung gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, các đương sự, người đại
diện hợp pháp của đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Đ chị K đã thỏa thuận
được với nhau về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, theo đó, anh Đ thống
7
nhất giao con chung tên Trần Thiên Ý, sinh ngày 20/6/2025 lại cho chị K trực
tiếp nuôi dưỡng, anh Đ không cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, từ khi sống ly
thân, cháu Thiên Ý đã sống chung với chị K chị K người trực tiếp chăm sóc,
nuôi dưỡng, hiện cháu sống, vui chơi, được đi học bình thường nên việc thỏa thuận
thống nhất giao con chung cho chK nuôi là có cơ sở, phợp với môi trường sống
hiện tại của cháu, phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội
nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận, về án phí dân sự phúc thẩm các đương sự
phải chịu theo quy định pháp luật.
Từ đó, đề nghị Hi đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Điều 300, khoản 2 Điều
308, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa án sơ thẩm theo hướng công nhận sự
thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hsơ vụ án kết quả tranh tụng
tại phiên tòa, ý kiến ca Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ K làm trong hạn luật định
và hợp lệ nên chấp nhận xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét nội dung ván đơn kháng o của chị Trần Thị Mỹ K, Hội đồng
xét xử phúc thẩm xét thấy:
Nguyên đơn kháng cáo 01 phần bản án về con chung, yêu cầu cấp phúc thẩm
xem xét cho chị K được trực tiếp nuôi con chung không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng
nuôi con chung. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Đ chị K đã thỏa thuận được với
nhau vviệc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, theo đó, anh Đ thống nhất giao
con chung tên Trần Thiên Ý, sinh ngày 20/6/2025 lại cho chị K trực tiếp nuôi
dưỡng, anh Đ không cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi
sống ly thân, cháu Thiên Ý đã sống chung với chị K chị K người trực tiếp chăm
sóc, nuôi dưỡng, hiện cháu sống tốt, được vui chơi, được đi học bình thường nên
việc thỏa thuận thống nhất giao con chung cho chị K trực tiếp nuôi là có cơ sở, phù
hợp với môi trường sống hiện tại của cháu, phù hợp với quy định của pháp luật
không trái đạo đức hội nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 300 của Bộ luật Tố
tụng dân sự công nhận sự thỏa thuận giữa anh Đ và chị K.
[3] Về án phí dân s phúc thẩm: Căn cứ khoản 5 Điều 29 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án thì
trường hợp đương s thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên
toà phúc thẩm thì người kháng cáo phải chịu toàn bộ án phí dân s phúc thẩmnên
buộc chị Trần Thị Mỹ K phải chịu án phí dân sự phúc thẩm bằng 300.000 đồng,
được cấn trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000461 ngày
18/07/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực X – Vĩnh Long.
8
[4] Xét quan điểm của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn
là có căn cứ chấp nhận.
[5] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long là căn
cứ chấp nhận.
[6] Các quyết định khác không bị kháng cáo, kháng nghị, không bị sửa đổi bổ
sung có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; Căn cứ khoản 5 Điều 29 của Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa chị Trần Thị Mỹ K và anh Minh Đ
về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
Sửa bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 62/2025/HNGĐ-ST, ngày 20 tháng
6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bến Tre (Nay Tòa án nhân
dân khu vực X - Vĩnh Long).
Tuyên xử:
1. Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của chị Trần Thị Mỹ K
với anh Lê Minh Đ, giao con chung tên Lê Trần Thiên Ý, sinh ngày 20/6/2021 cho
chị Trần Thị Mỹ K trực tiếp nuôi dưỡng; anh Lê Minh Đ không cấp dưỡng nuôi con.
Anh Minh Đ được quyền đến thăm, chăm sóc giáo dục con chung, không
ai được quyền ngăn cản. lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên quyền
yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con theo
quy định của pháp luật.
2. Các phần khác của bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 62/2025/HN-
ST, ngày 20 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bến Tre (Nay
Tòa án nhân dân khu vực X - Vĩnh Long) không bị sửa đổi, bổ sung, không bị
kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng
nghị.
3. Về án phí dân s phúc thẩm: Buộc chị Trần Thị Mỹ K phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm bằng 300.000 đồng, được cấn trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí theo
biên lai thu số 0000461 ngày 18/07/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực X
Vĩnh Long, chK đã nộp đủ.
Bản án phúc thm có hiu lực pháp luật kể t ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân s thì người được thi hành án dân s, người phải thi hành án dân
9
s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
thi hành án dân s; thời hiệu thi hành án được thc hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân s”.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Vĩnh Long;
- TAND Khu vc X Vĩnh Long;
- Phòng THADS Khu vc X Vĩnh Long;
- Các đương sự (theo địa ch);
- Lưu: VP, hồ sơ v án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký và đóng đấu)
Ngô Thị Kim Cu
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất