Bản án số 34/2025/DS-ST ngày 23/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 34/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 34/2025/DS-ST ngày 23/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng
Số hiệu: 34/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Công ty cổ phần T1 và ông Đỗ Đình P
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - HP
Bản án số: 34/2025/DS - ST
Ngày: 23 - 9 - 2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản;
Hợp đồng gia công
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn T
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thùy L
2. Bà Nguyễn Thị T
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị H - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8,
HP.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, HP tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Hải Y - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8, HP xét
xử thẩm vụ án thụ số 162/2024/TLST- DS ngày 05 tháng 12 năm 2024
thụ bổ sung số 162A/2025/TLST- DS ngày 03 tháng 02 năm 2025; theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 7 năm
2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST-DS ngày 15 tháng 8 năm
2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2025/QĐST-DS ngày 09 tháng 9 năm
2025; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty cổ phần T1; Địa chỉ: Đường C khu T, phường Á,
thành phố HP; Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị C,Tổng giám đốc;
Người đại diện theo y quyền: ông Nguyễn Kiều Đ, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số
A A đường H, phường H, thành phố HP.
Bị đơn: Ông Đỗ Đình P, sinh năm 1973; Địa chỉ: Số A phố T, phường L,
thành phố HP.
(Ông Đ, ông P có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Kiều Đ trình
bày:
2
Giữa Tổng Giám đốc Công ty cổ phần T1 (tên Công ty Cổ phần T1,
gọi tắt ng ty T1) ông Đỗ Đình P quen biết nhau. Ngày 28/6/2022,
Công ty T1 cho ông P vay số tiền 500.000.000 đồng để giải quyết việc nhân.
Việc cho vay tiền được thhiện bằng hợp đồng cho vay tiền ngày 28/6/2022
giữa bên cho vay là Công ty T1 bên vay ông Đỗ Đình P. Theo hợp đồng,
thời hạn vay từ ngày 28/6/2022 đến ngày 07/7/2022, lãi suất 1,6%/tháng, trả
lãi cùng thời điểm trả tiền vay gốc. Sau khi hợp đồng cho vay tiền được ký, cùng
ngày 28/6/2022, Công ty T1 đã ủy quyền cho Mạc Thị Huyền T chuyển
khoản cho ông P 500.000.000 đồng.
Hết thời hạn vay, mặc Công ty T1 đã nhiều lần yêu cầu ông P trả nợ
tiền vay nhưng ông P không trả. Ngày 04/7/2023, Công ty T1 văn bản yêu
cầu ông P phải trả tiền trước ngày 15/7/2023, tuy nhiên, ông P vẫn không thực
hiện. Do đó, Công ty T1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của
pháp luật. Ngày 01/11/2023, TAND thành phố HD, tỉnh H (nay TAND khu
vực 8, HP) đã thụ lý vụ án số 139/2023/TLST-DS.
Trong quá trình Tòa án giải quyết ván, ông P đã trả cho Công ty T1 số
tiền 478.000.000 đồng tiền vay gốc, cụ thể: Trả 200.000.000 đồng vào ngày
07/6/2024, trả 278.000.000 đồng vào ngày 09/8/2024, số tiền vay gốc còn nợ
22.000.000 đồng. Ông P chưa trả tiền lãi cho Công ty T1. Công ty T1 muốn
tạo điều kiện cho ông P trả nợ số tiền còn lại trong thời hạn nhất định thông qua
thỏa thuận riêng giữa hai bên nên tháng 9/2024 thông qua người đại diện theo ủy
quyền anh Nguyễn Kiều Đ, Công ty T1 đã rút đơn khởi kiện Tòa án đã ra
Quyết định đình chỉ vụ án trên.
Tuy nhiên, sau khi Công ty T1 rút đơn khởi kiện, ông P không trả số tiền
vay gốc tiền lãi cho Công ty T1. Do đó, Công ty T1 tiếp tục khởi kiện, đ
nghị Tòa án buộc ông P phải trả số tiền gốc 22.000.000 đồng tiền lãi của
khoản vay 500.000.000 đồng.
Tại Hợp đồng cho vay mà nguyên đơn đã giao nộp cho Tòa án, do sơ suất
đã không ghi mức lãi suất nên nguyên đơn xác định đây hợp đồng vay không
có lãi.
Đối với yêu cầu phản tố của ông P yêu cầu công ty T1 thanh toán đối với
số tiền ng ty đã thuê anh lắp 02 bộ barie tại nhà máy C2, Đ
20.000.000 đồng vào ngày 28/4/2022 và tiền công lắp 02 tay khiển cổng tự động
nhà riêng của C 2.000.000 đồng vào ngày 06/10/2022. Tổng
22.000.000 đồng. Công ty T1 đồng ý đối trừ số tiền này vào nợ gốc.
3
ng ty T1 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đỗ Đình P phải trả cho
Công ty T1 khoản tiền lãi đối với số tiền 500.000.000 đồng tính từ ngày
08/7/2022 đến ngày xét xử.
Bị đơn ông Đỗ Đình P trình bày: Ngày 28/6/2022, ông hợp đồng
vay của Công ty T1 số tiền 500.000.000 đồng, không tính lãi. Do đó, ng ty T1
yêu cầu ông trả tiền lãi, ông không chấp nhận.
Về tiền nợ gốc, ông đã thanh toán hết số tiền nợ: Ngày 07/6/2024, ông đã
thanh toán 200.000.000 đồng. Ngày 09/8/2024, ông đã thanh toán 278.000.000
đồng. Công ty T1 nợ ông 22.000.000 đồng tiền cổng tự động bên công ty đã
lắp bên ông nhưng chưa thanh toán.
Ngày 28/4/2022, bên Công ty T1 lắp 2 bộ B nhà máy cám tại xã Đ, huyện
N hết 40.000.000 đồng. Tuy nhiên, công ty mới thanh toán 20.000.000 đồng và
còn nợ 20.000.000 đồng.
Ngày 06/10/2022, ông lắp thêm hai tay điều khiển cổng tự động nhà
Kim C1, số tiền 2.000.000 đồng. Vậy tổng số tiền Công ty T1 còn nợ ông
22.000.000 đồng.
Ông yêu cầu phản tố, đề nghị Tòa án buộc Công ty T1 phải thanh toán
hợp đồng gia công với số tiền 22.000.000 đồng. Đến nay, ông nhất trí đối trừ
22.000.000 đồng vào khoản nợ gốc ông vay công ty T1. Như vậy, ông đã trả đầy
đủ cho công ty T1 số tiền 500.000.000 đồng.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đỗ Đình P phải trả cho
Công ty T1 khoản tiền lãi đối với số tiền 500.000.000 đồng tính từ ngày
08/7/2022 đến ngày 07/7/2025.
Bị đơn không nhất trí trả tiền lãi cho công ty T1.
Đại diện Viện kiểm sát khu vực 8, HP phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm
phán, Hội đồng xét xử và Thư phiên a thực hiện đúng thủ tục tố tụng;
đương sự chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản
1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 BLTTDS; Điều 468 Bộ luật Dân
sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về
lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án:
4
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Đỗ Đình P
phải trả Công ty T1 103.819.726 đồng tiền lãi.
2. Công nhận sự thỏa thuận của đương sự về việc đối trừ khoản nợ
22.000.000 đồng vào khoản nợ gốc của ông P tại Hợp đồng vay tài sản ngày
28/6/2022 giữa Công ty T1 ông Đỗ Đình P, xác định ông P đã thanh toán hết
nợ gốc theo Hợp đồng ngày 28/6/2022.
3. Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các
đương sự, ý kiến của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hpháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Công ty T1
khởi kiện yêu cầu ông Đỗ Đình P trả số tiền nợ gốc, nợ lãi theo hợp đồng cho
vay tiền ngày 28/6/2022. Căn cứ Điều 463 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26
BLTTDS xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là hợp đồng vay tài sản.
[2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Xét Hợp đồng cho vay tiền ngày 28/6/2022 thấy rằng: Công ty T1 cho ông
Đỗ Đình P vay số tiền 500.000.000 đồng, thời hạn vay từ 28/6/2022 đến ngày
07/7/2022, không thỏa thuận về lãi suất. Đây Hợp đồng vay tài sản kỳ hạn
và không có lãi.
Căn cứ khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số
quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì: Hợp đồng vay không
lãi khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì theo yêu cầu
của bên cho vay, Tòa án xác định bên vay phải trả tiền lãi trên nợ gốc quá hạn
theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm
2015 trên số tiền chậm trả tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả
nợ gốc, trừ trường hợp thỏa thuận khác hoặc luật quy định khác. Tiền lãi
trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất theo quy
định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ) x
(thời gian chậm trả nợ gốc).
Như vậy, theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì xác
định lãi chậm trả 10%/năm. Thời hạn tính lãi từ ngày 08/7/2022 đến ngày
07/7/2025.
Ngày 07/6/2024, ông P trả Công ty T1 200.000.000 đồng, ngày 09/8/2024
ông P trả Công ty T1 278.000.000 đồng. Như vậy, tiền lãi chậm trả được tính
như sau:
5
- Lãi của 500.000.000 đồng từ ngày 08/7/2022 đến 06/6/2024 =
[(500.000.000 đồng x 10%/năm): 365 ngày] x 702 ngày = 96.164.384 đồng.
- Lãi của 300.000.000 đồng từ ngày 07/06/2024 đến 08/8/2024 =
[(300.000.000 đồng x 10%/năm): 365 ngày] x 63 ngày = 5.178.082 đồng.
- Lãi của 22.000.000 đồng từ ngày 09/8/2024 đến 07/7/2025 =
[(22.000.000 đồng x 10%/năm): 365 ngày] x 333 ngày = 2.007.123 đồng.
Vậy tổng số tiền lãi ông P phải thanh toán cho công ty T1 103.349.589
đồng.
[3] Đối với yêu cầu phản tố của ông Đỗ Đình P:
Ông P yêu cầu Công ty T1 phải trả 22.000.000 đồng tiền lắp barie và tiền lắp
điều khiển cổng tự động.
Ông P vay công ty T1 500.000.000 đồng, mới trả được 478.000.000 đồng,
còn nợ 22.000.000 đồng nợ gốc. Ông xác định ng ty T1 còn nợ ông
22.000.000 đồng nên đối trừ vào số n500.000.000 đồng ông đã trả hết nợ.
Đến nay ng ty T1 đồng ý đối trừ khoản 22.000.000 đồng này vào tiền nợ gốc
ông P còn nợ nên cần chấp nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.
[4] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị
đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tại phiên hòa giải các đương sự thống nhất
đối với yêu cầu phản tố của bị đơn, Công ty T1 tự nguyện chịu 50% án phí đối
với yêu cầu của bị đơn được chấp nhận, phù hợp với khoản 1 Điều 147 của Bộ
luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản s
dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147 BLTTDS; Điều 468 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP
ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn
áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Đỗ Đình P
phải trả Công ty T1 số tiền lãi 103.349.589 đồng.
2. Công nhận sự thỏa thuận của đương sự về việc đối trừ khoản nợ
22.000.000 đồng vào khoản nợ gốc của ông P tại Hợp đồng vay tài sản ngày
6
28/6/2022 giữa Công ty T1 ông Đỗ Đình P, xác định ông P đã thanh toán hết
nợ gốc theo Hợp đồng ngày 28/6/2022.
3. Về án phí: Ông Đỗ Đình P phải chịu 5.167.479 đồng án phí dân sự
thẩm, đối trừ số tiền ông P đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai tạm ứng án phí số
0001033 ngày 03/01/2025 của Chi cục Thi hành án thành phHD, tỉnh H (nay
Phòng THA thành phố H), ông P còn nộp số tiền 4.867.479 đồng. Công ty
T1 phải chịu 150.000 đồng, đối trừ số tiền Công ty đã nộp 7.877.000 đồng, theo
Biên lai tạm ứng án phí số 0000963 ngày 05/12/2024 của Chi cục Thi hành án
dân sự thành phố HD, tỉnh H, trả lại ng ty T1 số tiền 7.727.000 đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn quyền kháng cáo bản án
trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc,
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- VKSND khu vực 8, HP;
- Phòng THADS khu vực 8, HP;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn T
Tải về
Bản án số 34/2025/DS-ST Bản án số 34/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 34/2025/DS-ST Bản án số 34/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất