Bản án số 34/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TAND huyện Đắk G'Long, tỉnh Đắk Nông về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 34/2024/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 34/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TAND huyện Đắk G'Long, tỉnh Đắk Nông về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Đắk G'Long (TAND tỉnh Đắk Nông)
Số hiệu: 34/2024/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/09/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Thanh T yêu cầu bà Nguyễn Thị H trả số tiền gốc đã vay và khoản tiền lãi phát sinh
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK GLONG,
TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 34/2024/DS-ST
Ngày: 25/9/2024
V/v tranh chấp hợp đồng
vay tài sản.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hoài Phương
2. Bà Hoàng Thị Mỵ
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Nga Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Đắk Glong.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
tham gia phiên toà: Ông Trần Việt Hùng Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong,
tỉnh Đắk Nông xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 24/2024/TLST-
DS, ngày 05/4/2024 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXX-ST ngày 29/8/2024 Quyết định hoãn
phiên tòa số 43/2024/QĐST-DS ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện
Đắk Glong, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T (Có mặt), sinh năm 1968
Địa chỉ: bon S, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đ.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H (Có mặt), sinh năm 1969
Địa chỉ: thôn Đ, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đ.
- Người làm chứng: Chị Nguyễn Như Q (Có mặt), sinh năm 1998
Địa chỉ: thôn Đ, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện lời khai của nguyên đơn (ông Nguyễn
Thanh T) trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:
2
Do quen biết nhau H nói đang cần vốn để đầu tư mua nhà đất để
nên H gp ông T hỏi mượn s tin 470.000.000 đồng, ông T đã đồng ý
cho H n s tiền 470.000.000 đồng. Vào ngày 20/9/2022, ông T đã giao
cho bà H s tiền 460.000.000 đồng và bà H có nói cháu ch Nguyễn Như Q (con
gái H) viết giy vay tin, vay không lãi, thi hn tr n ngày 30/12/2022,
vay nhn ca H người làm chng ch Q, lp 01 bn do ông T gi
ngày hôm sau ông T tiếp tc giao thêm cho H s tiền 10.000.000 đồng
nhưng không lập giy t gì c ch ông T và H. Như vậy, tng cng ông
T đã cho bà H vay s tiền 470.000.000 đồng. Trong quá trình vay thì H đã
nhiu ln tr tin cho ông T nhưng không lập giy giao nhn cả. Tính đến
ngày 12/10/2023 thì bà H đã trả cho ông T được 200.000.000 đng và còn n li
s tiền 270.000.000 đồng. Do vy, ông T nói H xuống Văn phòng công
chứng để lp hợp đồng vay tiền đi vi s tin còn n 270.000.000 đng và
ngày 12/10/2023 tại Văn phòng công chứng T ti Q, huyện Đ đã lập hp
đồng vay tiền được công chng, theo hợp đồng vay tin thì ông T đã cho H
vay s tin 270.000.000 đng, thi hn vay 03 tháng k t ngày 12/10/2023, lãi
sut trong hn là 1,66%, không tha thun lãi quá hn; khi lp hợp đồng vay tin
vào ngày 12/10/2023 thì ông T không giao cho H s tin 270.000.000
đồng mà đây là số tin bà H đã vay trước đó và còn nợ lại 270.000.000 đồng nên
hai bên đã chốt li s n làm li hợp đồng vay tin; sau khi lp xong hp
đồng vay tin thì ông T đã tr li cho H bn gc ca giy vay tiền đ ngày
20/9/2022 vi s tiền vay 460.000.000 đồng. Đến thi hn tr n theo như hợp
đồng vay tin ngày 12/01/2024 ông T đã đến gp H đ yêu cu tr s tin
gốc đã vay và khon tiền lãi phát sinh nhưng bà H không tr cho ông T và ông T
đã nhiều lần đến gp và yêu cu bà H tr tiền đã vay nhưng vẫn không tr s tin
gc và tin lãi phát sinh và bà H còn có thái đ thách thc. Hin ông T đang độc
thân (không có vợ), đã ly hôn vợ t năm 2007, hiện chưa đăng ký kết hôn vi ai,
khon tin ông T cho H vay khon tin riêng ca ông T, không liên
quan đến ai c việc vay mượn tin ch ông T H giao dch vi nhau,
không còn ai khác. Do vy, ông T yêu cu Tòa án gii quyết buc H phi tr
cho ông T s tin gốc đã vay 270.000.000 đng, khon tin lãi trong hn
quá hn 31.374.000 đồng (03 tháng trong hn vi mc lãi sut 1,66%/tháng
và 08 tháng quá hn vi vi mc lãi sut là 0,83%/tháng t ngày 13/01/2024 cho
đến ngày 13/9/2024). Tng cng s tin gc lãi ông T yêu cu H phi tr
là 301.374.000 đồng.
Theo li trình bày ca b đơn (bà Nguyn Th H) trong quá trình gii
quyết v án:
H và ông Nguyn Thanh T chung sng với nhau như vợ chng t năm
3
2015 đến cuối năm 2023, trong thi gia chung sng vi nhau H cũng đã
nhiu lần mượn tin ca ông Nguyn Thanh T. Vào ngày 20/9/2022, ông T
cho bà H vay s tin s tiền 460.000.000 đồng và H nói cháu ch Nguyn
Như Q (con gái H) viết giy vay tin, vay không lãi, thi hn tr n ngày
30/12/2022, vay nhn ca H và người làm chng ch Q, lp 01 bn
do ông T gi. Trong quá trình vay, H đã trả cho ông T s tin 320.000.000
đồng ch còn n li s tiền 140.000.000 đồng, khi tr thì hai bên không lp
giy t c. Vào ngày 12/10/2023, ông T nói vi H cm th căn cước
công dân xung Văn phòng công chng T Văn Hoàng (ở Quảng Khê, Đắk
Glong) đ công chng hợp đồng vay tiền để ông T căn cứ đi đòi nợ người
khác, nghe ông T nói vy n H đã xung phòng công chng hợp đồng
vay tin, bà H cũng đã đọc li toàn b hợp đồng trước khi công chng thng
nht các ni dung trong hợp đồng vay tiền đề ngày 12/10/2023 ch trong
hợp đồng này là ca bà H và vic H ký là hoàn toàn t nguyện nhưng vic bà
H ký hợp đồng là do ông T nói ký để làm căn cứ đi đòi nợ ngưi khác và ti thi
đim ký hợp đồng vay tin thì không có vic giao nhân tin gì c mà trước đó
H mượn tin ca ông T nên ông T nói H hợp đồng vay tin. Hin H
đang độc thân (không chồng), đã ly hôn chng t năm 2018, hiện chưa đăng
kết hôn vi ai, khon tin H n ông T mượn riêng ông T, không
liên quan đến ai khác. H ch tha nhận mượn n ông Nguyn Thanh T
s tiền 140.000.000 đồng, s tin còn lại 130.000.000 đng H mượn ca
ông T nhiu lần nhưng để s dụng mua đồ ăn, phục v sinh hot chung hàng
ngày gia bà H và và ông T và gia đình trong thời gian chung sng cùng vi ông
T vào khong tháng 12/2023 H tr cho ông T s tiền 17.000.000 đồng,
tr bng tin mt, không lp giy t c không ai chng kiến ch
ông T và H biết. H ch đồng ý tr cho ông T s tin 140.000.000 đồng
khong tin lãi trong hn, quá hn ca s tiền 140.000.000 đng (theo tha
thuận như trong hợp đồng theo quy đnh ca pháp lut) phi tr đi số tin
đã trả 17.000.000 đồng, không đồng ý tr s tiền 130.000.000 đồng s tin
lãi ca s tiền này (do đây số tin vay ca ông T nhưng mục đích đ chi
tiêu sinh hot chung vi ông T).
Theo lời trình bày của chị Nguyễn Như Q (người làm chứng) tại phiên
tòa:
H (m ch Q) và ông Nguyn Thanh T có chung sng với nhau như vợ
chng t năm 2015 đến khong cuối năm 2023, trong thi gia chung sng vi
nhau thì H thường xuyên cùng nhà vi ông T. Vào ngày 20/9/2022, ông T
cho H vay s tiền 460.000.000 đồng nên H nói ch Nguyễn Như Q
(con gái H) xung viết giy vay tin nên ch Q đã viết giy vay tin giúp cho
4
H và ông T, cónhn vào giy vay tin với cách người làm chng,
nhn ca H, lp 01 bn do ông T gi, vay không lãi, thi hn tr n
ngày 30/12/2022. Ch Q cũng chỉ nghe bà H nói là ngày 20/9/2022 ông T có cho
H vay s tiền 460.000.000 đng, còn thc cht vic giao tin hay vay s tin
bao nhiêu đã tr đưc bao nhiêu, còn n li bao nhiêu thì ch Q cũng không
biết, không chng kiến.
Ti phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
V vic tuân theo pháp lut t tng dân s: trong quá trình gii quyết v án
ca Thm phán, Hội đồng xét x; vic chp hành pháp lut ca những người
tham gia t tng dân s k t khi th v án cho đến trước khi Hội đồng xét x
vào ngh án đều đã tuân thủ đúng các quy định ca pháp lut.
Về nội dung vụ án: căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm
a khoản 1 Điều 39, Điu 147 Điu 227 ca B lut t tng dân s năm 2015;
Điều 357, Điều 463, Điều 465, Điều 466 Điều 468 ca B lut dân s năm
2015; Điều 12 Điều 26 ca Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14, ngày
30/12/2016 ca Ủy ban thường v Quc hội quy định mc thu, min, gim, thu,
np, qun lý và s dng án phí và l phí Tòa án, đã đề ngh Hội đồng xét x:
Chp nhn yêu cu khi kin ca ông Nguyn Thanh T đối vi bà Nguyn
Th H v vic tranh chp hợp đồng vay tài sn, buộc Nguyễn Thị H phải
nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Thanh T tổng số tiền 301.374.000 đồng
(trong đó: nợ gốc là 270.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh 31.374.000 đồng).
Về án phí dân sự: Do bà Nguyễn Thị H là hộ nghèo thuộc trường hợp được
miễn nộp tiền án phí dân sự nên không phải nộp tiền án phí dân sự thẩm. Trả
lại cho ông Nguyễn Thanh T số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng: Về quan hệ pháp luật tranh chấp thẩm quyền giải
quyết vụ án: Ông Nguyễn Thanh T khởi kiện yêu cầu Nguyễn Thị H phải
thanh toán khoản tiền vay chưa thanh toán khoản tiền lãi phát sinh thợp
đồng vay tiền nên đây quan hệ pháp luật tranh chấp về hợp đồng vay tài sản.
Bị đơn thường trú sinh sống tại thôn Đ, Q, huyện Đ, tỉnh Đ. Do đó, theo
quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân huyện Đăk Glong, tỉnh Đắk Nông.
2. Về nội dung yêu cầu khởi kiên: Về số tiền ông T yêu cầu H phải trả
tổng số tiền là 301.374.000 đồng (Số nợ gốc là 270.000.000 đồng và tiền lãi phát
sinh 31.374.000 đồng).
2.1. Về số tiền nợ gốc đã vay là 270.000.000 đồng:
Xét lời trình bày của ông Nguyễn Thanh T (nguyên đơn) các tài liệu,
chứng cứ trong hồ sơ vụ án: Vào ngày 20/9/2022, ông T cho bà H vay số tiền
5
460.000.000 đồng (ông T trình bày cho H vay số tiền 470.000.000 đồng
nhưng không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ thể hiện đưa thêm cho
H vay 10.000.0000 đồng), vay không lãi, thời hạn trả nợ là ngày 30/12/2022, sau
khi thỏa thuận xong và giao tiền thì bà H có nhờ chị Nguyễn Như Q viết hộ giấy
vay tiền với cách người làm chứng, nhận của H giao cho
ông Thắng giữ. Trong quá trình vay, H đã trả cho ông T được một phần tiền
gốc; tính đến ngày 12/10/2022 H còn nợ lại ông T số tiền 270.000.000 đồng.
Do đó, vào ngày 12/10/2023 tại Văn phòng công chứng Tạ n Hoàng
Quảng Khê, huyện Đắk Glong ông T và H đã chốt lại số nợ kết lại hợp
đồng vay tiền được công chứng, theo hợp đồng thì số tiền vay 270.000.000
đồng, thời hạn vay 03 tháng tính từ ngày 12/10/2023, lãi suất trong hạn là 1,66%
ông T cung cấp cho Tòa án được bản gốc hợp đồng vay tiền được công
chứng.
Xét lời trình bày của bà Nguyễn Thị H (bị đơn) các tài liệu, chứng cứ
trong hồ sơ vụ án: Vào ngày 20/9/2022, bà H vay của ông T số tiền
460.000.000 đồng, vay không lãi, thời hạn trả nợ ngày 30/12/2022, sau khi
thỏa thuận xong và giao tiền thì bà H có nhờ chị Nguyễn Như Q viết hộ giấy vay
tiền và ký với tư cách người làm chứng, có ký nhận của bà H và giao cho ông T.
Trong quá trình vay, H cho rằng đã trả cho ông T được một phần tiền gốc
320.000.000 đồng chỉ còn nợ lại 140.000.000 đồng nhưng H không cung
cấp được các tài liệu, chứng cứ thể hiện đã trả cho ông T được số tiền
320.000.000 đồng. Vào ngày 12/10/2023 tại n phòng công chứng Tạ Văn
Hoàng Quảng Khê, huyện Đắk Glong giữa ông T H đã kết lại hợp
đồng vay tiền được công chứng, theo hợp đồng thì số tiền vay 270.000.000
đồng, thời hạn vay 03 tháng tính từ ngày 12/10/2023, lãi suất trong hạn
1,66%; H cũng thừa nhận chữ trong hợp đồng vay tiền của H
trước khi đã đọc toàn bộ nội dung không bị ai cưỡng ép, ép buộc .
Trong qtrình giải quyết vụ án thì H thừa nhận vay ông T tổng số
tiền 270.000.000 đồng nhưng chỉ còn nợ ông T số tiền 140.000.000 đồng (đồng
ý trả gốc lãi), còn lại số tiền 130.000.000 đồng vay của ông T nhưng sử
dụng vào việc mua đồ ăn, sinh hoạt gia đình trong thời gian chung sống cùng
ông T nên không đồng ý trả số tiền 130.000.000 đồng nhưng H không chứng
minh được số tiền này đsdụng chung với ông T; ngoài ra H cho rằng
vào khoảng tháng 12/2023 trả thêm cho ông T 17.000.000 đồng tiền mặt
nhưng không cung cấp được giấy tờ thể hiện đã trả cho ông T số tiền này; tại
phiên tòa thì H cho rằng ợn của ông T số tiền 460.000.000 đồng đã
trả cho ông T 320.000.000 đồng chỉ còn nợ lại ông T 140.000.000 đồng
gần đây có trả thêm cho ông T được 17.000.000 đồng tiền mặt nhưng bà H cũng
không cung cấp được tài liệu, chứng cứ thể hiện thể hiện đã trả cho ông T
được stiền 320.000.000 đồng đã vay trước đó và số tiền 17.000.000 đồng. Do
vậy, việc bà H trình bày đã trả cho ông T 02 lần, một lần là 320.000.000 đồng và
một lần là 17.000.000 đồng là không có căn cứ.
Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng chứng cứ
do nguyên đơn, bị đơn cung cấp đã thể hiện: Vào ngày 20/9/2022, ông T đã cho
6
H vay số tiền 460.000.000 đồng (vay không lãi), trong quá trình vay thì H
đã nhiều lần trả nợ cho ông T, tính đến ngày 12/10/2023 thì H còn nợ lại ông
T số tiền 270.000.000 đồng nên giữa hai bên đã thống nhất với nhau đến Văn
phòng công chng Tạ Văn Hoàng tại xã Quảng Khê để chốt lại số nợ và lập hợp
đồng vay tiền mới. Ngày 12/10/2023 tại Văn phòng công chứng Tạ Văn Hoàng
hai bên đã lập hợp đồng vay tiền được công chứng, vay số tiền 270.000.000
đồng, thời hạn vay 03 tháng kể từ 12/10/2023, lãi trong hạn 1,66%, không
thỏa thuận lãi quá hạn. Như vậy, việc các bên giao kết hợp đồng vay tiền
thật, hình thức nội dung thỏa thuận việc vay tiền giữa các bên như trong
hợp đồng hoàn toàn tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật. Đến
thời hạn trả nợ ngày 12/01/2024 H đã không trả cho ông T số tiền đã vay
theo cam kết là vi phạm nghĩa vụ trả nợ.
Theo Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
“Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay
giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho
vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng…”
Tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự quy định:
“1. Bên vay tài sn tin thì phi tr đủ tiền khi đến hn; nếu tài sn
vt thì phi tr vt cùng loại đúng số ng, chất lượng, tr trường hp tha
thuận khác”.
Từ những phân tích trên căn cứ vào quy định của Bộ luật dân sự, việc
ông T khởi kiện yêu cầuH phải trả số tiền gốc đã vay là 270.000.000 đồng
có căn cứ và cần chấp nhận.
2.2. Về khoản tiền lãi phải thanh toán là 31.374.000 đồng:
Theo nguyên đơn trình bày và hợp đồng vay tiền do nguyên đơn cung cấp
thì đã thể hiện: H vay của ông T số tiền 270.000.000 đồng, thỏa thuận lãi
suất trong hạn từ ngày 12/10/2023 đến ngày 12/01/2024 (03 tháng) với mức
1,66%/tháng là phù hợp với quy định của pháp luật nên H phải trả cho ông T
số tiền lãi trong hạn là 13.446.000 đồng (270.000.000 đồng x 1,66% x 03 tháng).
Từ ngày 13/01/2024 trở đi bà H không trả cho ông T số tiền gốc theo thỏa thuận
nên khoản tiền gốc chuyển sang nợ quá hạn ông T chỉ yêu cầu H phải trả
khoản tiền lãi quá hạn từ ngày 13/01/2024 đến ngày 13/9/2024 với số tiền
17.928.000 đồng (270.000.000 đồng x 0,83% x 08 tháng) là phù hợp.
Tại Điều 280 (Thực hiện nghĩa vụ trả tiền) của Bộ luật dân sự đã quy định:
2. Nghĩa vụ tr tin bao gm c tin lãi trên n gc, tr trường hp có tho
thun khác.
Điều 357. Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền
1. Trường hợp bên nghĩa vụ chm tr tiền thì bên đó phi tr lãi đối
vi s tin chm tr tương ng vi thi gian chm tr.
7
2. Lãi sut phát sinh do chm tr tiền được xác định theo tha thun ca
các bên nhưng không được vượt quá mc lãi suất được quy định ti khon 1
Điu 468 ca B lut này; nếu không tha thun thì thc hiện theo quy đnh
ti khoản 2 Điều 468 ca B lut này.”
Điều 468. Lãi suất
1. Lãi sut vay do các bên tha thun.
Trường hp các bên tha thun v lãi sut thì lãi sut theo tha thun
không được vượt quá 20%/năm của khon tin vay, tr trường hp lut khác
liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thc tế theo đề xut ca Chính
ph, Ủy ban thưng v Quc hi quyết định điu chnh mc lãi sut nói trên
báo cáo Quc hi ti k hp gn nht.
Trường hp lãi sut theo tha thuận vượt quá lãi sut gii hạn được quy
định ti khon này thì mc lãi suất vượt quá không có hiu lc.
2. Trường hp các bên có tho thun v vic tr lãi, nhưng không xác định
rõ lãi sut và có tranh chp v lãi sut thì lãi suất được xác định bng 50% mc
lãi sut gii hạn quy định ti khoản 1 Điều này ti thời điểm tr n.”.
Từ những phân tích trên và căn cứ vào các quy định của Bộ luật dân sự cho
thấy việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả tổng số tiền lãi là 31.374.000 đồng
(lãi trong hạn là 13.446.000. đồng lãi quá hạn 17.928.000 đồng) căn
cứ và cần chấp nhận.
3. Về án phí dân sự thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự
Điều 12, Điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý sử dụng án phí lphí Tòa án: Do bị đơn là hnghèo thuộc
đối tượng được miễn nộp án phí dân sự nên bị đơn không phải nộp án phí dân sự
sơ thẩm. Trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp 7.422.000
đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk Glong.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đk Glong tại
phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 ca B lut t tng dân sự; Điều 274, Điều
280, Điều 357, Điều 401, Điều 463, Điều 465, Điều 466 và Điều 468 ca B
lut dân s năm 2015; Điu 12 khoản 2 Điều 26 ca Ngh Quyết s
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 ca y ban Tng v Quc hi quy
định mc thu, min, gim, thu, np, qun lý và s dng án phí và l phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (ông Nguyễn
Thanh T) đối với bị đơn (bà Nguyễn Thị H) về việc tranh chấp hợp đồng vay tài
sản.
8
1. Buc Nguyn Th H phi thanh toán cho ông Nguyn Thanh T tng
s tin 301.374.000 đồng (Ba trăm lẻ mt triệu ba trăm bảy mươi bn nghìn
đồng), trong đó: s n gc là 270.000.000 đồng (Hai trăm bảy mươi triệu)s
tin lãi 31.374.000 đồng (Ba mươi mốt triu ba trăm bảy mươi bốn nghìn
đồng).
K t ngày bn án hiu lc pháp luật (đối với trường hợp quan thi
hành án quyn ch động ra quyết định) hoc k t ngày đơn yêu cu thi
hành án của người được thi hành án (đối vi các khon tin phi tr cho người
được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tt c các khon tin, hàng tháng
bên phi thi hành án còn phi chu khon tin lãi ca s tin còn phi thi hành án
theo mc lãi suất quy định ti khoản 2 Điều 468 ca B lut dân s năm 2015.
2. Về án phí dân sự thẩm: Nguyễn Thị H được miễn nộp tiền án phí
dân s thẩm. Trả lại cho ông Nguyễn Thanh T số tiền 7.422.000 đồng (Bảy
triệu bốn trăm hai mươi hai nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số
0002030 ngày 05/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Glong, tỉnh
Đắk Nông.
3. V quyn kháng cáo: Nguyên đơn, b đơn mặt ti phiên tòa quyn
kháng cáo bn án trong thi hn 15 ngày k t ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7, 7a, 7b 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đắk Nông;
- VKSND huyện Đắk Glong (02);
- Chi Cc THADS huyện Đ;
- Các đương sự;
- Lưu HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X SƠ THẨM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Trung Dũng
Tải về
Bản án số 34/2024/DS-ST Bản án số 34/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 34/2024/DS-ST Bản án số 34/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất