Bản án số 33/2021/DS-PT ngày 26/08/2021 của TAND tỉnh Đắk Nông về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 33/2021/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 33/2021/DS-PT ngày 26/08/2021 của TAND tỉnh Đắk Nông về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Nông
Số hiệu: 33/2021/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/08/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bạch T với bị đơn bà Lê Thị H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Danh Đại.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tài Sử và bà Phạm Thị Thông.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Mỹ Trang, Tviên của a án
nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa:
Vương Thị Bắc Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 33/2021/TLPT-DS ngày 19
tháng 7 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”,
Do Bản án dân sự thẩm số: 13/2021/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2021
của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo,
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 37/2021/QĐ-PT ngày
13 tháng 8 năm 2021 giữ a các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bạch T; địa chỉ: Tổ dân phố 06, phường N1,
thành phố G, tỉnh Đắk Nông Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Phạm Thị M; địa chỉ: Tổ
dân phố 06, phường N1, thành phố G, tỉnh Đắk Nông (theo văn bản ủy quyền
ngày 03-4-2020) Có mặt.
- Bị đơn: Thị H; địa chỉ: Tổ dân phố 01, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh
Đắk Nông – đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lâm Thị Ly N; địa chỉ: Tổ
dân phố H, phường Q, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Ngô Văn P; địa chỉ: Tổ dân phố 08, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk
Nông Vắng mặt.
2. Ông Phan Văn N; địa chỉ: Tổ dân phố 02, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk
Nông Vắng mt.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 33/2021/DS-PT
Ngày 26-8-2021
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
3. Bà Trần Thị B; địa chỉ: Tổ 03, phường N2, thành phố G, tỉnh Đắk Nông
Có mặt.
4. Lương Thị Th; địa chỉ: Tổ 04, phường N2, thành phố G, tỉnh Đắk
Nông Có mặt.
5. Trần Thị Kim C; địa chỉ: Tổ 03, phường N2, thành phố G, tỉnh Đắk
Nông Có mặt.
- Người kháng cáo: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Phạm
Thị M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 24-4-2020 quá trình giải quyết vụ án,
nguyên đơn người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày
18-3-2017, Nguyễn Thị Bạch T cho bà Thị H vay 22.000.000 đồng, H
viết giấy vay tiền hẹn cứ 10 ngày sthanh toán 5.000.000 đồng. Ngày 10-12-
2018, T tiếp tục cho H vay thêm 22.000.000 đồng, bà H viết giấy vay tiền
và hứa trả góp mỗi ngày 1.000.000 đồng, tuy nhiên bà H không trả đúng hẹn như
đã hứa. Do đó, bà T khởi kiện yêu cầu bà H phải trả khoản gốc của 02 lần vay
44.000.000 đồng lãi suất theo quy định. Ngày 15-4-2021, T rút một phần
yêu cầu khởi kiện đối với số tiền gốc 15.000.000 đồng trong giấy vay tiền năm
2017 do bà H đã trả số tiền này (thông qua Lâm Thị Ly N được bà T ủy quyền
đi đòi thay) và đề nghị tính lãi suất đến ngày xét xử sơ thẩm.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Thị H trình bày: Ngày 10-12-
2018, bà viết giấy vay của T stiền 22.000.000 đồng, thời hạn vay 22
ngày nhưng thực tế chnhận 20.000.000 đồng. Số tiền trên đã trả đủ cho
bà T hai lần, lần đầu trả 7.000.000 đồng tại quán của bà tọa lạc tại thị trấn K, lần
hai nhờ ông Ngô Văn P chuyển trả 15.000.000 đồng cho Lâm Thị Ly N
(T ủy quyền cho N đi đòi nthay). Đối với Giấy hẹn nợ ngày 18-3-2017
không phải do viết T người viết thêm vào chữ s2017. Do đó,
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T về việc buộc phải trả số tiền
7.000.000 đồng vay năm 2017 và 22.000.000 đồng vay năm 2018.
Quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Lâm Thị Ly N trình bày: T ủy quyền cho đòi nợ của H số tiền
22.000.000 đồng theo Giấy hẹn nngày 18-3-2019. đã trực tiếp đi đòi nhiều
lần bà H đã chuyển khoản trả cho tổng số tiền 15.000.000 đồng. Stiền
này bà đang giữ và đã thỏa thuận với bà T là sẽ trả cho bà T sau.
Quá trình giải quyết vụ án, những người làm chứng trình bày:
- Ông Ngô Văn P: Ông thường xun chở hàng cho H tnăm 2017 đến
nay. Ông không biết việc T cho H vay tiền nhưng biết việc T
N đòi tiền bà H, trong đó hai lần ông báo cho Công an thị trấn K xuống làm
việc. H đã nhờ ông chuyển tiền cho bà N nhiều lần, cụ thể: Ngày 17-7-2019
chuyển 2.000.000 đồng; ngày 31-3-2019 chuyển 2.000.000 đồng; ngày 25-6-
2019 chuyển 3.000.000 đồng; ngày 05-7-2019 chuyển 2.500.000 đồng; ngày 27-
11-12019 chuyển 2.500.000 đồng, các lần chuyển tiền này ông đều lưu tin nhắn;
3
một lần chuyển 3.000.000 đồng ông không còn lưu tin nhắn trong điện thoại;
tổng số tiền ông đã chuyển cho bà N 15.000.000 đồng.
- Ông Phan Văn N: Khoảng cuối năm 2018, ông đang làm cán bộ Công an
thị trấn K, huyện Đ thì T đến đòi tiền H làm mất an ninh trật tự tại địa
phương nên Công an thị trấn K mời bà T bà H lên làm việc. Qua làm việc xác
định H vay của T 22.000.000 đồng theo Giấy hẹn nnăm 2018 nhưng
H đã trả cho T 7.000.000 đồng, còn lại 15.000.000 đồng H hứa đến
ngày 28 Tết sẽ trả cho bà T 10.000.000 đồng, qua năm 2019 sẽ trả hết 5.000.000
đồng còn lại. Tuy nhiên, việc bà H giao tiền cho bà T lúc nào thì ông không biết.
- Bà Trần Thị B, Lương Thị Th, Trần Thị Kim C: Các cùng buôn
bán tại chợ G với T và nghe T kể lại khoảng năm 2016, T cho H
vay số tiền 22.000.000 đồng nhưng đến nay H vẫn chưa trả. Các không
trực tiếp chứng kiến việc vay mượn này mà chỉ nghe bà T kể lại.
Bản án dân sự thẩm số: 13/2021/DS-ST ngày 11-6-2021 của Tòa án
nhân dân huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông đã quyết định: Căn cứ khoản 3 Điều
26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều
228 của Bộ luật tố Tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, khoản 1 Điều 468 của Bộ
luật Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban
thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản sử
dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của
bà T, buộc bà H phải trả cho bà T 8.709.400 đồng theo Giấy mượn tiền ngày 10-
12-2018, gồm 7.000.000 đồng tiền gốc 1.709.400 đồng tiền lãi; không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của T về việc buộc H phải trả số tiền 22.000.000
đồng theo Giấy hẹn nợ ghi ngày 18-3-2017; đình chỉ yêu cầu khởi kiện của T
đối với số tiền 15.000.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ chậm thi hành án,
chi phí giám định, án phí và thông báo quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 23-6-2021, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Phạm
Thị M kháng cáo một phần bản án thẩm, đnghị Tòa án cấp phúc thẩm buộc
H phải trả cho T số tiền 22.000.000 đồng theo Giấy hẹn nợ ngày 18-3-
2017; bà T là người cao tuổi nhưng Tòa án cấp thẩm lại buộc T phải chịu
1.100.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm là không đúng quy định.
Ti phn a, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; ni đại diện theo
ủy quyn của nguyên đơn ginguyên yêu cầu khi kiện u cầu kng o.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông:
- Về tố tụng: Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, các Thẩm phán tham gia, Thư
ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá
trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều
309 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà M về việc
buộc bà H phải trả cho T số tiền 22.000.000 đồng theo Giấy hẹn nợ ngày 18-
4
3-2017; chấp nhận một phần kháng cáo của M về việc miễn án phí dân sự
thẩm cho bà T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Đơn kháng cáo của Phạm Thị M nộp trong thời hạn luật định. M
người kháng cáo nhưng Tòa án cấp thẩm lại thông báo miễn tạm ứng án
phí phúc thẩm cho T không phù hợp. Tuy nhiên, do M cũng người
cao tuổi đã đơn xin miễn tạm ứng án phí nên được miễn tạm ứng án phí
phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[2]. Xét kháng cáo củ a người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà
Phạm Thị M; căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ vụ án đã
được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa:
[2.1]. Đối với kháng cáo yêu cầu H phải trả cho T số tiền 22.000.000
đồng theo Giấy hẹn nợ ngày 18-3-2017, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1.1]. T cung cấp giấy viết tay ngày 18-12-2018 thể hiện bà H mượn của
T số tiền 22.000.000 đồng. H thừa nhận điều y n đây nh tiết không
phải chứng minh theo quy định khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.1.2]. Đối với Giấy hẹn nợ ngày 18-3-2017 do T cung cấp thể hiện bà
H mượn của T 22.000.000 đồng hẹn trả thành 04 lần: Ngày 28-3-DL trả
5.000.000 đồng; ngày 08-4-DL trả 5.000.000 đồng; ngày 18-4-DL trả 5.000.000
đồng; ngày 28-4-DL trả 7.000.000 đồng, bà H không thừa nhận điều này mà cho
rằng giấy này được viết vào ngày 18-3-2019, mục đích để hẹn lại thời gian thanh
toán của khoản vay ngày 18-12-2018, Hội đồng xét xử xét thấy: H cung cấp
Giấy hẹn nngày 18-3-2019 thể hiện H thiếu của T 22.000.000 đồng
hẹn trả thành 04 lần: Ngày 28-3-DL trả 5.000.000 đồng; ngày 8-4-DL trả
5.000.000 đồng; ngày 18-4-DL trả 5.000.000 đồng; ngày 28-4-DL trả 7.000.000
đồng. Như vậy, nội dung của 02 Giấy hẹn nợ năm 2017 và năm 2019 giống nhau
về tiêu đề, số tiền và thời hạn trả nợ.
Tại Kết luận giám định số: 17/GĐTL-PC09 ngày 22-02-2021 của Phòng kỹ
thuật hình sCông an tỉnh Đắk Nông kết luận: Chữ số “2017” trong Giấy hẹn
nợ 18-3-DL2017 là chữ số điền thêm”.
Mặt khác, Giấy hẹn nợ ngày 18-3-2017 nội dung: Tôi Thị H đang
bán tại chợ K”. Tuy nhiên, H cung cấp Hợp đồng thuê nhà thể hiện ngày 01-
01-2018, bà H mới bắt đầu thuê nhà của Nguyễn Thị H tọa lạc tại tổ dân phố
01, thị trấn K Đơn xin xác nhận đề ngày 11-6-2021 chữ của một số hộ
dân về việc bà H bắt đầu sinh sống tại thị trấn K từ năm 2018. Đồng thời, căn cứ
Danh sách đăng ký tạm trú của Công an thị trấn K thì ngày 01-6-2018, bà H mới
đăng ký tạm trú tại địa phương.
Tại phiên tòa, M đnghị bổ sung một sngười làm chứng gồm bà Trần
Thị B, Lương Thị Th, Trần Thị Kim C và được Hội đồng xét xchấp
nhận. Tuy nhiên, B, Th bà C không trực tiếp chứng kiến việc H vay
tiền của T theo Giấy hẹn nngày 18-3-2017 mà chỉ nghe T klại. Do đó,
không có căn cứ để chấp nhận lời khai ca những người làm chứng này.
5
Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ khẳng định Giấy hẹn nngày 18-3-
2017 Giấy hẹn nợ ngày 18-3-2019 thực chất cùng một nội dung được viết
thành 02 bản vào thời điểm ngày 18-3-2019 giấy H hẹn lại thời gian trả
nợ cho bà T đối với khoản vay 22.000.000 đồng ngày 18-12-2018. Do đó, không
căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà M về việc buộc bà H phải trả cho bà T s
tiền 22.000.000 đồng theo Giấy hẹn nợ ngày 18-3-2017.
[2.2]. Đối với kháng cáo cho rằng T người cao tuổi nhưng Tòa án cấp
thẩm lại buộc bà T phải chịu 1.100.000 đồng án phí dân sự thẩm không
đúng quy định, Hội đồng xét xử xét thấy: T sinh năm 1947, tại thời điểm xét
xử thẩm T 74 tuổi, là người cao tuổi theo quy định tại Điều 2 Luật người
cao tuổi. Theo điểm đ khoản 1 Điều 12 khoản 1 Điều 14 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng án phí lệ phí Tòa
án thì T thuộc diện được miễn án phí nhưng phải đơn đề nghị gửi cho Tòa
án. Quá trình giải quyết vụ án, T không đơn đề nghị miễn án phí nên Tòa
án cấp thẩm không miễn án phí dân sự thẩm cho T căn cứ, đúng
pháp luật. Tuy nhiên, tại giai đoạn phúc thẩm, bà M làm đơn xin miễn án phí
cho bà T (có chữ ký của bà T cuối đơn). Do đó, căn cứ chấp nhận một phần
kháng cáo của bà M, sửa mt phần bản án sơ thẩm theo hướng miễn án phí dân
sự sơ thẩm cho bà T.
[2.3]. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát căn cứ nên
Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3]. V án phí dân s phúc thm: Bà M không phi chu án phí dân s phúc thm.
[4]. Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng
Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
điểm đ khoản 1 Điều 12,
khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của Phạm Thị M về việc buộc Thị
H phải trả cho Nguyễn Thị Bạch T số tiền 22.000.000đ (hai mươi hai triệu
đồng) theo Giấy hẹn nợ ngày 18-3-2017.
2. Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Phạm Thị M, miễn án phí dân s
thẩm cho Nguyễn Thị Bạch T. Trả lại cho Nguyễn Thị Bạch T số tiền
1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã np theo Biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000161 ngày 08-5-2020 của Chi cục Thi
hành án Dân sự huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
3. Bà Phạm Thị M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
6
4. Các nội dung khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại TPHCM;
- VKSND tỉnh Đắk Nông;
- VKSND huyện Đắk R’lấp;
- TAND huyện Đắk R’lấp;
- Chi cục THADS huyện Đ;
- Các đương sự;
- Lưu: Tòa dân sự; Tổ Hành chính
tư pháp; hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN T
(Đã ký tên, đóng dấu)
Bùi Danh Đại
Tải về
Bản án số 33/2021/DS-PT Bản án số 33/2021/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất