Bản án số 316/2024/DS-ST ngày 20/11/2024 của TAND TP. Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 316/2024/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 316/2024/DS-ST ngày 20/11/2024 của TAND TP. Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Tam Kỳ (TAND tỉnh Quảng Nam)
Số hiệu: 316/2024/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/11/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 161 và Điều 162, khoản 1, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 117 và Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TAM KỲ
TỈNH QUẢNG NAM
Bản án số: 316/2024/DS-ST
Ngày: 20-11-2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng
đặt cọc
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Thị Thúy Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thông
Bà Trần Thị Đông
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hiệp-Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam tham
gia phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Anh Vân-Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ,
tỉnh Quảng Nam mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ số
92/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt
cọc”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng
10 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trương T, sinh năm 1979; địa chỉ: Số 8 đường A,
phường X, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bị đơn:
+ Ông Nguyễn Minh Q, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn A, xã P, thành phố T,
tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
+ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn H, T, thành phố T, tỉnh
Quảng Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kin, bn t khai ti phiên tòa nguyên đơn ông Trương Vũ T
trình bày:
o ngày 21/11/2023 gia ông và v chng ông Nguyễn Minh Q và bà
Nguyễn Thị T Hợp đồng đặt cọc về việc mua bán nhà đất, theo đó ông Q
(Bên B) chuyển nhượng cho ông (Bên A) thửa đất tài sản gắn liền với đất
là căn nhà cấp bốn tại thửa đất số 860, tờ bản đồ số 23, tại địa chỉ P, thành phố T,
tỉnh Quảng Nam, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 446622, số vào sổ
2
cấp giấy chứng nhận CH 03042, do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày
29/12/2006. Giá chuyển nhượng1.200.000.000 đồng, ông đã đặt cọc cho ông Q,
T 350.000.000 đồng ông đã chuyển số tiền này o tài khoản của T mtại
Nn hàng Công Thương, chi nhánh Quảng Nam vào ngày 21 ngày 22/11/2023.
Hai bên thỏa thuận thời hạn đặt cọc 4 tháng, kể từ ngày 21/11/2023 đến ny
21/3/2024 hai n sẽ tới Phòng công chứng để lập ng chứng hợp đồng chuyn
nhượng quyền sử dụng đất. Hai bên thỏa thuận nếu bên A từ chối giao kết thực
hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì mất số tiền đặt cọc, nếu bên B từ chối
giao kết thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì trlại cho bên A số
tiền đặt cọc chịu phạt cọc với số tiền gấp hai stiền đã nhận cọc. Khi hai bên
hợp đồng đặt cọc thì ông Q, T đang thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
này cho Ngân hàng TMCP Đông Nam Á, chi nhánh Quảng Nam để vay tiền. Đến
thời hạn đã ghi ở trên hai bên cùng bàn bạc thỏa thuận phương án rút giấy chứng nhận
về để công chứng chuyển nhượng, ông Q trách nhiệm làm các thủ tục về pháp
chuyển nhượng giao giấy chứng nhận tại phòng công chứng cho ông. Tuy nhiên
đến thời hạn trên ông Q và bà T trốn tránh, cố ý không hợp tác và chặn tất cả số điện
thoại của ông, không thực hiện đúng nội dung đã thỏa thuận tại hợp đồng đặt cọc,
không thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất
cho ông. Do đó ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Q, T phải có nghĩa vụ trả
lại cho ông stiền mà ông đã đặt cọc cho ông Q, T 350.000.000 đồng phạt
cọc số tiền 350.000.000 đồng, tổng cộng 700.000.000 đồng. Tuy nhiên tại phiên a
hôm nay, ông rút một phần yêu cầu khởi kiện về phạt cọc số tiền 200.000.000 đồng,
chỉ u cầu ông Q, T trả lại cho ông 350.000.000 đồng đặt cọc phạt cọc
150.000.000 đồng, tổng cộng 500.000.000 đồng.
- Bị đơn ông Nguyễn Minh bà Nguyễn Thị T: Quá trình giải quyết vụ án,
Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng (thông báo thụ lý vụ án, thông báo
về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, ng khai chứng cứ hòa giải…) cho ông
Q T hợp lệ nhưng ông Q, T không đến Tòa án để tham gia các phiên họp,
hòa giải và các phiên tòa theo các thông báo của Tòa án và cũng không có ý kiến trình
bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Vviệc tuân theo pháp luật tố
tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa, của nguyên đơn kể từ khi
thụ vụ án cho đến tại phiên tòa là đúng pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng
quy định của pháp luật. Vnội dung vụ án, đnghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản
1, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng Dân sự đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu đã
rút áp dụng Điều 117, Điều 328, Điều 351, Điều 418 Bộ luật Dân sự năm 2015 xử
chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về buộc bị đơn phải trả cho
nguyên đơn số tiền 500.000.000 đồng, trong đó 350.000.000 đồng đặt cc và
150.000.000 đồng pht cc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
3
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn ông Trương Vũ T khởi kiện bị đơn ông Nguyễn Minh Q
trú tại P và Nguyễn Thị T trú tại T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam v
việc yêu cầu ông Q, bà T phải trả lại số tiền đã nhận đặt cọc và phạt cọc. Do đó yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam Tòa án thành phố Tam Kỳ xác định quan hệ
pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng đặt cọctheo khoản 3 Điều 26, điểm
a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[1.2] Tại đơn khởi kiện, ng nquá trình giải quyết ván nguyên đơn yêu
cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn 350.000.000 đồng mà
nguyên đơn đã đặt cọc cho bị đơn và phạt cọc số tiền 350.000.000 đồng. Tuy nhiên
tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn rút 1 phần yêu cầu khởi kiện (rút yêu cầu phạt cọc
số tiền 200.000.000 đồng), chỉ yêu cầu bị đơn trả cho nguyên đơn 350.000.000 đồng
đặt cọc phạt cọc 150.000.000 đồng. Xét thấy việc t một phần yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn tự nguyện, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 244 Bộ
luật Tố tụng dân sự đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu đã rút.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được Tòa án niêm yết hợp lệ các văn
bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do. Do đó, Hội
đồng xét xử căn cứ Điều 227 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến
hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Nguyên đơn khi kin yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải trả lại
cho nguyên đơn 350.000.000 đồng đặt cọc và phạt cọc 150.000.000 đồng:
Quá trình gii quyết v án b đơn vng mặt, do đó nguyên đơn đề ngh giám
định ch ký, ch viết ca b đơn trong Hợp đồng đt cc v vic mua bán nhà đất
ngày 21/11/2023. Ngày 26/8/2024 Tòa án đã Quyết định trưng cầu giám định
ch ký, ch viết đứng tên ông Nguyễn Minh Q và bà Nguyễn Thị T trong Hợp đồng
đặt cc v vic mua bán nhà đt ngày 21/11/2023. Tại Kết luận giám định số
477/KL-KTHS ngày 16/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng
Nam kết luận: Chữ ký, chữ viết họ tên Nguyễn Minh Q (dưới chữ ký) trên tài liệu
cần giám định hiệu A so với chữ ký, chviết họ tên Nguyễn Minh Q (dưới ch
ký) trên các tài liệu mẫu so sánh hiệu từ M1 đến M6 do cùng một người ký,
viết ra; chữ ký, chữ viết họ tên Nguyễn Thị T (dưới chữ ký) trên tài liệu cần giám
định hiệu A so với chký, chữ viết họ tên Nguyễn Thị T (dưới chữ ký) trên các
tài liệu mẫu so sánh hiệu từ M5 đến M8 do cùng một người ký, viết ra. Do đó
Hội đồng xét xử có cơ sở xác định chữ ký, chữ viết họ tên (dưới chữ ký) trong Hp
đồng đặt cc v vic mua bán nhà đất ngày 21/11/2023 chữ ký, chữ viết của bị
đơn ông Nguyn Minh Q và bà Nguyễn Thị T.
[2.2] Thấy rằng Hợp đồng đặt cọc về việc mua bán nhà đất ngày
21/11/2023 được kết bởi c chthể đầy đủ ng lực nh vi dân sự, việc
kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc hay lừa dối, nội dung thỏa
thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức hội ... có đầy
4
đủ các nội dung như: Đối tượng đặt cọc, giá chuyển nhượng, thời hạn thanh toán, v
phạt cọc... Do đó n cứ Điều 117 Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015 Hội đồng
xét xử xác định hợp đồng đặt cọc ngày 21/11/2023 hiệu lực.
[2.3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả lại
cho nguyên đơn 350.00.000 đồng mà nguyên đơn đã đặt cọc cho bị đơn phạt cọc
bị đơn 150.000.000 đồng thì thấy: Tại Hợp đồng đặt cọc về việc mua bán nhà đất
ngày 21/11/2023 hai bên thỏa thuận vợ chồng bị đơn chuyển nhượng cho nguyên
đơn quyền sử dụng đất ngôi ncấp bốn gắn liền với đất tại thửa đất số 860, t
bản đồ số 23, tại P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. G chuyển nhượng
1.200.000.000 đồng, nguyên đơn đã đặt cọc cho bị đơn 350.000.000 đồng. Hai bên
thỏa thuận trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày 21/11/2023 hai n sẽ tới phòng công
chứng để lập hợp đồng chuyển nhượng nguyên đơn đã chuyển số tiền đặt
cọc o i khoản s0363626256 của bđơn bà T mtại Ngân hàng Công Thương,
chi nhánh Quảng Nam vào ngày 21 và ngày 22/11/2023 (đã có sao của Ngân hàng
Công Thương, chi nhánh Quảng Nam), vì tại thời điểm này vợ chồng bị đơn đang thế
chấp thửa đất này cho Nn hàng TMCP Đông Nam Á, chi nhánh Quảng Nam để
vay tiền. Tuy nhiên sau khi hết thời hạn 04 tháng, nguyên đơn đã nhiều lần liên hệ
với bị đơn nhưng bị đơn trốn tránh, không hợp tác chặn số điện thoại của nguyên
đơn. Như vậy bị đơn đã vi phạm thời hạn kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 2 của Hợp
đồng đặt cọc ngày 21/11/2023: “Thời hạn đặt cọc là 04 tháng, kể tngày 21/11/2023
hai n sẽ tới phòng công chứng để lập hợp đồng chuyển nhượng”, nhưng
cũng không trả lại tiền cho nguyên đơn. Đồng thời qua kết quả cung cấp thông tin
của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á, chi nhánh Quảng Nam thì bị đơn đã tất toán
khoản nợ bị đơn đã vay của Nn hàng TMCP Đông Nam Á, chi nhánh Quảng
Nam và ngân hàng đã trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này
cho bị đơn (theo Biên bản giao nhận ngày 17/5/2024), nhưng bị đơn cũng không liên
hệ với nguyên đơn để tìm hướng giải quyết. Như vậy việc bị đơn vi phạm thỏa thuận
tại hợp đồng đặt cọc đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của nguyên
đơn, do đó nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải trả cho nguyên
đơn số tiền 500.000.000 đồng, trong đó 350.000.000 đồng đặt cọc phạt cọc
150.000.000 đồng phù hợp với nội dung hai bên đã thỏa thuận tại Điều 3 của Hợp
đồng đặt cọc ngày 21/11/2023 là nếu n B từ chối giao kết và thực hiện việc chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thì trả lại cho n A số tiền đặt cọc chịu phạt cọc với
số tiền gấp hai số tiền đã nhận cọc và đúng với quy định tại Điều 328 Bộ luật Dân sự
năm 2015n Hội đồng xét xử chấp nhận u cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.4] Án phí và chi phí tố tụng khác:
- Về án phí dân sự thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp
nhận nên bị đơn phải chịu án pn sự thẩm giá ngạch là 24.000.000 đồng
[400.000.000 đồng 20.000.000 đồng + (100.000.000 đồng x 4% = 4.000.000
đồng) = 24.000.000 đồng].
- Chi phí giám định: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận
nên bị đơn phải chịu chi phí giám định là 5.125.000 đồng.
5
các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 161 Điều 162, khoản 1, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng Dân sự năm
2015; Điều 117 Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
[1] Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương
T đối với bị đơn ông Nguyễn Minh Q và Nguyễn Thị T về yêu cầu phạt cọc
số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng.
[2] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương T
đối với bị đơn ông Nguyễn Minh Q và Nguyễn Thị T về việc “tranh chấp hợp
đồng đặt cọc”.
Buộc ông Nguyễn Minh Q Nguyễn Thị T nghĩa vụ tr cho ông
Trương Vũ T số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu
thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền nói trên, hàng tháng bên
phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm
2015.
- Về án phí dân sthẩm: Ông Nguyễn Minh Q và bà Nguyễn Thị T phải
chịu 24.000.000 (hai mươi bốn triệu) đồng. Hoàn trả lại cho ông Trương T số
tiền tạm ứng án phí đã nộp 16.000.000 (mười sáu triệu) đồng theo biên lai thu tiền
tạm ứng án phí số 0001322 ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân
sự thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
- Về chi phí giám định: Ông Nguyễn Minh Q và Nguyễn Thị T phải chịu
5.125.000 đồng (năm triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Do ông Trương Vũ
T đã nộp nên ông Nguyễn Minh Q và bà Nguyễn Thị T phải có nghĩa vụ hoàn trả lại
cho ông Trương T số tiền 5.125.000 (năm triệu một trăm hai mươi lăm nghìn)
đồng.
- Về quyền kháng o: Đương sự mặt quyền kháng cáo bản án thẩm
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20-11-2024); đương sự vắng mặt
quyền kháng cáo bản án thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án
hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân squyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân
sự.
6
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Quảng Nam;
- VKSND tỉnh, thành phố;
- Chi cục THADS TP Tam Kỳ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, án văn
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thúy Vân
7
8
[
9
10
11
Tải về
Bản án số 316/2024/DS-ST Bản án số 316/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 316/2024/DS-ST Bản án số 316/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất