Bản án số 31/2026/HNGĐ-ST ngày 11/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 31/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 31/2026/HNGĐ-ST ngày 11/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 31/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/08/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 31/2026/HNGĐ-ST Bản án số 31/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 31/2026/HNGĐ-ST Bản án số 31/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 12- PT Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 31/2026/HNGĐ-ST
Ngày 11/8/2026;
V/v Ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PT
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Trần Đức Thịnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Xuân Nguyên và ông Bùi Thanh Nhiến.
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Duy – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 12
– PT
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 12 – PT tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Hằng – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 12 – PT xét xử
sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 288/2026/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 6
năm 2026, về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2026/QĐXXST-
HNGĐ, ngày 23 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị M, sinh ngày 08/04/1988;
CCCD số ************;
Địa chỉ: Thôn MD (xóm M cũ), xã T N, tỉnh PT
(Vắng mặt có lý do, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Bùi Văn Ng, sinh ngày 06/08/1986;
CCCD số ************;
Địa chỉ: Thôn MD (xóm M), xã T N, tỉnh PT
(Vắng mặt có lý do, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 15/6/2026, tại biên bản lấy lời khai và
trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị M trình bày:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị M và anh Bùi Văn Ng đăng ký kết hôn
ngày 01/12/2006 tại Ủy ban nhân dân xã BP, huyện CP, tỉnh HB cũ nay là xã T N -
PT trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn chị M và anh Ng về chung sống tại thôn M
D (xóm M cũ), xã T N, tỉnh PT. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh
phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do quan điểm sống không
hợp nhau, thường xuyên cãi vã xúc phạm đến danh dự nhân phẩm của nhau, anh Ng
hay uống rượu không làm chủ được bản thân, dẫn đến có hành vi bạo lực với vợ, hiện
tại vợ chồng đã sống ly thân không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Nay chị M xác
2
định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn gia đình trầm trọng, đời sống chung
không thể kéo dài, đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Văn
Ng.
1.2. Về con chung: Chị M và anh Ng có 02 con chung là Bùi Quang H, sinh
ngày 28/12/2005 và Bùi Duy Th (Tên gọi khác: Bùi Quang Th), sinh ngày 04/09/2007.
Hiện tại cả hai con đều đã trên 18 tuổi, không bị hạn chế về năng lực hành vi dân sự
nên không yêu cầu Toà án giải quyết;
1.3. Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
1.4. Về công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Trong quá trình giải quyết vụ án anh Bùi Văn Ng trốn tránh không hợp tác
để giải quyết, Toà án đã thực hiện thủ tục cấp tống đạt văn bản tố tụng theo quy định
của pháp luật nhưng anh Ng vẫn cố tình không đến Tòa án làm việc theo Giấy triệu
tập, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa
giải, nên Toà án không thể ghi nhận được lời khai của anh Ng.
* Qua xác minh tại người thân (02 con chung) trong gia đình của chị Bùi
Thị M và anh Bùi Văn Ng được biết: Mâu thuẫn vợ chồng cơ bản là do quan điểm
sống không hợp nhau, anh Ng hay uống rượu say không làm chủ được bản thân có
hành vi bạo lực với vợ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của vợ dẫn đến mâu thuẫn
ngày càng lớn. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm đến cuộc sống
của ai. Cả 02 con chung của chị Bùi Thị Thị Mơ và anh Bùi Văn Ng là anh Bùi Quang
H và anh Bùi Duy Th đều đề nghị Tòa giải quyết cho chị M được ly hôn với anh Ng.
3. Quan điểm Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – PT tại phiên
tòa:
3.1. Về tố tụng:
- Người tiến hành tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, cơ quan Toà án,
Thẩm phán, Thư ký, các Hội thẩm nhân dân đã tuân thủ đúng quy định của của Bộ
luật tố tụng dân sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2025;
- Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng các Điều 70, 71, của
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn không chấp hành đầy đủ và đúng quyền,
nghĩa vụ tố tụng.
3.2. Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX Căn cứ Điều 51, 56, Luật hôn nhân
gia đình; Căn cứ Điều 147, 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ
Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Bùi Thị M được ly hôn
với anh Bùi Văn Ng.
- Về con chung: Có 02 con chung các con đã trên 18 tuổi, không bị hạn chế về
năng lực hành vi dân sự, chị M không yêu cầu giải quyết, nên không đề cập;
3
- Về tài sản chung: Chị M xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết nên
không đề cập giải quyết;
- Về công nợ chung: Chị M xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết nên
không đề cập giải quyết.
- Về án phí: Chị M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- Đề nghị HĐXX tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
- Nguyên đơn Bùi Thị M, Bị đơn Bùi Văn Ng có nơi cư trú tại thôn Môn Dài, xã
T N, tỉnh PT. Chị M làm đơn xin ly hôn anh Ng, căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 2
Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội (sửa đổi điểm a khoản
1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015); điểm a khoản 1 Điều 39 của
BLTTDS - đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Phú Thọ.
- Nguyên đơn, bị đơn đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy
triệu tập phiên toà hợp pháp nhưng cùng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn
cứ các điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa chấp nhận đề nghị và xét
xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung, căn cứ các tài liệu, chứng cứ đương sự cung cấp và Tòa thu
thập được, thấy rằng:
- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 27, ngày
01/12/2006, do UBND xã BP nay là xã T N, tỉnh PT cấp, xác định quan hệ hôn nhân
giữa chị Bùi Thị M và anh Bùi Văn Ng là hợp pháp. Trong quá chung sống phát sinh
mâu thuẫn, nguyên nhân xuất phát từ việc quan điểm sống không đồng thuận, anh Ng
hay uống rượu say không làm chủ được bản thân dẫn đến có hành vi bạo lực với vợ.
Xác minh qua người thân là các con chung của chị M và anh Ng cho thấy: Anh Ng và
chị M không hợp nhau về quan điểm sống dẫn đến vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, cãi
vã và xúc phạm danh dự nhân phẩm của nhau, anh Ng hay uống rượu say về nhà chửi
bới vợ con một cách vô cớ và có hành vi bạo lực với vợ, hiện tại chị M và anh Ng đã
sống ly thân nhau, cả hai không còn quan tâm gì đến cuộc sống, sinh hoạt của nhau
đúng như chị M đã trình bày. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần
triệu tập anh Ng đến Tòa để hòa giải đoàn tụ nhưng anh Ng cố tình vắng mặt. HĐXX
xét thấy: Hôn nhân giữa chị M và anh Ng đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn
nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ Điều 56 Luật hôn
nhân và gia đình chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Bùi Thị M.
[3]. Về con chung: chị Bùi Thị M, anh Bùi Văn Ng có 02 con chung là Bùi
Quang H, sinh ngày 28/12/2005 và Bùi Duy Th (Tên gọi khác: Bùi Quang Th), sinh
4
ngày 04/09/2007. Các con đã trên 18 tuổi, không bị hạn chế về năng lực hành vi dân
sự, chị M không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Toà không đề cập.
[4]. Về tài sản chung: Chị Bùi Thị M khẳng định vợ chồng không có tài sản
chung, không yêu cầu giải quyết, nên Nên HĐXX không xem xét.
[5]. Về công nợ chung: Chị M xác nhận không có công nợ chung. Nên HĐXX
không xem xét.
[6]. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH10 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Chị Bùi Thị M phải chịu 300.000 đồng
án phí ly hôn sơ thẩm.
[7]. Về Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy
định tại Điều 271, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày
25/6/2025 của Quốc Hội (sửa đổi điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015); điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều
238, Điều 271, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và
gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban
thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị M.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị M được ly hôn với anh Bùi Văn Ng.
2. Về con chung: Có 02 con chung là Bùi Quang H, sinh ngày 28/12/2005 và
Bùi Duy Th (Tên gọi khác: Bùi Quang Th), sinh ngày 04/09/2007, hiện tại các cháu
đã trưởng thành (đã trên 18 tuổi), sức khỏe các cháu tốt phát triển bình thường, không
bị hạn chế về năng lực, hành vi trách nhiệm dân sự, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về tài sản chung: Chị Bùi Thị M xác nhận không có tài sản chung, không
yêu cầu Tòa giải quyết.
4. Về công nợ chung: Chị Bùi Thị M xác nhận không có công nợ chung, không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí: Chị Bùi Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được
đối trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai
thu tiền số 0006199, ngày 24/6/2026, tại Thi hành án dân sự tỉnh PT.
6. Về Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền
kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ, hoặc bản
án được niêm yết công khai, theo quy định của pháp luật.
5
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh PT;
- TAND tỉnh PT;
- VKSNDKV 12;
- Phòng THADSKV 12;
- UBND xã T N;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Trần Đức Thịnh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 31/2026/HNGĐ-ST Bản án số 31/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 31/2026/HNGĐ-ST Bản án số 31/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất