Bản án số 28/2025/DSST ngày 15/07/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 28/2025/DSST

Tên Bản án: Bản án số 28/2025/DSST ngày 15/07/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 28/2025/DSST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/07/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Cao Văn C và Nguyễn Văn T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
KHU VỰC 8 – ĐĂK LĂK Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH ĐĂKLĂK
Bản án số: 28/2025/DSST
Ngày: 15/7/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐĂK LĂK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Long.
- Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Y Dhiểu Hmôk.
2. Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thiều Sỹ Vững – Cán bộ Toà án nhân dân Khu vực
8 Đăk Lăk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 Đăk Lăk tham gia phiên
toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 15/7/2025, tại Phòng xán Toà án nhân dân Khu vực 8 Đ xét xử sơ
thẩm công khai ván dân sự thụ số: 67/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 6 năm 2024
về tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
32/2025/QĐST-DS, ngày 06 tháng 6 năm 2025 Quyết định hoãn phiên tòa số
30/2025/QĐST – DS ngày 24/6/2025, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Cao Văn CPhan Thị M. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk.
Nay là: Thôn B, xã E, tỉnh Đăk Lăk.
Đại diện ủy quyền:Lê Kiều N, sinh năm 1997. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn A, xã E, huyện K, tỉnh Đăk Lăk.
Nơi cư trú: 9/14/1 Nguyễn Duy C1, phường B, tỉnh Đăk Lăk.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1963 Phạm Thị L, sinh ngày
20/01/1965. Có mặt.
Địa chỉ: A N, tổ dân phố H, phường A, thị xã B, tỉnh Đăk Lăk.
Nay là: Địa chỉ: A N, tổ dân phố H, phường B, tỉnh Đăk k.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Nguyễn Thị Hồng X. Đề nghị xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: D Bà T, phường B, tỉnh Đăk Lăk.
Người làm chứng:
Ông Trần Bình T1, sinh năm 1950. Có mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường B, tỉnh Đăk Lăk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và đại diện ủy
quyền của nguyên đơn bà Lê Kiều N trình bày:
Ngày 21/10/2011 ông C, M lập Hợp đồng cho ông T, L vay số tiền
330.000.000 đồng, lãi suất vay theo từng thời điểm của ngân hàng, thời hạn trả nợ
ngày 30/6/2012.
Tiếp đó, ngày 08/9/2016 ông C, M chuyển khoản cho ông T, L vay số
tiền 30.000.000 đồng; ngày 12/09/2016 ông C, bà M chuyển khoản vào tài khoản bà
X (con gái ông T bà L) để cho ông T, bà L vay số tiền 65.000.000 đồng.
Tổng cộng ông T, L vay số tiền 425.000.000 đồng. Ông C, M đã đòi
nhiều lần nhưng ông T, bà L không trả. Nay ông C, bà M khởi kiện yêu cầu ông T,
bà L trả 425.000.000 đồng nói trên, không yêu cầu tính lãi suất.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn Nguyễn Văn T Phạm Thị L
trình bày:
Ông T bà L không thừa nhận vay ông C bà M số tiền 425.000.000 đồng. Ông
T bà L cho rằng:
- Đối với khoản 30.000.000 đồng chuyển khoản ngày 08/9/2016 là tiền ông C
chuyển trả lãi suất cho ông T, ông T tài liệu chứng minh nhưng chưa cung cấp
cho Tòa án.
- Đối với khoản 65.000.000 đồng chuyển khoản 12/09/2016 vông C trả
nợ cho bà Nguyễn Thị Hồng X con gái ông T. Không liên quan đến ông T bà L.
- Đối với hợp đồng vay tiền 330.000.000 đồng ngày 21/10/2011 trong nội
dung hợp đồng ghi lập thành 03 bản mỗi bên giữ 01 bản và lưu tại Phòng công
chứng 01 bản, nhưng thực tế hai bên chưa hcông chứng, cũng không bản lưu
nào tại văn phòng công chứng, ông T bà L không nhớ cụ thể là có ký vào hợp đồng
vay tiền này hay không. Mặt khác, cùng ngày 21/10/2011 mà ông C bà M cho rằng
cho ông T vay 330.000.000 đồng, thì ông C lại viết giấy mượn tiền ông T nhiều
lần, cụ thể:
- Ngày 21/10/2011 ông C mượn riêng 2.000.000 đồng 500.000 đồng ăn
cơm trưa, 100.000 đồng phô tô và công chứng;
- Ngày 22/10/2011 ông C mượn 100.000.000 đồng;
- Ngày 23/10/2011 ông C mượn 50.000.000 đồng;
- Ngày 25/02/2012 ông C mượn 50.000.000 đồng;
Các lần nhận tiền tn đều xác nhận của ông C. vậy, ông T L
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 14/4/2025 ông T phản tố yêu cầu ông C M phải tr các khoản nợ:
Khoản thứ nhất bao gồm các lần vay như sau:
- Ngày 21/10/2011 ông C vay số tiền 2.000.000 đồng;
- Ngày 22/10/2011 ông C vay 100.000.000 đồng;
- Ngày 23/11/2011 ông C vay 50.000.000 đồng;
- Ngày 25/02/2012 ông C vay 50.000.000 đồng.
Tổng cộng khoản thứ nhất là 202.000.000 đồng. (1).
Khoản thứ hai bao gồm các lần ứng tiền cho Công ty V như sau:
- Ngày 06/10/2015 ứng 9.500.000 đồng để học nổ mìn;
- Ngày 30/9/2016 ông C ứng 200.000.000 đồng đồng để trả tiền cho ông Đ đã
lắp điện cho Công ty;
- Ngày 21/11/2016 ông C ứng ngày 21/11/2017 vay 5.700.000 đồng phục vụ
khai thác đá;
- Ngày 19/12/2016 ông C ứng 70.000.000 đồng để nộp tiền quỹ môi trường
lần đầu mỏ đá;
Tổng cộng khoản thứ 2 là 285.200.000 đồng; (2).
Tổng cộng (1) + (2) = 202.000.000 đồng + 285.200.000 đồng = 487.200.000
đồng.
Tại biên bản đối chất đề ngày 11/6/2025, ông T bổ sung thêm ý kiến cho rằng
ngày 30/11/2016 còn cho ông C ứng số tiền 161.000.000 đồng cho Công ty V. (3).
Tổng cả ba khoản vay là: 202.000.000 đồng + 285.200.000 đồng +
161.000.000 đồng = 648.200.000 đồng.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu quan điểm:
1. Về tố tụng: Tòa án xác định đây quan hệ “Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản” thụ lý giải quyết vụ kiện là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3
Điều 26; khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân ssửa
đổi bổ sung năm 2025. Tòa án thụ lý giải quyết đơn phản tố của ông T đúng quy
định tại Điều 200 của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2025. Tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
2. Về nội dung:
- Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn đối với các
khoản vay 330.000.000 đồng khoản vay 30.000.000 đồng chuyển khoản. Tổng
cộng, bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn 360.000.000 đồng.
Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đối với khoản chuyển khoản
65.000.000 đồng vì người nhận chuyển khoản là bà X, không liên quan đến bị đơn.
- Đối với đơn phản tố của bị đơn:
Đề nghị chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn đối với các khoản ông C vay
của ông T là 200.000.000 đồng.
Không chấp nhận yêu cầu đối với khoản vay 2.000.000 đồng ngày 21/10/2011
vì ông C không ký xác nhận.
Không chấp nhận các khoản 446.200.000 đồng còn lại vì là khoản ông T ứng
cho Công Ty V. Không liên quan đến nhân ông C M. Ông T quyền khởi
kiện Công Ty V bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về tố tụng: Việc Tòa án xác định là đây quan hệ “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản” thụ giải quyết vụ kiện đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản
3 Điều 26; khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa
đổi bổ sung năm 2025. Tòa án thụ đơn phản tố của ông T đúng quy định tại
Điều 200 của Bộ Luật Tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2025.
2. Về nội dung:
[1]. Trong quá trình giải quyết ván nguyên đơn ông C cho rằng cho
ông T L vay số tiền 425.000.000 đồng. Trong đó, hai bên hợp đồng đề ngày
21/10/2011 đối với số tiền 330.000.000 đồng. Bên vay ông T L xác
nhận. Còn lại hai khoản 65.000.000 đồng và 30.000.000 đồng thì chuyển khoản
hóa đơn.
[2]. Ông T, L cho rằng không nhớ kết với ông C hợp đồng vay
330.000.000 đồng ngày 21/10/2011 nói trên hay không.
Đối với số tiền chuyển khoản 30.000.000 đồng, thì ông T L cho rằng ông
C chuyển khoản trả nợ lãi suất cho ông T.
Đối với số tiền chuyển khoản 65.000.000 đồng, thì ông T L cho rằng ông
C chuyển khoản trả nợ lãi suất cho bà X, không liên quan đến ông T.
Ngoài ra, tại đơn phản tố đề ngày 14/4/2025 ông T cho rằng ông C còn vay
tiền của ông T cùng ngày 21/10/2011 nhiều lần khác. Qua đó thể hiện ông C
không có tiền cho ông T vay.
[3]. Xét thấy, đối với số tiền 330.000.000 đồng, qtrình giải quyết vụ án ông
C M cung cấp hợp đồng vay tiền ngày 21/10/2011. Trong đó chữ ký, chữ
viết họ tên của ông T và L phần “Bên vay”. Nội dung của hợp đồng này thể
hiện ông T và bà L bên vay số tiền 330.000.000 đồng. Tại bản án KDTM thẩm
số 05/2023/KDTM ST ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk đã
hiệu lực pháp luật (dòng thứ 3 đến dòng thứ 11 tính từ trên xuống trang 20 của bản
án) đã nêu: “Căn cứ kết luận giám định số 644/KL-KTHS ngày 08/7/2022 của phòng
K- Công an tỉnh Đ..” về chữ ký, chữ viết họ tên, thì có căn cứ xác định ông T và bà
L đã ký giấy vay số tiền này của ông C.
Thời hạn cho vay đến ngày 30/6/2012, đến nay đã quá hạn trnợ nên cần buộc
ông T bà L có nghĩa vụ trả cho ông C bà M số tiền 330.000.000 đồng.
[4]. Đối với số tiền chuyển khoản 30.000.000 đồng ngày 08/9/2016. Ông T,
bà L không thừa nhận vay của ông C, bà M mà cho rằng đây là tiền ông C bà M trả
lãi suất vay cho ông T bà L. Ông T cho rằng tài liệu chứng cứ chứng minh nội
dung này. Tuy nhiên, tại phiên tòa, ông T bà L vẫn chưa cung cấp cho Tòa án được
tài liệu chứng cứ nào xác định đây ông C M trả lãi suất cho ông T. Tại Giy
nộp tiền ngày 08/9/2016 do ông C cung cấp, phần nội dung chuyển tiền ghi
“mượn”. Nên căn cứ xác định đây tiền ông T mượn của ông C, nên cần chấp
nhận yêu cầu của ông C M. Ông T L nghĩa vụ trả cho ông C M 30.000.000
đồng.
[5]. Đối với số tiền 65.000.000 đồng chuyển khoản ngày 12/09/2016. Ông C,
M chuyển khoản vào số tài khoản của Nguyễn Thị Hồng X, không liên quan
đến ông T L. Ông C M không tài liệu, chứng cứ nào xác định đây tiền
cho ông T bà M vay, nên không chấp nhận yêu cầu của ông C bà M đòi ông T bà L
phải trả số tiền này. Ông C bà M có quyền khởi kiện đòi X số tiền nói trên bằng
vụ án khác khi có yêu cầu và có đủ căn cứ.
[6]. Đối với yêu cầu phản tố của ông T thì thấy rằng:
[6.1]. Khoản thứ nhất bao gồm:
- Ngày 21/10/2011 ông C vay số tiền 2.000.000 đồng;
- Ngày 22/10/2011 ông C vay 100.000.000 đồng;
- Ngày 23/11/2011 ông C vay 50.000.000 đồng;
- Ngày 25/02/2012 ông C vay 50.000.000 đồng.
Tổng cộng khoản thứ nhất là 202.000.000 đồng.
[6.2]. Tại biên bản đối chất ngày 11 tháng 6 năm 2025 ông C M cho rằng
khoản tiền vay 100.000.000 đồng ngày 22/10/2011 tiền ông T đưa cho ông T1,
ông C nhận hộ để đưa cho ông T1 và các bên đã ký xác nhận thể hiện trong giấy viết
ngày 22/10/2011, còn các khoản khác đã được Công ty V xác nhận vào hợp đồng
góp vốn (hợp đồng ngày 28/02/2019), nên khoản này ông C không chấp nhận yêu
cầu của ông T.
Tuy nhiên, xét thấy khoản tiền 100.000.000 đồng ngày 22/10/2011 nói trên
nội dung ghi tại sổ của ông T chữ nhận của ông C nên ông C M nghĩa
vụ trả cho ông T. Việc ông C đưa tiền cho ông T1 thì ông C quyền khởi kiện ông
T1 nếu có căn cứ.
Các khoản tiền ngày 23/11/2011 ông C vay 50.000.000 đồng; Ngày
25/02/2012 ông C vay 50.000.000 đồng đều thể hiện nội dung ông T đưa cho ông C.
Ông C sử dụng số tiền này vào mục đích thì đó quyền của ông C. Nên không
căn cứ xác định đây là phần vốn góp của ông T vào Công ty của ông C. vậy
cần chấp nhận yêu cầu phản tố của ông T đối với số tiền này.
Tổng cộng, ông C, M nghĩa vụ trả cho ông T số tiền 200.000.000 đồng.
Đối với giao dịch ngày 21/10/2011 ông T cho rằng ông C vay số tiền
2.000.000 đồng, nhưng không có chữ ký xác nhận của ông C. Nên không có căn cứ
buộc ông C bà M trả cho ông T số tiền 2.000.000 đồng này.
[6.3]. Đối với giao dịch ngày 30/9/2016 khoản tiền 200.000.000 đồng. Ông T
cho rằng ông Thành Ứ cho Công Ty V để lắp điện; ngày 21/11/2017 ứng cho Công
ty 5.700.000 đồng phục vụ khai thác đá ngày 06/10/2015 ứng cho Công ty
9.500.000 đồng để cho công nhân học nổ mìn; ngày 19/12/2016 ông T đi nộp thay
cho Công ty 70.000.000 đồng tiền quỹ môi trường lần đầu của mỏ đá, tổng
cộng 285.200.000 đồng.
Xét thấy, các khoản tiền này đã được nêu tại bản án số 03/2024/KDTM-ST
ngày 01/4/2024 của Tòa án nhân dân Cấp cao tại Đà Nẵng (từ các dòng thứ 3 đến
dòng thứ 25 tính từ trên xuống của trang 19 của bản án) đã xác định đây là tiền ông
T ứng cho Công ty V, không liên quan đến nhân của ông C M nên không
căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của ông T về việc đòi cá nhân ông C và bà M trả
số tiền nói trên. Ông T có quyền khởi kiện đòi Công ty V số tiền nêu trên bằng một
vụ án khác khi có yêu cầu.
[6.4]. Đối với giao dịch ngày 30/11/2016 ông T chuyển vào tài khoản của
Công ty V 161.000.000 đồng. Stiền này ông T chưa yêu cầu phản tố mà chỉ nêu
ý kiến trong nội dung đối chất. Tại phiên tòa ông T cũng xác định sẽ khởi kiện bằng
vụ án khác nên chưa giải quyết trong vụ án này mà giải quyết bằng một vụ án khác
khi có yêu cầu.
[7]. Về lãi suất: Tại phiên tòa, nguyên đơn rút yêu cầu về lãi suất nên không
xem xét.
[8]. Ván phí: Ông Nguyễn Văn T Phạm Thị L phải chịu án phí dân sự đối
với yêu cầu khởi kiện của ông C và bà M được chấp nhận và án phí phản tố không
được chấp nhận. Tuy nhiên, do thuộc đối tượng người cao tuổi có đơn xin miễn
án phí nên được miễn án phí DSST.
Ông C M phải chịu án phí dân sự thẩm đối với yêu cầu khởi kiện
không được chấp nhận phải chịu án phí đối với yêu cầu phản tố của ông T L
được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 26, 35 và 39, 200 Bộ luật tố Tụng dân sự sửa đổi bổ sung
năm 2025; các Điều 119, 463, 465, Điều 466 của Bộ luật Dân sự; điểm đ khoản 1
Điều 12, khoản 1, 4, 5 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Cao Văn CPhan Th
M. Ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị L phải trả cho ông Cao Văn C Phan
Thị M số tiền 360.000.000 đồng.
2. Bác yêu cầu của ông Cao Văn C và bà Phan Thị M về việc đòi ông Nguyễn
Văn TPhạm Thị L số tiền 65.000.000 đồng. Ông Cao Văn C Phan Thị
M có quyền khởi kiện bà Nguyễn Thị Hồng X bằng vụ án khác.
3. Chấp nhận một phần đơn phản tố của ông Nguyễn Văn T. Ông Cao Văn C
Phạm Thị M1 nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn T số tiền 200.000.000
đồng.
4. Bác yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn T về việc đòi ông Cao Văn C
Phan Thị M số tiền 2.000.000 đồng ngày 21/10/2011;
5. Bác yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn T về việc đòi ông Cao Văn C
Phan Thị M trả 285.200.000 đồng tạm ứng cho Công ty V. Ông Nguyễn Văn T
có quyền khởi kiện Công ty V số tiền này bằng vụ án khác.
Về án phí: Miễn toàn bộ án phí Dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn T
Phạm Thị L vì thuộc đối tượng người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí.
Ông Cao Văn C Phạm Thị M1 phải chịu án phí DSST đối với số tiền
65.000.000 đồng khởi kiện không được chấp nhận phải chịu án phí đối với số tiền
phản tố của ông T được chấp nhận là 200.000.000 đồng. Án phí DSST ông C M1
phải chịu là 13.250.000 đồng. Khấu trừ vào số tiền 11.000.000 đồng tạm ứng án phí
ông Cao Văn C và Phạm Thị M1 đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã
Buôn Hồ theo biên lai số 0001581 ngày 17/6/2024. Ông Cao Văn CPhạm Thị
M1 còn phải tiếp tục nộp số tiền án phí DSST còn lại là 2.250.000 đồng.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn ông Cao Văn C và Phạm Thị M1, đại
diện ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn ông Nguyễn Văn T Phạm Thị L
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người quyền
lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- Các đương sự; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện KSND khu vực 8 – Đăk Lăk;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Đăk Lăk;
- Toà án nhân dân tỉnh Đăk Lăk;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thanh Long
Tải về
Bản án số 28/2025/DSST Bản án số 28/2025/DSST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 28/2025/DSST Bản án số 28/2025/DSST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất