Bản án số 28/2019/KDTM-ST ngày 11/11/2019 của TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng dịch vụ logistics
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 28/2019/KDTM-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 28/2019/KDTM-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 28/2019/KDTM-ST ngày 11/11/2019 của TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng dịch vụ logistics |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về cung ứng dịch vụ |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Biên Hòa (TAND tỉnh Đồng Nai) |
| Số hiệu: | 28/2019/KDTM-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 11/11/2019 |
| Lĩnh vực: | Kinh doanh thương mại |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tuyên xử |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 28/2019/KDTM-ST
Ngày: 11/11/2019
Về việc: “Tranh chấp Hợp đồng
dịch vụ Logistics”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Nhạn.
2. Ông Trần Văn Chánh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân TP Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thúy Duyên – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên
Hòa, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:
27/2019/TLST-KDTM
ngày 27 tháng 3 năm 2019 về việc “Tranh chấp Hợp đồng
dịch vụ Logistics”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2019/QĐXX-ST
ngày 07 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 318/2019/QĐST –
KDTM ngày 25/10/2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH DT L (VN);
Địa chỉ: Lầu 5, Tòa nhà D , Đường N, phường, quận T, thành phố Hồ Chí
Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông David Michel V , sinh năm: 1971;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Trung T, sinh năm: 1971.
Địa chỉ: L12/13, tầng 12, tòa nhà V, phường B, quận 1, TP. Hồ Chí Minh.
(Theo giấy ủy quyền ngày 21/01/2019)
- Bị đơn: Công ty TNHH Một thành viên OT;
2
Địa chỉ trụ sở: Số 31, , khu dân cư A, phường A , TP. Biên Hòa, Đồng Nai.
Người đại diện theo phảo luật: Ông Nguyễn Đình T, sinh năm: 1978. Chức
danh: Giám đốc.
Nơi cư trú: M3/8, khu phố A, phường L, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng
Nai.
( Ông Th có mặt, ông T có mặt )
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa
án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Trần Trung Th trình
bày:
Vào 25/12/2016, giữa Công ty TNHH DT L (VN) (sau đây gọi tắt là Công
ty DT L VN) và Công ty TNHH MTV OT(sau đây gọi tắt là OT) có ký kết Hợp
đồng dịch vụ giao nhận (sau đây gọi tắt là Hợp đồng dịch vụ) theo đó Công ty OT
đồng ý giao cho Công ty DT L VN làm đại diện vận chuyển hàng hóa đến các địa
điểm mà Công ty OT yêu cầu.
Căn cứ Hợp đồng dịch vụ, Công ty DT L VN đã nhiều lần vận chuyển hàng
hóa đến các địa điểm theo yêu cầu của OT.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, trong năm 2018 có 03 lô hàng đã được
Công ty DT L VN vận chuyển hoàn tất theo yêu cầu của OT, nhưng đến nay Công
ty OT vẫn chưa thanh toán các khoản phí liên quan cho Công DT L VN. Cụ thể là
các lô hàng sau đây:
1. Lô hàng vận chuyển bằng đường biển từ Tp. Hồ Chí Minh đến cảng
Minneapolis – Hoa Kỳ theo vận tải đơn số VNSE18010043 ngày 29/01/2018, số
tiền còn nợ: 209.471.322 đồng (Theo 02 hóa đơn GTGT số 0001002 và số
0001003 ngày 12/4/2018).
2. Lô hàng vận chuyển bằng đường hàng không từ sân bay Tân Sơn Nhất –
Tp.HCM đến cảng Minneapolis – Hoa Kỳ theo vận tải đơn số
001SGN76041593/VNAE1800008 ngày 12/02/2018, số tiền dịch vụ là:
63.891.647 đồng (Theo 02 hóa đơn GTGT số 0000850 & 0000851 ngày
28/02/2018).
3. Lô hàng vận chuyển bằng đường biển từ Tp. Hồ Chí Minh đến cảng
Minneapolis – Hoa Kỳ theo vận tải đơn số VNSE18020034 ngày 19/02/2018, số
tiền còn nợ: 177.406.572 đồng (Theo 03 hóa đơn GTGT số 0001117, số 0001118
và số 0001119 ngày 15/5/2018).
Theo thỏa thuận tại Điều 4.2 của Hợp đồng dịch vụ thì “Hóa đơn GTGT
phải được thanh toán bằng chuyển khoản trong vòng 30 ngày làm việc kể từ khi
nhận được đề nghị thanh toán”.
3
Tính đến thời điểm khởi kiện, các khoản tiền nêu trên đều đã quá hạn thanh
toán, Công ty DT L VN đã nhiều lần liên hệ Công ty OT yêu cầu thanh toán các
khoản tiền còn nợ nêu trên và Công ty OT cũng có hứa hẹn sẽ thanh toán sớm
nhưng đến nay vẫn chưa thanh toán.
Sau khi nộp khởi kiện, đến ngày 01/02/2019 thì Công ty OT đã thanh toán
xong cho Công ty DT L VN số tiền 63.891.647đ (phát sinh từ việc vận chuyển lô
hàng ngày 12/02/2018). Nên Công ty DT L VN xin được rút một phần đối với yêu
cầu khởi kiện ban đầu về số tiền nợ gốc 63.891.647đ. Còn tiền lãi chậm trả phát
sinh của lô hàng này thì Công ty OTchưa trả, nay Công ty DT L VN tiếp tục yêu
cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, Công ty DT L VN yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên buộc
Công ty OTphải thực hiện các nghĩa vụ sau:
- Thanh toán cho Công ty DT L VN số tiền nợ gốc là 386.877.894đ và
thanh toán khoản tiền lãi do chậm thanh toán phát sinh từ khoản nợ nêu trên, tính
từ ngày phát sinh nghĩa vụ thanh toán cho đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm
11/11/2019 với mức lãi suất nợ quá hạn là 01%/tháng với số tiền lãi là 68.379.792
đồng.
- Công ty OT phải trả số tiền lãi do chậm thanh toán phát sinh từ việc vận
chuyển lô hàng theo vận tải đơn số 001SGN76041593/VNAE1800008 ngày
12/02/2018. Thời gian tính lãi (từ ngày 29/3/2018 đến ngày 31/01/2019) theo mức
lãi suất nợ quá hạn là 01%/tháng, tương đương số tiền là 6.580.840đ.
Tổng số tiền Công ty DT L VN yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên buộc Công
ty OTphải trả cả tiền nợ gốc và tiền lãi là 461.838.526 đồng (trong đó tiền nợ gốc
386.877.894đ và tiền lãi là 74.960.632đ).
* Theo nội dung văn bản trình bày ý kiến ngày 29/4/2019, biên bản làm
việc ngày 25/6/2019 và tại phiên tòa, người đại diện theo pháp luật của bị đơn -
ông Nguyễn Đình T trình bày:
Về nội dung vụ việc tranh chấp Hợp đồng dịch vụ L theo đơn khởi kiện
ngày 21/01/2019 của Công ty DT L VN, bên bị đơn Công ty OT xác định chỉ mới
nhận được bản thảo của Hợp đồng dịch vụ từ Công ty DT L VN, đến thời điểm
phát sinh tranh chấp thì vẫn còn nhiều điều khoản hai bên chưa thỏa thuận xong
như: thời hạn công nợ, phạt chậm thanh toán, bồi thường mất mát hư hỏng trong
quá trình vận chuyển, giá cung cấp dịch vụ…Do đó, bản Hợp đồng dịch vụ đề
ngày 25/12/2016 chưa có sự ký kết chính thức giữa hai bên. Các dịch vụ vận
chuyển phát sinh chủ yếu được xác lập qua báo giá từng vụ việc.
Việc Công ty OTgiao hàng cho Công ty DT L VN thực hiện dịch vụ vận
chuyển cho bên thứ ba là dựa trên sự thỏa thuận giữa nhân viên xuất nhập khẩu
của Công ty OTvới Công ty DT L VN thông qua điện thoại hoặc thư điện tử của
nhân viên xuất nhập khẩu mà chưa được sự đồng ý của người đại diện theo pháp
luật của OT. Sau khi nhận được yêu cầu thanh toán của Công ty DT L VN và quá
4
trình khai báo thuế thì Công ty OTmới phát hiện trong hồ sơ xuất nhập khẩu hàng
hóa của các lô hàng Công ty DT L VN vận chuyển không có bảng báo giá hoặc
hóa đơn đặt hàng có sự phê duyệt của Giám đốc Công ty OTnhưng Công ty DT L
VN vẫn vận chuyển hàng và xuất hóa đơn là không đúng quy trình của hoạt động
xuất nhập khẩu.
Công ty OT xác nhận 02 lô hàng (Lô hàng vận chuyển 29/01/2018 và lô
hàng vận chuyển 19/02/2018) mà Công ty DT L VN vận chuyển theo sự trình bày
của nguyên đơn là đúng hàng hóa của Công ty OTvà hàng hóa này đã được giao
đúng cho bên thứ ba tại nước ngoài theo sự thỏa thuận giữa Công ty OT với bên
thứ ba. Tuy nhiên, theo sự phản ánh của bên nhận hàng tại nước ngoài thì hàng bị
móp méo phải đóng gói và kiểm tra lại toàn bộ lô hàng, nên bên thứ ba đã trừ lại
các chi phí này buộc Công ty OT phải chịu mà lỗi này là do bên vận chuyển. Sau
đó Công ty OT có gửi email phản hồi lại tình trạng chất lượng giao hàng cho bên
Công ty DT L VN và Công ty DT L VN có gửi email phản hồi thừa nhận lỗi này.
Tuy nhiên, tại thời điểm thông báo hai bên chưa tổng hợp được các chi phí khắc
phục, nên chưa xác định được cụ thể mức thiệt hại.
Nay Công ty DT L VN khởi kiện Công ty OT yêu cầu thanh toán số tiền
dịch vụ của các lô hàng trên với tổng số tiền là 461.838.526 đồng (trong đó tiền nợ
gốc 386.877.894đ và tiền lãi là 74.960.632đ). Tại phiên tòa, ông T đại diện cho
Công ty OT không đồng ý, bởi những lý do sau:
Giữa Công ty DT L VN và Công ty OTkhông có hợp đồng dịch vụ giao
nhận ngày 25/12/2016; Việc Công ty DT L VN vận chuyển hàng hóa của Công ty
OTlà dựa trên sự câu kết giữa nhân viên giao nhận của Công ty OT và nhân viên
xuất nhập khẩu của Công ty DT L VN, cho đến nay số hàng hóa của Công ty
OTmà các nhân viên làm thủ tục giao nhận không biết là đã được vận chuyển cho
bên thứ ba (khách hàng của OT) hay chưa.
Về tiền lãi chậm thanh toán mà Công ty DT L VN yêu cầu là không có căn
cứ, bởi các bên không có hợp đồng nên không có cơ sở để tính lãi.
Đối với số tiền 63.891.647đ của lô hàng vận chuyển bằng đường hàng
không trước đây đã thanh toán cho Công ty DT L VN là do tình cảm giữa ông T
với người đại diện theo pháp luật bên Công ty DT L VN đã biết nhau và có mối
quan hệ làm ăn với nhau trong lĩnh vực xuất nhập khẩu từ năm 2016. Số tiền thanh
toán nêu trên là tiền của cá nhân ông T chứ không phải tiền của OT.
* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập các bên đến Tòa
án để hòa giải, nhưng người đại diện của bị đơn không đến, nên Tòa án không tiến
hành hòa giải được.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa
phát biểu:
- Việc chấp hành pháp luật tố tụng:
5
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký
phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm
Hội đồng xét xử nghị án, đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân
sự.
Việc chấp hành pháp luật tố tụng của các bên đương sự: Nguyên đơn đã
thực hiện đúng; bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của pháp luật tố
tụng dân sự quy định.
- Về nội dung giải quyết vụ án:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định
Công ty OTđã vi phạm nghĩa vụ thanh toán chi phí dịch vụ vận chuyển cho Công
ty DT L VN.
Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty
DT L VN, buộc Công ty OT phải thanh toán số tiền nợ gốc của 02 lô hàng vận
đơn số VNSE 18010043 ngày 29/01/2018 và vận đơn số VNSE 18020034 ngày
19/02/2018 có tổng trị giá là 386.877.894đ (Ba trăm tám mươi sáu triệu, tám trăm
bảy mươi bảy nghìn, tám trăm chín mươi bốn đồng) và tiền lãi suất chậm trả đến
ngày tòa án xét xử sơ thẩm; thanh toán tiền lãi suất chậm trả của vận đơn số
001SGN76041593/VNVNNAE 1800008 ngày 12/02/2018 từ sau 30 ngày nguyên
đơn xuất hóa đơn (28/02/2018) đến ngày bị đơn thanh toán xong (01/02/2019).
Đình chỉ xét xử đối với phần yêu số tiền gốc 63.891.657 đồng của vận đơn
số 001SGN76041593/VNVNNAE 1800008 ngày 12/02/2018 mà nguyên đơn đã
có đơn xin rút tại phiên tòa.
- Về án phí KDTM-ST: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp
nhận, nên Công ty OT phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá
ngạch theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem
xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa:
Tại phiên tòa ông Nguyễn Đình T – Giám đốc là người đại diện theo pháp
luật của Công ty OT đề nghị xin được hoãn phiên tòa để nhờ Luật sư bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của bị đơn, xét thấy:
Vào ngày 22/10/2019 ông Nguyễn Đình T đã có đơn xin hoãn phiên tòa dự
kiến mở ngày 25/10/2019 với lý do bận công tác và xin chuyển sang một ngày
khác để ông có điều kiện tham gia trình bày quan điểm của bị đơn tại phiên tòa,
với yêu cầu này của ông T , Tòa án đã ra quyết định hoãn phiên tòa ngày
25/10/2019, đồng thời ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào ngày 11/11/2019.
6
Mặt khác, trong suốt quá trình tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Tòa án
đưa vụ án ra xét xử, mặc dù bên bị đơn đã được Tòa án thông báo về việc bị kiện
và nhiều lần được Tòa án triệu tập, thông báo về các hoạt động tố tụng để giải
quyết vụ án nhưng bên bị đơn đều tìm cách trì hoãn, kéo dài và cũng không xuất
trình được giấy tờ, tài liệu nào về việc yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi lích hợp
pháp cho bị đơn để Tòa án xem xét. Nay tại phiên tòa, người đại diện của bị đơn
lại đề nghị hoãn phiên tòa để nhờ Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, xét
thấy đề nghị hoãn phiên tòa của người đại diện bên bị đơn là không có căn cứ, nên
Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét thấy, bị đơn là Công ty OT có trụ sở tại địa chỉ: số 31, khu dân cư A,
phường A, TP. Biên Hòa, Đồng Nai. Công ty DT L VN khởi kiện Công ty OTđến
Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa là nơi bị đơn có trụ sở để yêu cầu Tòa án nhân dân
TP. Biên Hòa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 30;
điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; các tài liệu, chứng có trong
hồ sơ vụ án và ý kiến trình bày của các bên đương sự trong quá trình tham gia tố
tụng tại Tòa án. Xét thấy, tranh chấp giữa Công ty DT L VN và Công ty OTlà
tranh chấp phát sinh trong hoạt động dịch vụ L giữa hai tổ chức có đăng ký kinh
doanh và đều có mục đích lợi nhuận. Căn cứ khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng
dân sự; Điều 513 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 233 Luật Thương mại 2005, Hội
đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp Hợp đồng dịch
vụ Logistics”.
[4] Về nội dung tranh chấp:
Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các bên tại
phiên tòa, xét thấy:
Nguyên đơn khẳng định: Công ty DT L VN và Công ty OT có ký kết Hợp
đồng dịch vụ giao nhận (sau đây gọi tắt là Hợp đồng dịch vụ, theo đó Công ty OT
đồng ý giao cho Công ty DT L VN làm đại diện vận chuyển hàng hóa đến địa
điểm mà Công ty OT yêu cầu; Giá trị hợp đồng chi tiết theo bảng chào giá của
từng lô hàng. Bản thảo của hợp đồng này nguyên đơn soạn và gửi cho bị đơn qua
thư điện tử vào ngày 07/3/2018. Đến ngày 16/3/2018, bị đơn có gửi cho nguyên
đơn qua email bản scan hợp đồng đã được ông Nguyễn Đình T – Giám đốc Công
ty OT ký tên và đóng dấu. Bản gốc của hợp đồng này đến nay bị đơn vẫn giữ và
không chuyển cho nguyên đơn để hoàn tất việc ký tên, đóng dấu. Nhưng với việc
Giám đốc Công ty OT ký tên và đóng dấu vào bản hợp đồng này thì xem như bị
đơn đã đồng ý ký kết hợp đồng và không có ý kiến phản đối.
Bị đơn Công ty OT xác định: Bên bị đơn chỉ mới nhận được bản thảo của
Hợp đồng dịch vụ từ Công ty DT L VN, đến thời điểm phát sinh tranh chấp thì
7
vẫn còn nhiều điều khoản hai bên chưa thỏa thuận xong như: thời hạn công nợ,
phạt chậm thanh toán, bồi thường mất mát hư hỏng trong quá trình vận chuyển,
giá cung cấp dịch vụ…. Do đó, bản Hợp đồng dịch vụ đề ngày 25/12/2016 chưa
có sự ký kết chính thức giữa hai bên. Các dịch vụ vận chuyển phát sinh chủ yếu
được xác lập qua báo giá từng vụ việc.
Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và qua sự thừa nhận của ông
Nguyễn Đình T – Giám đốc Công ty OT tại biên bản làm việc ngày 25/6/2019 và
tại phiên tòa, ông T xác định chữ ký của giám đốc và con dấu đóng vào bản Hợp
đồng dịch vụ giao nhận đề ngày 25/12/2016 cho Công ty DT L VN là đúng chữ ký
của ông và đúng là con dấu của OT. Việc Công ty OT không gửi bản gốc của bản
bợp đồng này cho Công ty DT L VN ký tên, đóng dấu chỉ là thủ tục để hoàn chỉnh
văn bản. Mặc dù tại Tòa án Công ty OT không công nhận bản hợp đồng ngày
25/12/2016, nhưng về mặt thực tế từ ngày 29/01/2018 đến ngày 19/02/2018 Công
ty DT L VN đã thực hiện dịch vụ vận chuyển 03 lô hàng của Công ty OT để giao
hàng cho bên thứ ba tại nước ngoài theo yêu cầu của Công ty OTlà đúng sự thật,
cụ thể:
+ Lô hàng thứ nhất, vận chuyển bằng đường biển từ Tp. Hồ Chí Minh đến
cảng Minneapolis – Hoa Kỳ (theo vận tải đơn số VNSE18010043 ngày
29/01/2018).
+ Lô hàng thứ hai, vận chuyển bằng đường hàng không từ sân bay Tân Sơn
Nhất – Tp.HCM đến cảng Minneapolis – Hoa Kỳ (theo vận tải đơn số
001SGN76041593/VNAE1800008 ngày 12/02/2018)
+ Lô hàng thứ ba, vận chuyển bằng đường biển từ Tp. Hồ Chí Minh đến
cảng Minneapolis – Hoa Kỳ (theo vận tải đơn số VNSE18020034 ngày
19/02/2018).
Dịch vụ trên phát sinh chủ yếu được xác lập qua báo giá từng vụ việc thông
qua trao đổi bằng điện thoại hoặc thư điện tử (email) giữa nhân viên giao nhận
(nhân viên xuất nhập khẩu) của hai bên. Hoạt động dịch vụ này theo sự thừa nhận
của nguyên đơn và bị đơn thực tế đã được diễn ra từ năm 2016, được các bên mặc
nhiên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên, nên được xem như
một thói quen trong hoạt động thương mại, do đó có giá trị hiệu lực đối với các
bên.
Quá trình làm việc tại tòa án ông T cũng thừa nhận các lô hàng mà Công ty
DT L VN thực hiện dịch vụ vận chuyển là đúng hàng hóa của Công ty OTvà hàng
hóa này đã được giao đúng cho bên thứ ba tại nước ngoài theo địa chỉ do Công ty
OTcung cấp, nên có căn cứ xác định Công ty DT L VN đã thực hiện xong dịch vụ
cho OT. Thực tế trong 03 lô hàng mà Công ty DT L VN đã làm đại diện vận
chuyển thì có 01 lô hàng vận chuyển bằng đường hàng không ngày 12/02/2018,
Công ty OTđã thanh toán xong phí dịch vụ cho Công ty DT L VN vào ngày
01/02/2019 mà không có sự phản đối nào. Tại phiên tòa, ông T cho rằng vì tình
8
cảm quen biết với người đại diện bên Công ty DT L VN nên ông dùng tiền cá
nhân của ông thanh toán cho Công ty DT L VN là không có căn cứ, bởi theo
chứng từ giao dịch của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam – Chính Kỳ Đồng ngày
01/02/2019 thể hiện thông tin người trả số tiền 63.891.647đ là Công ty TNHH OT
chứ không phải của cá nhân ông T.
Vì vậy, đối với 02 lô hàng còn lại đến nay ông T cho rằng Công ty DT L
VN thực hiện dịch vụ vận chuyển hàng của Công ty OTlà dựa trên sự cấu kết thỏa
thuận giữa nhân viên xuất nhập khẩu của Công ty OTvới nhân viên của Công ty
DT L VN mà chưa được sự đồng ý của ông và từ chối không thanh toán phí dịch
vụ của 02 lô hàng này là không có căn cứ. Việc ông T cho rằng nhân viên Công ty
OTcấu kết với nhân viên của Công ty DT L VN để thực hiện dịch vụ, xét thấy đây
là lĩnh vực quản lý nội bộ của Công ty, việc phân công nhiệm vụ của từng nhân
viên trong Công ty thực hiện công việc cụ thể như thế nào là thẩm quyền của
người quản lý của OT, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Ngoài ra, ông T còn cho rằng 02 lô hàng vận chuyển bằng đường biển (ngày
29/01/2018 và 19/02/2018), theo sự phản ánh của bên nhận hàng tại nước ngoài thì
hàng bị móp méo phải đóng gói và kiểm tra lại toàn bộ lô hàng, nên bên thứ ba đã
trừ lại các chi phí này buộc Công ty OTphải chịu mà lỗi này là do bên vận chuyển,
nhưng Công ty OT không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh nên không
có cơ sở để xem xét. Trường hợp, nếu Công ty OTcho rằng hàng hóa bị thiệt hại là
do lỗi của Công ty DT L VN thì Công ty OTcó quyền khiếu nại trong thời hạn 14
ngày kể từ ngày Công ty DT L VN giao hàng cho người nhận hoặc có quyền khởi
kiện tại Trọng tài thương mại hoặc Toà án trong thời hạn chín tháng, kể từ ngày
giao hàng, theo quy định tại Điều 237 Luật Thương mại năm 2005. Tuy nhiên, đến
nay Công ty OTcũng không cung ấp được tài liệu, chứng minh về việc thiệt hại,
cũng như tài liệu, chứng cứ về việc khiếu nại hoặc khởi kiện Công ty DT L VN
như đã nêu trên, nên không có cơ sở xem xét.
Tại Khoản 1 Điều 237 Luật Thương mại năm 2005, quy định về các trường
hợp miễn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics như sau:
“đ) Thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics không nhận được thông báo
về khiếu nại trong thời hạn mười bốn ngày, kể từ ngày thương nhân kinh doanh
dịch vụ Logistics giao hàng cho người nhận;
e) Sau khi bị khiếu nại, thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics không
nhận được thông báo về việc bị kiện tại Trọng tài hoặc Toà án trong thời hạn chín
tháng, kể từ ngày giao hàng”.
[5] Đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty DT L VN, xét thấy:
Số tiền chi phí dịch vụ 63.891.647 đồng (Theo 02 hóa đơn GTGT số
0000850 & 0000851 ngày 28/02/2018) của lô hàng vận chuyển bằng đường hàng
không. Vào ngày 01/02/2019, Công ty OTđã thanh toán xong khoản tiền nợ này
cho Công ty DT L VN, tại phiên tòa Công ty DT L VN đã có đơn rút một phần

9
yêu cầu khởi kiện về số tiền gốc nêu trên. Căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố
tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử một phần đối với yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về số tiền nợ 209.471.322 đồng (Theo 02 hóa đơn GTGT số 0001002 và số
0001003 ngày 12/4/2018) và 177.406.572 đồng (Theo 03 hóa đơn GTGT số
0001117, số 0001118 và số 0001119 ngày 15/5/2018) của hai lô hàng vận chuyển
bằng đường biển ngày 29/01/2018 và 19/02/2018. Mặc dù, Công ty OTkhông thừa
nhận công nợ, nhưng khi nhận được các hóa đơn giá trị gia tăng của từng lô hàng
mà Công ty DT L VN đã cung cấp, Công ty OTcũng không có sự phản hồi nào
hoặc khiếu nại gì đối với số tiền ghi trên các hóa đơn này. Căn cứ khoản 5 và
Khoản 6 Điều 236 Luật Thương mại năm 2005, cần buộc Công ty OTphải thanh
toán cho Công ty DT L VN số tiền phí dịch vụ còn nợ của 02 lô hàng chưa thanh
toán, tổng cộng số tiền là 386.877.894đ (Ba trăm tám mươi sáu triệu, tám trăm
bảy mươi bảy nghìn, tám trăm chín mươi bốn đồng).
Về yêu cầu tiền lãi, xét thấy tiền lãi chậm thanh toán của số tiền
63.891.647đ (từ 29/3/2018 đến 31/01/2019), Công ty OTchưa thanh toán, cũng
như tiền lãi của khoản nợ 368.877.894đ Công ty OTchưa thanh toán. Dó đó, Công
ty DT L VN yêu cầu Công ty OTphải trả tiền lãi do chậm thanh toán là phù hợp
với quy định tại Điều 306 Luật Thương mại 2005.
Về mức lãi suất xét thấy, Công ty DT L VN chỉ yêu cầu Công ty OTthanh
toán tiền lãi chậm trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất là 01%/tháng
(0,033%/ngày). Nhận thấy, mức lãi suất này thấp hơn so với mức lãi suất áp dụng
đối với dư nợ gốc bị quá hạn trung bình của 03 Ngân hàng (Ngân hàng TMCP
ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Đồng Nai; Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đồng Nai và Ngân hàng TMCP Công
thương Việt Nam – Chi nhánh Đồng Nai) tại thời điểm thanh toán, là có lợi cho
OT, nên chấp nhận mức lãi suất này. Do đó, tiền lãi chậm thanh toán được tính
như sau:
Stt
Số hóa
đơn
Ngày hóa
đơn
Số tiền nợ
(đồng)
Ngày bắt
đầu tính
lãi
Tính lãi
đến ngày
Số ngày
tính lãi
Mức lãi
suất
(%/ngày)
Tiền lãi
(đồng)
0000850
28/02/2018
62.335.203
29/03/2018
31/01/2019
309
0,033
6.420.526
2
0000851
28/02/2018
1.556.444
29/03/2018
31/01/2019
309
0,033
160.314
3
0001002
12/4/2018
7.395.355
17/05/2018
11/11/2019
544
0,033
1.341.024
4
0001003
12/4/2018
202.075.967
17/05/2018
11/11/2019
544
0,033
36.643.109
5
0001117
5/05/2018
7.398.600
16/06/2018
11/11/2019
514
0,033
1.267.627
6
0001118
5/05/2018
75.969.600
16/06/2018
11/11/2019
514
0,033
13.016.125

10
7
0001119
5/05/2018
94.038.372
16/06/2018
11/11/2019
514
0,033
16.111.908
Tổng tiền lãi:
74.960.632
Như vậy, cần buộc Công ty OTcó nghĩa vụ phải thanh toán cho Công ty DT
L VN số tiền lãi là 74.960.632đ (Bảy mươi tư triệu, chín trăm sáu mươi nghìn, sáu
trăm ba mươi hai đồng).
Từ những cơ sở nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn, buộc Công ty OTphải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty
TNHH DT L (VN) số tiền 461.838.526đ (Bốn trăm sáu mươi mốt triệu, tám trăm
ba mươi tám nghìn, năm trăm hai mươi sáu đồng).
Trong đó: Tiền nợ gốc là 386.877.894đ (Ba trăm tám mươi sáu triệu, tám
trăm bảy mươi bảy nghìn, tám trăm chín mươi bốn đồng; tiền lãi là 74.960.632đ
(Bảy mươi tư triệu, chín trăm sáu mươi nghìn, sáu trăm ba mươi hai đồng).
[6] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên
Hòa phát biểu tại phiên tòa xét thấy phù hợp với các chứng cứ trong hồ sơ vụ án
nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2106 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc Công ty OTphải chịu án kinh doanh thương mại có giá ngạch theo quy
định của pháp luật. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí đã nộp cho Công ty DT L VN.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1
Điều 39; khoản 2 Điều 244; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật
tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 513 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 233, 335, 336, 337 Luật
Thương mại năm 2005; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy
định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2106 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH DT L
(VN) đối với Công ty TNHH MTV OTvề việc “Tranh chấp Hợp đồng dịch vụ
Logistics”.
11
1. Buộc Công ty TNHH Một thành viên OT có nghĩa vụ phải thanh toán cho
Công ty TNHH DT L (VN) số tiền 461.838.526đ (Bốn trăm sáu mươi mốt triệu,
tám trăm ba mươi tám nghìn, năm trăm hai mươi sáu đồng).
Trong đó: Tiền nợ gốc là 386.877.894đ (Ba trăm tám mươi sáu triệu, tám
trăm bảy mươi bảy nghìn, tám trăm chín mươi bốn đồng; tiền lãi là 74.960.632đ
(Bảy mươi tư triệu, chín trăm sáu mươi nghìn, sáu trăm ba mươi hai đồng).
2. Về án phí:
Công ty TNHH Một thành viên OT phải chịu án phí kinh doanh thương mại
sơ thẩm là: 22.473.500 đồng (Hai mươi hai triệu, bốn trăm bảy mươi ba nghìn,
năm trăm đồng).
Hoàn trả Công ty TNHH DT L (VN) 11.695.000 đồng (Mười một triệu, sáu
trăm chín mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số
0004062 ngày 20/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Biên Hòa,
tỉnh Đồng Nai.
3. Về việc thi hành án:
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp
luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy
định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân
sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời
hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Đồng Nai (1);
- - VKSND tỉnh Đồng Nai (1);
- VKSND TP Biên Hòa (1);
- - THADS TP Biên Hòa (1);
- - Đương sự (2);
- - Lưu hồ sơ vụ án, VP (2).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
(đã ký)
Trần Văn Hùng
12
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng