Bản án số 156/2026/KDTM-PT ngày 17/04/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 156/2026/KDTM-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 156/2026/KDTM-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 156/2026/KDTM-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 156/2026/KDTM-PT ngày 17/04/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hồ Chí Minh |
| Số hiệu: | 156/2026/KDTM-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 17/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Kinh doanh thương mại |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thanh Nhàn
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Bích Thảo
Bà Mai Thị Thanh Tú
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trâm Anh – Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia
phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phương – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 12/3/2026, ngày 10/4/2026 và ngày 17/4/2026 tại trụ sở
Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án về
kinh doanh thương mại thụ lý số: 394/2025/TLPT-KDTM ngày 24 tháng 12
năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án sơ thẩm số 50/2025/KDTM-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 105/2026/QĐXX-PT
ngày 08 tháng 01 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 2220/2026/QĐ-PT ngày
12 tháng 02 năm 2026, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 3329/2026/QĐPT-
KDTM ngày 12 tháng 3 năm 2026 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số
5076/2026/QĐPT-KDTM ngày 10 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần A; Địa chỉ: Số 108 đường
A, phường A, Thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo ủy quyền (theo Văn bản uỷ quyền số 652/UQ-
HĐQT-NHCT-PCTT3 ngày 25/6/2024, Văn bản ủy quyền lại số 35/UQ-
CNSGN-TCTH ngày 12/01/2026):
- Ông Phạm Đình H, sinh năm 1981; (có mặt ngày 12/3/2026 và ngày
10/4/2026, vắng mặt ngày 17/4/2026 )
- Ông Trần Hữu L, sinh năm 1990; (vắng mặt ngày 12/3/2026, có mặt
ngày 10/4/2026 và ngày 17/4/2026)
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 156/2026/KDTM-PT
Ngày: 17/4/2026
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
- Ông Huỳnh Minh T, sinh năm 1982; (vắng mặt)
- Ông Phan Lê Minh T, sinh năm 1973; (vắng mặt)
- Ông Trần Thị Q, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: 1425-1427 Khu phố B, đường B, Khu phố 4, phường B,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Công ty Cổ phần L; Địa chỉ trụ sở: Unit 3A06, Tầng 3A, Toà
nhà C, số 673 đường C, xã C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền (theo Văn bản uỷ quyền số
1007/2025/TBA-GUQ ngày 10/7/2025): Ông Vũ Văn N, sinh năm 1992; Địa chỉ
liên hệ: 257A14 đường D, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt ngày
12/3/2026, có mặt ngày 10/4/2026 và ngày 17/4/2026)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Quốc B, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số 1408/3C khu phố E,
phường E, Thành phố Hồ Chí Minh; (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
2. Bà Trần Thị Mộng Y, sinh năm 1990; Địa chỉ: Số 308 đường F, xã F,
tỉnh Tây Ninh; (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
3. Ông Trương Tuấn K, sinh năm 1971; Địa chỉ: 1/113 Khu phố G
phường G, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo ủy quyền (theo Văn bản uỷ quyền ngày 25/7/2025
tại Văn phòng Công chứng T, số công chứng 013291/07/CCGD, địa chỉ 298 H,
phường H, Thành phố Hồ Chí Minh): Bà Nguyễn Thị Anh Đ, sinh năm 2002;
Địa chỉ liên hệ: 257A14 đường D, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng
mặt ngày 12/3/2026, có mặt ngày 10/4/2026 và ngày 17/4/2026)
4. Bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1975; Địa chỉ: 1/113 Khu phố G
phường G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền (theo Văn bản uỷ quyền ngày 25/7/2025
tại Văn phòng Công chứng T, số công chứng 013292/07/CCGD, địa chỉ 298 H,
phường H, Thành phố Hồ Chí Minh): Ông Nguyễn Khắc M, sinh năm 2003; Địa
chỉ liên hệ: 257A14 đường D, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh; (có mặt)
Người kháng cáo: Công ty Cổ phần L, ông Trương Tuấn K và bà
Nguyễn Thị Thúy H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại Đơn khởi kiện ngày 15/5/2025 của Nguyên đơn - Ngân hàng Thương
mại Cổ phần A và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại
phiên toà, người đại diện của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần A(sau đây viết là Ngân hàng) có ký kết
các Hợp đồng cho vay với Công ty Cổ phần L (sau đây viết là Công ty L), cụ
thể:
3
- Hợp đồng cho vay dự án đầu tư số 02/2019-HĐCVDAĐT/NHCT912 –
Tân Bảo An ngày 19/9/2019 và Phụ lục Hợp đồng cho vay dự án đầu tư số
02/2019-PLHĐCVDAĐT/NHCT912 – Tân Bảo An ngày 20/9/2019. (Sau đây
viết là Hợp đồng 1): Số tiền cam kết cho vay: 5.189.100.000 đồng. Số tiền đã
giải ngân: 5.189.100.000 đồng. Mục đích sử dụng: Đầu tư 10 xe ô tô tải hiệu
ISUZU QKR77HE4 theo hợp đồng mua bán xe số 0737/HĐKD-2019 ngày
06/9/2019 với Công ty Cổ phần N để kinh doanh. Thời hạn cho vay: 60 tháng kể
từ ngày tiếp theo của ngày Bên Cho Vay giải ngân khoản nợ đầu tiên. Ngày bắt
đầu quá hạn: 17/01/2024. Lãi suất cho vay được xác định vào Ngày giải ngân
của Khoản nợ đó và được điều chỉnh (xác định lại) vào ngày một (1) hàng tháng
hoặc Ngày làm việc liền kề trước đó nếu ngày một (1) đó không phải là Ngày
làm việc. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
- Hợp đồng cho vay hạn mức số 300133403/2022-HĐCVHM/NHCT912-
TBA ngày 25/6/2022 và Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng cho vay hạn mức
số 300133403/2022/HĐCVHM-SĐBS01/NHCT912-TBA ngày 04/5/2023 (Sau
đây viết là Hợp đồng 2): Hạn mức cho vay: Thời hạn duy trì hạn mức với tổng
mức dư nợ vay theo Hợp đồng này tại mọi thời điểm không vượt quá
30.000.000.000 đồng. Số tiền đã giải ngân: 11.969.869.750 đồng. Thời hạn duy
trì hạn mức: kể từ ngày 25/6/2022 đến hết ngày 31/7/2023. Mục đích vay vốn:
Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh vận tải và hàng
nông sản. Thời hạn cho vay: thời hạn cho vay của từng khoản nợ được ghi trên
Giấy nhận nợ nhưng tối đa không quá 05 tháng. Ngày bắt đầu quá hạn:
17/01/2024. Lãi suất cho vay được xác định vào ngày giải ngân của Khoản nợ
đó và được điều chỉnh (xác định lại) vào ngày một (1) hàng tháng hoặc Ngày
làm việc liền kề trước đó nếu ngày một (1) đó không phải là Ngày làm việc”. Lãi
suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
- Hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2023/HĐCVHM/NHCT912-TBA
ngày 06/7/2023 (sau đây viết là Hợp đồng 3): Hạn mức cho vay: Thời hạn duy
trì hạn mức với tổng mức dư nợ vay theo Hợp đồng này tại mọi thời điểm không
vượt quá 40.000.000.000 đồng. Số tiền đã giải ngân: 26.760.835.875 đồng. Thời
hạn duy trì hạn mức: Kể từ ngày 06/7/2023 đến hết ngày 01/7/2024. Mục đích
vay vốn: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh vận tải
và hàng nông sản. Thời hạn cho vay: thời hạn cho vay của từng khoản nợ được
ghi trên Giấy nhận nợ nhưng tối đa không quá 05 tháng. Ngày bắt đầu quá hạn:
17/01/2024. Lãi suất cho vay được xác định vào ngày giải ngân của Khoản nợ
đó và được điều chỉnh (xác định lại) vào ngày một (1) hàng tháng hoặc Ngày
làm việc liền kề trước đó nếu ngày một (1) đó không phải là Ngày làm việc”. Lãi
suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Tài sản đảm bảo cho các khoản vay trên là:
- Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
thuộc thửa đất số 584, TBĐ số 5 tại địa chỉ: phường Thạnh Lộc, quận 12, TP.
HCM, theo Giấy chứng nhận QSDĐ, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất số BK 799804; Số vào sổ cấp GCN: CH 03903 do UBND quận 12,
4
TP. HCM cấp ngày 08/6/2012, theo Hợp đồng thế chấp tài sản số
01/2022/HĐBĐ/NHCT912/TANBAOAN-Q12 (Số công chứng 004496, quyển
số 10/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/10/2022 do Văn phòng công chứng
Nguyễn Đức Hưng chứng); Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 10/10/2022.
- Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
thuộc thửa đất số 559, TBĐ số 18 tại địa chỉ: xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi, TP.
HCM, theo Giấy chứng nhận QSDĐ, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất số CS 761708, Số vào sổ cấp GCN: CH08134 do UBND huyện Củ
Chi cấp ngày 14/11/2019, Cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Quốc Bảo
ngày 14/02/2020; Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất thuộc thửa đất số 561, TBĐ số 18 tại địa chỉ: xã Nhuận Đức, huyện
Củ Chi, TP. HCM, theo Giấy chứng nhận QSDĐ, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số CO 933181, Số vào sổ cấp GCN: CH07967 do UBND
huyện Củ Chi cấp ngày 03/10/2019, Cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn
Quốc Bảo ngày 17/3/2020; Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất thuộc thửa đất số 562, TBĐ số 18 tại địa chỉ: xã Nhuận
Đức, huyện Củ Chi, TP. HCM, theo Giấy chứng nhận QSDĐ, Quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 933182, Số vào sổ cấp GCN: CH07964
do UBND huyện Củ Chi cấp ngày 03/10/2019, Cập nhật chuyển nhượng cho
ông Nguyễn Quốc Bảo ngày 17/3/2020, theo Hợp đồng thế chấp tài sản số
01/2021/HĐBĐ/NHCT912/TANBAOAN-CUCHI ngày 16/6/2021 (Số công
chứng 002787, quyển số 06/2021 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng công
chứng Nguyễn Duy Cường chứng) và văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế
chấp số 01/2021/VBSĐBSHĐTC-01/NHCT912TANBAOAN-CUCHI ngày
20/5/2022 (Số công chứng 003922, quyển số 05/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày
20/5/2022 do Văn phòng công chứng Nguyễn Duy Cường chứng); Đăng ký giao
dịch bảo đảm ngày 16/6/2021.
Tổng số tiền Ngân hàng đã giải ngân và Công ty L đã nhận nợ là:
43.919.805.625 đồng.
Quá trình thực hiện các Hợp đồng, Công ty L đã thanh toán tổng số tiền:
15.998.326.697 đồng, trong đó: Gốc 14.081.340.000 đồng, tiền lãi trong hạn là
1.910.567.702 đồng, lãi quá hạn là 6.418.995 đồng.
Từ ngày 17/01/2024 Công ty L không trả nợ. Ngân hàng đã nhiều lần
thông báo và làm việc để yêu cầu khách hàng trả nợ nhưng Công ty L vẫn không
thực hiện.
Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu Toà án giải quyết, buộc Công ty L trả nợ, tổng
số nợ tạm tính đến ngày 29/9/2025 là: 38.919.048.946 đồng. Trong đó: nợ gốc:
29.838.465.625 đồng, nợ lãi trong hạn: 6.382.615.533 đồng, nợ lãi quá hạn:
2.697.967.788 đồng.
Số nợ theo từng hợp đồng như sau:
Hợp đồng 1: Gốc: 285.500.000 đồng, lãi trong hạn: 71.863.869 đồng, lãi
quá hạn: 18.248.480 đồng. Tổng: 375.612.349 đồng.
5
Hợp đồng 2: Gốc: 2.792.129.750 đồng, lãi trong hạn: 970.343.411 đồng,
lãi quá hạn: 388.086.668 đồng. Tổng: 4.150.559.829 đồng.
Hợp đồng 3: Gốc: 26.760.835.875 đồng, lãi trong hạn: 5.340.408.253
đồng, lãi quá hạn: 2.291.632.640 đồng. Tổng: 34.392.876.768 đồng
Yêu cầu Công ty L tiếp tục trả tiền lãi từ ngày 30/9/2025 đến khi tất toán
khoản nợ, theo mức lãi suất thoả thuận tại các hợp đồng cho vay.
Trường hợp khi bản án/quyết định có hiệu lực pháp luật mà Công ty L
không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng
được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mãi 04 tài sản bảo đảm
nêu trên để thu hồi nợ.
Trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ gốc và nợ
lãi theo các Hợp đồng cho vay nêu trên thì Công ty L vẫn phải có nghĩa vụ tiếp
tục trả nợ cho đến khi hoàn thành xong toàn bộ nghĩa vụ nợ đối với Ngân hàng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng
mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án mặc dầu đã được Toà án tống đạt các
văn bản hợp lệ. Toà án cũng không nhận được văn bản ý kiến của bị đơn, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên không ghi nhận được ý kiến của bị đơn,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại Bản án sơ thẩm số 50/2025/KDTM-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam.
1.1. Buộc bị đơn là Công ty Cổ phần L có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân
hàng Thương mại cổ phần Asố nợ tạm tính đến ngày 29/9/2025, như sau:
Hợp đồng 1: Gốc: 285.500.000 đồng, lãi trong hạn: 71.863.869 đồng, lãi
quá hạn: 18.248.480 đồng. Tổng: 375.612.349 đồng.
Hợp đồng 2: Gốc: 2.792.129.750 đồng, lãi trong hạn: 970.343.411 đồng,
lãi quá hạn: 388.086.668 đồng. Tổng: 4.150.559.829 đồng.
Hợp đồng 3: Gốc: 26.760.835.875 đồng, lãi trong hạn: 5.340.408.253
đồng, lãi quá hạn: 2.291.632.640 đồng. Tổng: 34.392.876.768 đồng
Tổng số nợ của 03 hợp đồng là: 38.919.048.946 đồng (Ba mươi tám tỷ,
chín trăm mười chín triệu, không trăm bốn mươi tám nghìn, chín trăm bốn mươi
sáu đồng). Trong đó: nợ gốc: 29.838.465.625 đồng, nợ lãi trong hạn:
6.382.615.533 đồng, nợ lãi quá hạn: 2.697.967.788 đồng.
Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
1.2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 30/9/2025) khách
hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa
thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng cho đến khi
6
thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các
bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân
hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân
hàng cho vay theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp
với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
1.3. Nếu Công ty Cổ phần L không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ
trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Acó quyền đề nghị Cơ quan Thi hành
án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ, gồm:
- Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
thuộc thửa đất số 584, TBĐ số 5 tại địa chỉ: phường Thạnh Lộc, quận 12, TP.
HCM, theo Giấy chứng nhận QSDĐ, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất số BK 799804; Số vào sổ cấp GCN: CH 03903 do UBND Quận 12,
Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08/6/2012.
- Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
thuộc thửa đất số 559, TBĐ số 18 tại địa chỉ: xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi,
Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận QSDĐ, Quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất số CS 761708; Số vào sổ cấp GCN: CH08134 do
UBND huyện Củ Chi cấp ngày 14/11/2019; Cập nhật chuyển nhượng cho ông
Nguyễn Quốc Bảo ngày 14/02/2020;
- Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
thuộc thửa đất số 561, TBĐ số 18 tại địa chỉ: xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi,
Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận QSDĐ, Quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất số CO 933181; Số vào sổ cấp GCN: CH07967 do
UBND huyện Củ Chi cấp ngày 03/10/2019; Cập nhật chuyển nhượng cho ông
Nguyễn Quốc Bảo ngày 17/3/2020;
- Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
thuộc thửa đất số 562, TBĐ số 18 tại địa chỉ: xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi,
Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận QSDĐ, Quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất số CO 933182; Số vào sổ cấp GCN: CH07964 do
UBND huyện Củ Chi cấp ngày 03/10/2019; Cập nhật chuyển nhượng cho ông
Nguyễn Quốc Bảo ngày 17/3/2020.
1.4. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ
trả nợ thì Công ty Cổ phần L tiếp tục có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.
1.5. Khi Công ty Cổ phần L tất toán toàn bộ khoản vay thì Ngân hàng
Thương mại cổ phần Acó trách nhiệm làm thủ tục xóa thế chấp theo quy định
của pháp luật và giao bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền
sử dụng đất cho chủ sử dụng, sở hữu là ông Trương Tuấn Kiệt, bà Nguyễn Thị
Thu Hằng, ông Nguyễn Quốc Bảo và bà Trần Thị Mộng Yên.
Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo và
nghĩa vụ thi hành án của đương sự.
7
Ngày 08/10/2025, Công ty Cổ phần L, ông Trương Tuấn K và bà Nguyễn
Thị Thúy H nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do:
Bản án sơ thẩm chưa xem xét khách quan toàn diện vụ án, chưa nhận
định, đánh giá hết tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và thực tế khách quan, ảnh
hưởng quyền và lợi ích của Bị đơn và Người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Đề
nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm ngày 29/9/2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực 6 - Thành phố Hồ Chí Minh theo trình tự thủ tục phúc
thẩm, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho chúng tôi.
* Tại phiên tòa Phúc thẩm:
Đại diện Công ty Cổ phần L trình bày yêu cầu kháng cáo đề nghị hủy
bản án sơ thẩm với những lý do như sau:
- Cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong thu thập và
đánh giá chứng cứ, cụ thể tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ đã ghi nhận
không đúng về hiện trạng đối với tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và nhà ở
tại thửa số 584, tờ bản đồ số 5, địa chỉ An Phú Đông, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng về cấp tống đạt văn
bản tố tụng cho bị đơn, cụ thể Công ty Cổ phần L đã thay đổi người đại diện
theo pháp luật từ ông Nguyễn Quốc Bảo qua ông Trần Quốc Tiến từ ngày
10/01/2025, nhưng tòa án cấp sơ thẩm không tống đạt văn bản tố tụng cho ông
Tiến mà chỉ niêm yết văn bản tố tụng tại địa chỉ trụ sở công ty.
- Cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng về xác định đương
sự trong vụ án, cụ thể không đưa ông Trương Tuấn Anh là người đang cư ngụ
vào tham gia tố tụng khi tuyên phát mãi tài sản.
- Cấp sơ thẩm không thu thập đầy đủ các tài liệu như giấy nhận nợ, bảng
kê chi tiết các khoản còn nợ, số tiền gốc, lãi của từng khoản vay và thông báo lãi
suất để xác định việc điều chỉnh lãi của nguyên đơn có phù hợp hay không mà
chỉ dựa vào bảng kê tổng nợ gốc lãi của Ngân hàng để chấp nhận yêu cầu là
chưa đủ căn cứ.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trương Tuấn Kiệt trình bày yêu cầu
kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm với những lý do như sau: Ông Kiệt không
được Tòa án sơ thẩm tống đạt các quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập
để đến tham gia phiên tòa xét xử. Ngoài ra, các biên bản ghi nhận việc không thực
hiện được việc giao văn bản và các biên bản niêm yết là không đúng quy định, có
dấu hiệu lập khống các biên bản không nhằm mục đích tống đạt đề người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan được biết để tham gia mà chỉ để cho đủ thủ tục đem ra xử.
Đối với những nội dung khác thì ông Kiệt thống nhất với kháng cáo của bị đơn.
Người đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Thị Thúy Hằng trình bày yêu cầu
kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm với những lý do như sau: Bà Hằng không
được Tòa án sơ thẩm tống đạt các quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập
để đến tham gia phiên tòa xét xử. Đối với những nội dung khác thì bà Hằng thống
nhất với kháng cáo của đại diện bị đơn và ông Trương Tuấn Kiệt.
8
Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng trình bày: Nguyên đơn
không đồng ý toàn bộ những nội dung kháng cáo của bị đơn, ông Kiệt và bà
Hằng. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu việc
tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự của những người tiến hành tố tụng, những
người tham gia tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Qua kiểm sát vụ án từ khi thụ lý hồ sơ đến thời điểm xét xử thấy rằng
Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định về thẩm quyền giải quyết vụ án, xác
định đúng quan hệ tranh chấp, xác định tư cách người tham gia tố tụng trong vụ
án, tiến hành lập hồ sơ, ra quyết định đưa vụ án ra xét xử và gửi hồ sơ cho Viện
kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn, việc cấp và tống đạt các văn bản tố tụng cho
người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát theo đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng
dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay,
phiên tòa tiến hành đúng trình tự pháp luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý cũng
như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
Về nội dung: Cấp sơ thẩm không xác minh về tình trạng hoạt động của
Công ty Cổ phần L là bị đơn để xác định người đại diện theo pháp luật hiện nay là
ai và không thực hiện việc tống đạt cho bị đơn (pháp nhân thông qua người đại
diện theo pháp luật hoặc người chịu trách nhiệm nhận văn bản của pháp nhân theo
quy định của Điều 178 Bộ luật Tố tụng dân sự là vi phạm nghiêm trọng về thủ tục
tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn trong giai đoạn
sơ thẩm, thuộc trường hợp bản án sơ thẩm bị hủy theo quy định của khoản 3 Điều
308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ
thẩm chuyển hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân Khu vực 6 -Thành phố Hồ Chí
Minh để giải quyết lại theo trình tự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, văn bản trình bày ý kiến của
người kháng cáo, lời trình bày của nguyên đơn, ý kiến phát biểu của đại diện
Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết vụ án đúng theo thẩm quyền, xác định
quan hệ tranh chấp và tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án là
đúng theo quy định của Pháp luật Tố tụng.
[2] Đơn kháng cáo của Công ty Cổ phần L, ông Trương Tuấn K và bà
Nguyễn Thị Thúy H còn trong thời hạn kháng cáo, có hình thức và nội dung
đúng quy định nên được chấp nhận.
9
[3] Phạm vi xét xử phúc thẩm: Công ty Cổ phần L, ông Trương Tuấn K
và bà Nguyễn Thị Thúy H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, nên căn cứ quy
định của Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét
lại toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án.
[4] Xét kháng cáo của Công ty Cổ phần L về việc cấp sơ thẩm vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng về cấp tống đạt văn bản tố tụng cho bị đơn, cụ thể
từ ngày 10/01/2025 Công ty Cổ phần L đã thay đổi người đại diện theo pháp
luật từ ông Nguyễn Quốc B qua ông Trần Quốc T, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm
không tống đạt văn bản tố tụng cho ông T mà chỉ niêm yết văn bản tố tụng tại
địa chỉ trụ sở công ty.
[5] Hồ sơ thể hiện quá trình tố tụng Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện việc
cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho Công ty Cổ phần L như sau:
[6] Biên bản niêm yết công khai ngày 18/7/2025 (bút lục số 26) thể hiện
tại địa chỉ cấp tống đạt “không có bảng hiệu, nhân viên làm việc của công ty”
nên Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện việc niêm yết các văn bản:
1/ Thông báo về việc thụ lý vụ án số 35/TB-TA ngày 11/06/2025;
2/ Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ và hòa giải số 09/2025/TB-TA ngày 10/07/2025;
3/ Quyết định xem xét thẩm định tại chỗ số 11/2025/QĐ-XXTĐTC ngày
14/07/2025;
4/ Quyết định xem xét thẩm định tại chỗ số 14/2025/QĐ-XXTĐTC ngày
14/07/2025;
5/ Giấy triệu tập đương sự trong vụ án "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
số 35/2025/GTT-TA, đúng 10 giờ 00 ngày 01/08/2025 có mặt tại Tòa án để
tham gia giải quyết vụ án;
6/ Giấy triệu tập đương sự trong vụ án "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
số 61/2025/GTT-TA, đúng 14 giờ 30 ngày 05/08/2025 có mặt tại Thửa đất số
584, TBĐ số 5, phường Thạnh Lộc, quận 12, TP.Hồ Chí Minh để tham gia buổi
xem xét, thẩm định;
7/ Giấy triệu tập đương sự trong vụ án "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
số 62/2025/GTT-TA, đúng 09 giờ 00 ngày 05/08/2025 và ngày 06/08/2025 có
mặt tại Thửa đất số 559, 561 và 562 TBĐ số 18, huyện Nhuận Đức, huyện Củ
Chi, TP.Hồ Chí Minh để tham gia buổi xem xét, thẩm định;
[7] Biên bản tống đạt ngày 11/8/2025 (bút lục số 38) thể hiện Tòa án cấp
sơ thẩm thực hiện việc tống đạt trực tiếp cho người nhận là ông Nguyễn Minh T
10
là nhân viên tại địa chỉ 18A Đường T, xã T, TP.HCM các văn bản: 1. Thông báo
kết quả xem xét thẩm định tại chỗ; 2. Thông báo phiên họp; 3. Giấy triệu tập;
[8] Biên bản tống đạt ngày 28/8/2025 (bút lục số 39) thể hiện Tòa án cấp
sơ thẩm thực hiện việc tống đạt trực tiếp cho người nhận là Nguyễn Thị Thúy A
là nhân viên tại địa chỉ 18A Đường T, xã T, TP.HCM các văn bản: 1. Giấy triệu
tập; 2. Quyết định đưa vụ án ra xét xử; 3. Thông báo kết quả phiên họp;
[9] Biên bản tống đạt ngày 14/9/2025 (bút lục số 48) thể hiện Tòa án cấp
sơ thẩm thực hiện việc tống đạt trực tiếp cho người nhận là Nguyễn Minh Tuấn
nhân viên tại địa chỉ 18A Đường T, xã T, TP.HCM các văn bản: 1. Giấy triệu
tập; 2. Quyết định hoãn phiên tòa;
[10] Căn cứ Điều 178 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về Thủ tục cấp,
tống đạt, thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức: “1. Trường hợp người được
cấp, tống đạt, thông báo là cơ quan, tổ chức thì văn bản tố tụng phải được giao
trực tiếp cho người đại diện theo pháp luật hoặc người chịu trách nhiệm nhận
văn bản của cơ quan, tổ chức đó và phải được những người này ký nhận.
Trường hợp cơ quan, tổ chức được cấp, tống đạt, thông báo có người đại diện
tham gia tố tụng hoặc cử người đại diện nhận văn bản tố tụng thì những người
này ký nhận văn bản tố tụng đó. Ngày ký nhận là ngày được cấp, tống đạt,
thông báo; 2. Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo từ chối nhận
văn bản tố tụng hoặc vắng mặt thì thực hiện theo quy định tại khoản 4 và khoản
5 Điều 177 của Bộ luật này.”
[11] Tại cấp phúc thẩm Công ty Cổ phần L cung cấp Giấy chứng nhận
đăng ký doanh nghiệp (đăng ký thay đổi lần thứ 16, ngày 09/01/2025) thể hiện:
“Địa chỉ trụ sở chính: Unit 3A06, Tầng 3A, Toà nhà C, số 673 đường C, xã C,
Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Trần Quốc T; Địa chỉ
thường trú: 1605/1A, tổ 15, Khu phố 4, Phường Q, Quận Q, TP.HCM”
[12] Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện thủ tục niêm yết các văn
bản tố tụng đối với Công ty Cổ phần L tại địa chỉ trụ sở chính của công ty khi
tại đây “không có bảng hiệu, nhân viên làm việc của công ty” là không đúng
quy định của khoản 1 Điều 178 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[13] Ngoài ra, tại các Biên bản tống đạt ngày 11/8/2025 (bút lục số 38),
ngày 28/8/2025 (bút lục số 39), ngày 14/9/2025 (bút lục số 48) thể hiện Tòa án
cấp sơ thẩm thực hiện việc tống đạt trực tiếp cho người nhận là Nguyễn Minh
T, bà Nguyễn Thị Thúy A nhưng nơi tống đạt không phải là địa chỉ trụ sở của
Công ty Cổ phần L và cũng không có căn cứ thể hiện ông T, bà A là người chịu
trách nhiệm nhận văn bản cho công ty như quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ
luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Công ty Cổ phần L trình
11
bày ông T, bà A đều không phải là nhân viên văn phòng của công ty và không
được công ty phân công tiếp nhận giấy tờ. Vì vậy, việc tống đạt cho Công ty Cổ
phần L thông qua ông Nguyễn Minh T, bà Nguyễn Thị Thúy A là không đúng
quy định của khoản 1 Điều 178 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[14] Vi phạm về thủ tục tố tụng tống đạt của cấp sơ thẩm làm ảnh hưởng
đến quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn trong giai đoạn sơ thẩm như quyền
trình bày ý kiến cung cấp chứng cứ chứng minh, đưa ra yêu cầu cung cấp chứng
cứ, yêu cầu phản tố…, tại cấp phúc thẩm không thể bổ sung khắc phục được nên
thuộc trường hợp phải hủy bản án sơ thẩm theo quy định của Khoản 2 Điều 310
Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
[15] Bản án sơ thẩm bị hủy do có vi phạm về thủ tục tố tụng nên các
kháng cáo của Công ty Cổ phần L, ông Trương Tuấn K và bà Nguyễn Thị Thúy
H về nội dung giải quyết vụ án sẽ được tòa án cấp sơ thẩm xem xét giải quyết
khi giải quyết lại theo trình tự sơ thẩm. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề
nghị chấp nhận kháng cáo hủy bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội
đồng xét xử nên được chấp nhận.
[16] Về án phí: Do hủy bản án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải
chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 3 Điều 148, Điều 271, Điều 273, Điều 296, khoản 3
Điều 308, khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 29 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ phần L, ông Trương Tuấn K và
bà Nguyễn Thị Thúy H:
Hủy Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 50/2025/KDTM-ST ngày
29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Chuyển hồ sơ về cho Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Thành phố Hồ Chí
Minh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
2. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Sẽ được xác định khi giải
quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
3. Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:

12
Công ty Cổ phần L được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm
đã nộp là 2.000.000 (hai triệu) đồng theo Biên lai thu ký hiệu BLTU/25E số
0035455 ngày 06/11/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Trương Tuấn K được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm
đã nộp là 2.000.000 (hai triệu) đồng theo Biên lai thu ký hiệu BLTU/25E số
0035458 ngày 06/11/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Nguyễn Thị Thúy H được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí phúc
thẩm đã nộp là 2.000.000 (hai triệu) đồng theo Biên lai thu ký hiệu BLTU/25E
số 0035460 ngày 06/11/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TANDTC;
- VKSNDTC;
- VKSND TP.HCM;
- TAND Khu vực 6 - TPHCM;
- Phòng THADS Khu vực 6 - TPHCM;
- THADS TP.Hồ Chí Minh
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Ngô Thanh Nhàn

13
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng