Bản án số 279/2026/DS-PT ngày 21/09/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 279/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 279/2026/DS-PT ngày 21/09/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 279/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 279/2026/DS-PT Bản án số 279/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 279/2026/DS-PT Bản án số 279/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 279/2026/DS-PT
Ngày 21 - 9 - 2026
“V/v Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Thành.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền;
Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Linh Chi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Phú Thọ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 199/2026/TLPT-DS ngày 06
tháng 8 năm 2026 về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 252/2026/QĐ - PT
ngày 17 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Quang L, sinh năm 1989;
Địa chỉ: Thôn V, xã H, tỉnh P.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Nguyễn Cao T, sinh
năm 1991, (có mặt);
Địa chỉ: Đường N, phường V1, tỉnh P (Theo văn bản ủy quyền ngày
13/03/2026).
2. Bị đơn: Bà Dương Thúy H, sinh năm 1973, (có mặt);
Địa chỉ: Đường L2, TDP Đ, phường V2, tỉnh P.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1994, (vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn V, xã H, tỉnh P.
- Ông Phùng Hồng L1, sinh năm 1969, (vắng mặt);
2
Địa chỉ: Đường L2, TDP Đ, phường V2, tỉnh P.
4. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 12 năm 2025 và các lời khai tiếp
theo người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Cao T trình bày:
Anh Nguyễn Quang L có nhu cầu nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để
xây nhà ở, kinh doanh tại phường Đ1, thành phố V2, tỉnh V3 (nay là phường
V2, tỉnh P). Sau khi tìm hiểu, anh L được biết ông Phùng Hồng L1 và vợ là bà
Dương Thúy H có nhu cầu chuyển nhượng quyền sử dụng một phần thửa đất tại
tổ dân phố Đ, phường Đ1, thành phố V2, tỉnh V3 (nay là tổ dân phố Đ, phường
V2, tỉnh P) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất (GCNQSDĐ) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V3
cấp ngày 16/01/2009. Căn cứ theo nhu cầu và khả năng của hai bên, ngày
18/09/2021, anh L và bà Dương Thúy H đã giao kết “Hợp đồng đặt cọc chuyển
nhượng quyền sử dụng đất” có sự chứng kiến của ông Hoàng Văn T1. Mục đích
của việc đặt cọc nhằm đảm bảo giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng một phần thửa đất. Nội dung thỏa thuận như sau: anh Nguyễn Quang L đặt
cọc cho bà Dương Thúy H số tiền 200.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng
phần đất có mặt tiền 16m, mặt hậu 16m, dài 22m (có thể tăng/giảm 1m), đất ở
150m
2
; phía bà H có trách nhiệm thực hiện thủ tục tách thửa theo thỏa thuận của
hai bên. Thời hạn đặt cọc 16 ngày (từ ngày 18/9/2021 đến hết ngày 04/10/2021).
Tại thời điểm giao kết hợp đồng đặt cọc, quyền sử dụng đất đối với thửa đất
đang thế chấp để đảm bảo cho khoản vay của bà H, ông L1 tại Ngân hàng nên
anh L và bà H thoả thuận đến ngày 04/10/2021, anh L sẽ giao thêm cho bà H số
tiền 800.000.000 đồng (Tám trăm triệu đồng) để thanh toán khoản vay và thực
hiện các thủ tục xóa thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai. Nếu quá thời hạn
đặt cọc, bà H không thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì bà H
hoàn trả cho anh L số tiền cọc 200.000.000 đồng và bồi thường 800.000.000
đồng (tổng số tiền hoàn trả cọc và bồi thường là 1.000.000.000 đồng).
Thực hiện theo đúng thỏa thuận, ngay sau khi ký kết hợp đồng đặt cọc,
anh L đã giao đủ số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng cho bà H, trong đó giao
100.000.000 đồng tiền mặt và 100.000.000 đồng anh L nhờ vợ là bà Nguyễn Thị
H1 chuyển khoản vào tài khoản số 2810205018390 – Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chủ tài khoản: Dương Thúy H. Bà H đã
nhận đủ tiền và ký tên xác nhận vào hợp đồng đặt cọc.
3
Khi hết thời hạn đặt cọc, tức hết ngày 04/10/2021, bà H thông báo chưa
có đủ tiền để thanh toán khoản vay tại Ngân hàng nên chưa thể thực hiện thủ tục
chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo đúng thời hạn thỏa thuận và đề nghị
được gia hạn thêm thời hạn đặt cọc. Nên hai bên đã thỏa thuận gia hạn thời hạn
đặt cọc, nhưng khi hết thời gian gia hạn, anh L liên hệ với bà H để ký hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại tổ chức hành nghề công chứng nhưng bà
H viện đủ lý do để không ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo
thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc ngày 18/9/2021. Do bà H không thực hiện
đúng cam kết, nên anh L có trao đổi với bà H là không nhận chuyển nhượng đất
nữa và hủy hợp đồng đặt cọc và bà H đồng ý nên đã chuyển nhượng thửa đất
cho người khác. Anh L đã nhiều lần liên hệ và gặp trực tiếp bà H để yêu cầu bà
H để hai bên hủy hợp đồng đặt cọc và yêu cầu bà H, ông L1 hoàn trả cho anh L
số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng nhưng bà H chưa trả. Anh L khởi kiện đề nghị
Tòa án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ giải quyết: Buộc bà Dương Thúy H và
ông Phùng Hồng L1 trả cho anh L tổng số tiền là 1.000.000.000 đồng (Bằng
chữ: Một tỷ đồng), bao gồm số tiền đặt cọc là 200.000.000 đồng, tiền phạt cọc
do vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc là 800.000.000 đồng. Nhưng
nguyên đơn xin thay đổi quan điểm chỉ đề nghị hủy hợp đồng đặt cọc và buộc
ông L1, bà H trả lại tiền đặt cọc là 200.000.000đ, không yêu cầu bồi thường thiệt
hại hay phạt cọc. Yêu cầu Tòa án tính lãi chậm trả sau khi xét xử theo quy định
của pháp luật.
Về án phí: Anh L đề nghị chịu án phí đối với tranh chấp hợp đồng theo
quy định của pháp luật.
Bị đơn bà Dương Thúy H trình bày: Bà và ông Phùng Hồng L1 là vợ
chồng. Bà và ông L1 là chủ sử dụng hợp pháp của thửa đất đã được Ủy ban nhân
dân cấp GCNQSDĐ ngày 16/01/2009. Vợ chồng bà có nguyện vọng chuyển
nhượng đất, còn anh L có nguyện vọng nhận chuyển nhượng một phần thửa đất.
Hai bên thỏa thuận giá chuyển nhượng là 11.500.000đ/m
2
nên ngày 18/09/2021
bà là đại diện bên chuyển nhượng và anh L là đại diện bên nhận chuyển nhượng
đã ký hợp đồng đặt cọc để đảm bảo chuyển nhượng quyền sử dụng một phần
thửa đất. Cụ thể chuyển nhượng mặt trước và mặt sau là 16m, chiều sâu là 22m,
trong đó đất ở là 150m
2
. Thời hạn đặt cọc đến ngày 04/11/2021 bên nhận chuyển
nhượng sẽ thanh toán cho bên chuyển nhượng là 1.000.000.000đ (một tỷ đồng).
Thời điểm ký hợp đồng đặt cọc GCNQSDĐ đang do ngân hàng Nông nghiệp và
phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh V2 quản lý vì bà và ông L1 vay vốn
Ngân hàng nên thế chấp thửa đất nêu trên ở Ngân hàng. Hai bên thỏa thuận ngày
04/11/2021 bên anh L chị H1 thanh toán 1.000.000.000đ để bà nộp vào ngân
hàng để lấy GCNQSDĐ ra để làm thủ tục chuyển nhượng. Đến ngày 04/11/2021
4
anh L, chị H1 gọi điện trao đổi với bà ra hạn thêm một vài ngày để lo tiền, vợ
chồng bà đồng ý cho hạn thêm một vài ngày bà không nhớ cụ thể. Đến hạn
thanh toán tiền thì bà đi lấy hàng ở thành phố H2 nên không đem điện thoại,
chiều về có nhiều cuộc điện thoại nhỡ của chị H1, bà có gọi lại cho chị H1 thì
chị H1 nói là không mua nữa vì gọi cho bà nhiều lần không được. Anh L đề nghị
bà và ông L1 trả lại tiền cọc, bà đồng ý trả nhưng do bà và ông L1 đã sử dụng
tiền nên chưa có tiền thanh toán lại tiền cọc cho anh L. Bà có trao đổi với anh L,
chị H1 khi nào bán được đất thì sẽ trả lại tiền cọc. Một thời gian sau chị H1 nói
chuyện với bà lý do anh L không mua đất là do nghe dư luận vợ chồng bà nợ
nhiều. Đến ngày 07/10/2022 bà và ông L1 đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất
nêu trên cho chị Trần Thị Y và anh Nguyễn Hồng Q. Nhưng do chị Y và anh Q
không trả tiền được một lúc nên vợ chồng bà chưa trả được tiền cho anh L. Nay
anh L khởi kiện đề nghị hủy hợp đồng đặt cọc mà hai bên đã kí ngày 18/9/2021
và đề nghị vợ chồng bà trả lại tiền đặt cọc cho anh L là 200.000.000đ. Bà đồng ý
hủy hợp đồng đặt cọc, vì bà đã chuyển nhượng thửa đất cho người khác và đồng
ý trả lại tiền đặt cọc cho anh L là 200.000.000đ. Nhưng hiện nay, vợ chồng bà
đang gặp nhiều khó khăn nên xin được trả dần. Bà và chồng bà là ông L1 có
nhận được thông báo mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ của Tòa án và
giấy triệu tập phiên tòa nhiều lần nhưng ông L1 đi làm ăn xa nên không đến tòa
tham gia phiên hòa giải và tham gia phiên tòa được. Về án phí bà đề nghị Tòa án
giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phùng Hồng L1 quá trình thu
thập chứng cứ và tại phiên tòa đều vắng mặt nên Tòa án không thu thập được
chứng cứ đối với ông L1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H1 trình bày:
Chồng chị là anh Nguyễn Quang L có nhu cầu nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất để xây nhà ở, kinh doanh tại phường Đ1, thành phố V2, tỉnh V3 (nay là
phường V2, tỉnh P). Sau khi tìm hiểu, anh L biết ông Phùng Hồng L1 và vợ là
bà Dương Thúy H đang có nhu cầu chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với
một phần thửa đất, theo GCNQSDĐ do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V3
cấp ngày 16/01/2009.
Căn cứ theo nhu cầu và khả năng của hai bên, ngày 18/09/2021, anh L và
bà Dương Thúy H đã giao kết “Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng
đất” có sự chứng kiến của ông Hoàng Văn T1. Mục đích của việc đặt cọc nhằm
đảm bảo giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Nội dung thỏa
thuận được thể hiện cụ thể tại Hợp đồng đặt cọc anh L và bà Dương Thúy H đã
ký kết.
5
Sau khi ký kết hợp đồng đặt cọc, anh L thanh toán tiền đặt cọc cho bà H
theo thỏa thuận. Tại thời điểm bàn giao tiền đặt cọc, anh L đã giao cho bà H
tiền mặt là 100.000.000đồng và anh L đã nhờ chị chuyển khoản số tiền
100.000.000 đồng vào tài khoản số 2810205018390 – Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chủ tài khoản: Dương Thúy H. Số tiền
100.000.000 đồng anh L nhờ chị chuyển cho bà H là tiền riêng của chồng chị,
chị không có đóng góp nào vào số tiền này.
Chị được biết, bà H đã vi phạm cam kết và không thực hiện đúng nội
dung thỏa thuận đã nêu trong hợp đồng đặt cọc. Anh L đã khởi kiện yêu cầu bà
bà H hoàn trả số tiền đặt cọc và phạt cọc theo thỏa thuận. Quan điểm của chị là
số tiền 100.000.000 đồng anh L nhờ chị chuyển khoản cho bà H là tiền riêng của
chồng chị, chị không có đóng góp gì, đề nghị Tòa án xét xử buộc bà Dương
Thúy H có trách nhiệm hoàn trả cho chồng chị. Đề nghị Tòa án xem xét và giải
quyết theo quy định pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2026/DS-ST ngày 29 tháng 6 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân
sự; các Điều 117, 118, 328, 423, 427 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 326 ngày
30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Quang L.
- Hủy hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với một
phần thửa đất ở tổ dân phố Đ, phường Đ1, thành phố V2, tỉnh V3 (nay là tổ dân
phố Đ, phường V2, tỉnh P) giữa bên đặt cọc anh Nguyễn Quang L và bên nhận
đặt cọc là bà Dương Thúy H kí kết ngày 18/9/2021.
- Bà Dương Thúy H và Phùng Hồng L1 có trách nhiệm hoàn trả cho anh
Nguyễn Quang L số tiền đặt cọc là 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng chẵn).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn
yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành khoản tiền trên thì
còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định
tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chậm thi
hành án.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn anh Nguyễn Quang L tự nguyện
chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng chẵn), được khấu trừ vào số tiền tạm
ứng án phí anh L đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0006654 ngày 11/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Hoàn trả anh
Nguyễn Quang L 20.700.000đ (hai mươi triệu bảy trăm nghìn đồng chẵn) tiền
tạm ứng án phí đã nộp
6
- Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương
sự.
Ngày 14/7/2026 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ
có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 01/QĐKNPT-VKS-DS kháng nghị
toàn bộ bản án sơ thẩm và đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc
thẩm sửa bản án sơ thẩm số 35/2026/DS-ST ngày 29 tháng 6 năm 2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ theo hướng đương sự phải chịu án phí dân sự
có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ không rút
kháng nghị nhưng sửa đổi nội dung kháng nghị, cụ thể: Kháng nghị một phần
bản án sơ thẩm và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng
đương sự phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu:
- Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết
vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án,
Thẩm phán và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự trong quá trình giải quyết. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký
phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên
tòa phúc thẩm. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng quy
định pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 2
Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng nghị và đề nghị Tòa án nhân
dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm số 35/2026/DS-ST ngày
29 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ theo hướng
đương sự phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định của pháp luật. Cụ
thể, anh Nguyễn Quang L chịu 10.000.000đ án phí dân sự sơ thẩm (Nguyên đơn
tự nguyện chịu án phí thay cho bị đơn).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 01/QĐKNPT-VKS-DS ngày
14/7/2026 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ trong
thời hạn luật định nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét đơn theo thủ tục phúc
thẩm.
[2] Về nội dung kháng nghị, Hội đồng xét xử xét thấy:
7
Bản án sơ thẩm đã căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về án phí và lệ phí Tòa án và nhận định: “Đây là vụ án tranh chấp hợp
đồng đặt cọc, nguyên đơn và bị đơn chỉ đề nghị hoàn trả cho nhau tài sản đặt
cọc, không yêu cầu phạt cọc và bồi thường thiệt hại. Mặt khác, các bên chưa kí
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên số tiền đặt cọc chưa được
chuyển sang tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên số tiền đặt cọc các bên
đề nghị hoàn trả cho nhau không phải là khoản tiền phát sinh từ nghĩa vụ thanh
toán của hợp đồng chuyển nhượng nên theo quy định của khoản 4 Điều 27 Nghị
quyết 326 đương sự không phải chịu án phí có giá ngạch đối với số tiền đặt cọc
hoàn trả. Đương sự phải chịu án phí không có giá ngạch về việc tranh chấp hợp
đồng. Nguyên đơn tự nguyện chịu án phí này nên nguyên đơn phải chịu án phí
theo quy định của pháp luật”.
Hội đồng xét xử sơ thẩm đã hiểu sai nội dung khoản 4 Điều 27 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội nên chỉ buộc đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là
không đúng, gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước. Tại khoản 3 Điều 24 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định: “Vụ án dân sự có giá ngạch là vụ án mà trong đó yêu cầu của
đương sự là một số tiền hoặc là tài sản có thể xác định được bằng một số tiền cụ
thể”.Trong vụ án này không có phạt cọc, đương sự phải thanh toán cho nhau
tiền cọc 200.000.000đ nên phải chịu án phí có giá ngạch đối với số tiền cọc. Cụ
thể là bị đơn phải thanh toán tiền cho nguyên đơn nên phải chịu án phí theo
khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội, nhưng trong vụ án này nguyên đơn tự nguyện đề nghị
chịu án phí theo quy định của pháp luật nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí
dân sự sơ thẩm có giá ngạch thay cho bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm
tự nguyện chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, bị đơn cũng
đồng ý với sự tự nguyện chịu án phí dân sự sơ thẩm của đại diện nguyên đơn,
nên đề xuất của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ buộc nguyên đơn
phải chịu 10.000.000đồng án phí dân sự sơ thẩm là có cơ sở nên được Hội đồng
xét xử chấp nhận.
Từ những phân tích trên cho thấy Bản án sơ thẩm quyết định sai về án phí
sơ thẩm, cần sửa bản án sơ thẩm về phần án phí dân sự sơ thẩm. Cụ thể: Nguyên
đơn phải chịu toàn bộ 200.000.000đ x 5% = 10.000.000đồng án phí dân sự sơ
thẩm.
8
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không
bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm.
Theo điểm d khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì Viện kiểm sát kháng
nghị bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm không phải chịu án
phí.
Các đương sự không ai phải chịu án dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân khu
vực 9 - Phú Thọ, sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2026/DS-ST ngày
29 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ (Sửa về án phí
dân sự sơ thẩm).
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Quang L chịu 10.000.000đ (Mười
triệu đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 21.000.000đồng anh L đã
nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006654 ngày 11/12/2025
của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Hoàn trả anh Nguyễn Quang L
11.000.000đ (Mười một triệu đồng) tiền tạm ứng án phí.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải nộp án phí dân sự phúc
thẩm.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 9 – Phú Thọ;
- VKSND khu vực 9 – Phú Thọ
- Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, HCTP.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Vĩnh Thành
9
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 279/2026/DS-PT Bản án số 279/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 279/2026/DS-PT Bản án số 279/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất