Bản án số 27/2024/DS-PT ngày 05/03/2024 của TAND tỉnh Gia Lai về tranh chấp phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 27/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 27/2024/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 27/2024/DS-PT ngày 05/03/2024 của TAND tỉnh Gia Lai về tranh chấp phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng hợp tác |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Gia Lai |
| Số hiệu: | 27/2024/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 05/03/2024 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Công ty CP A Gia Lai kiện ông Đào Thanh B do vi phạm hợp đồng |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
Bản án số: 27/2024/DS-PT
Ngày 05-3-2024
V/v “tranh chấp phạt vi phạm
và bồi thường thiệt hại do vi
phạm hợp đồng”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Anh Tuấn.
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Thưởng
Ông Đặng Chí Công.
- Thư ký phiên tòa:Bà Trần Thị Thuý Vân- Thư ký Tòa án của Tòa án nhân
dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà
Hoàng Hải Ly- Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 133/2023/TLPT-DS ngày 10 tháng 11
năm 2023 về việc “Tranh chấp phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
đồng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2023/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của
Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 06/2023/QĐ-PT ngày 09
tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:Công ty TNHH MTV T1 (Nay là Công ty CP T1).
Địa chỉ: E T, phường C, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Người đại diện theo pháp luật:
Bà Vũ Thị L, chức vụ: Chủ tịch Công ty.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Võ Thị Tuyết O, chức vụ: Nhân viên Công
ty CP T1; địa chỉ: xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định (theo giấy uỷ quyền ngày
04/3/2024). Có mặt.

- Bị đơn: Ông Đào Thanh B; địa chỉ: A H, phường S, thị xã A, tỉnh Gia Lai.
Có mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Đào Thanh B.
Tại phiên tòa, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn và bị đơn có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, các lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm, đại
diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Võ Thị Tuyết O trình bày:
Trong năm 2020 và năm 2021 Công ty TNHH MTV T1 (sau đây gọi tắt là
công ty) có ký các hợp đồng ứng vốn trồng, chăm sóc và bao tiêu mía nguyên liệu
với vợ chồng ông Đào Thanh B, bà Nguyễn Thị Xuân S, cụ thể: Hợp đồng ứng vốn
trồng, chăm sóc và bao tiêu mía nguyên liệu số 2021DT1294 ngày 17/12/2020, kèm
theo phụ lục hợp đồng số 01 về việc ứng vốn đối với diện tích bổ sung ngày
06/4/2021 (đính kèm hợp đồng số 2021DT1294 ngày 17/12/2020) và Hợp đồng ứng
vốn trồng, chăm sóc và bao tiêu mía nguyên liệu số 2021DT1976 ngày 19/02/2021.
Bản hợp đồng sau khi ông B ký sẽ chuyển về cho người có thẩm quyền của công ty
ký và đóng dấu để gửi đến cho ông B, sau khi ký và đóng dấu xong sẽ được chuyển
đến cho nhân viên nông vụ để nhân viên nông vụ giao lại cho chủ mía. Giá mía
nguyên liệu do công ty thông báo từ đầu vụ thu hoạch trên cơ sở cung cầu của thị
trường và mặt bằng chung giữa các nhà máy. Giá mua mía nguyên liệu không cố
định mà được điều chỉnh tăng theo từng giai đoạn thu hoạch, cụ thể vụ mùa 2021-
2022 giá đầu vụ là 990.000 đồng/tấn mía nguyên liệu 10CCS và cuối vụ là
1.120.000đồng/tấn mía nguyên liệu 10CCS, trữ đường giảm 1CCS thì sẽ giảm 20.000
đồng. Do sản lượng trữ đường mía ông B thấp hơn 10CCS nên C mua theo trữ đường
thực tế với giá 860.400 đồng/tấn mía nguyên liệu 10CCS là đúng với Thông báo đã
gửi cho ông B ngày 30/11/2021. Mức giá trên chưa bao gồm các khoản công ty trợ
giá đầu tư như đường xá, công chặt, chi phí vận chuyển,... Về tạp chất thì nếu tạp
chất dưới 3% thì công ty B1 còn trên 3% thì người dân phải chịu phần vượt quá
3%.Do đó tuy mức giá Công ty mua của người dân có thể thấp hơn bên thứ 3 nhưng
đổilại công ty bao tiêu toàn bộ đầu ra cho người dân và gắn với các chính sách đầu tư
lâu dài khác giữa công ty với người dân. Theo các điều khoản có trong các hợp đồng
nói trên hai bên đã thống nhất thỏa thuận và ràng buộc quyền, nghĩa vụ với nhau cụ
thể như sau: Công ty sẽ tạm ứng vốn cho ông B để trồng và chăm sóc mía (Ông B
nhận vật tư bằng phân bón 5,2 tấn phân trị giá 48.516.000 đồng của Công ty, ngoài ra
ông B không nhận thêm khoản nào từ nhà máy). Khi thu hoạch mía, ông B phải bán
và giao toàn bộ sản lượng mía trên diện tích được đầu tư cho công ty. Tiền mua mía
sẽ được cấn trừ vào tiền tạm ứng vốn, tiền lãi, giá trị dư ra sẽ được thanh toán cho
ông B. Căn cứ phiếu điều tra nông nghiệp được lập giữa đại diện Công ty và ông B
trong vụ mùa 2021-2022trên diện tích 19,5 ha là 1.268 tấn nhưng ông B chỉ giao cho
Công ty 54,43 tấn, sản lượng còn lại 1.213,57 tấn ông Bình b cho bên thứ ba.

Khi phát hiện ra hành vi vi phạm của ông Bình Công t đã rất nhiều lần gặp gỡ
yêu cầu ông B chấm dứt việc mua bán mía cho bên thứ ba nhưng ông B vẫn cố tình
vi phạm nên công ty đã lập Biên bản làm việc và tại Biên bản làm việc ông B xác
nhận không giao sản lượng mía còn lại cho Công ty và bán sản lượng mía trên diện
tích nhận đầu tư cho bên thứ ba. Về vi phạm và xử lý vi phạm: Ông B đã vi phạm
điểm b Điều 14.2.2 Hợp đồng hai bên đã ký kết thể hiện “Nếu bên B có hành vi quy
định tại Điều 14.2.1 (e) thì bên B chịu phạt vi phạm với mức phạt bằng 8% và bồi
thường thiệt hại với mứccố định bằng 50% giá trị sản lượng mía bên B bán cho bên
thứ ba. Sản lượng mía dùng để tính phạt và bồi thường thiệt hại là sản lượng mía ước
tính trên mỗi ha quy định tại Điều 9.1 của Hợp đồng nhân với diện tích mía bên B vi
phạm”.
Trong quá trình giải quyết vụ án Công ty TNHH MTV T1 có các yêu cầu:
Buộc ông Đào Thanh B thanh toán cho công ty tiền phạt vi phạm và bồi thường thiệt
hại với tổng số tiền 696.831.894 đồng, trong đó: Tiền phạt vi phạm là 96.114.744
đồng và tiền bồi thường thiệt hại là 600.717.150 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn Công ty TNHH MTV T1 yêu cầu ông Đào
Thanh B trả tiền phạt vi phạm 8% là 96.114.744 đồng. Đối với yêu cầu bồi thường
thiệt hại 50% với số tiền là 600.717.150 đồng: Tại phiên tòa sơ thẩm Công ty TNHH
MTV T1 thấy hoàn cảnh ông B khó khăn, vợ mất, con nhỏ và ông B là khách hàng
lâu năm. Công ty muốn duy trì quan hệ làm ăn với ông B về sau nên đối với phần yêu
cầu bồi thường thiệt hại 50% với số tiền là 600.717.150 đồng, Công ty X được rút
yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án đình chỉ đối với yêu cầu này.
2. Tại phiên toà sơ thẩm bị đơn ông Đào Thanh B trình bày:
Ông B xác nhận có ký vào văn bản khi nhân viên Công ty xuống đo đạc diện
tích đất trồng mía của gia đình ông. Mục đích đo đạc là để về làm hợp đồng với Công
ty, ông B có ký vào trang cuối của hợp đồng khi nhân viên Công ty xuống rẫy. Các
điều khoản có trong hợp đồng ông B không biết, nhân viên nông vụ cũng không đọc
bất cứ nội dung nào của hợp đồng cho ông B và nhân viên nông vụ cũng không đưa
cho ông B đọc nội dung hợp đồng mà chỉ yêu cầu ký vào trang cuối của hợp đồng.
Ông B không đồng ý với các nội dung trong bản hợp đồng ứng vốn trồng, chăm sóc
và bao tiêu mía nguyên liệu như Công ty cung cấp cho Tòa án vì không hợp pháp,
không có chữ ký từng trang của ông B và không có đóng dấu giáp lai của công ty.
Mặt khác ông B không biết và Công ty cũng không giao bản hợp đồng để ông B biết
và thực hiện. Ông B chỉ nhận được bản pho to hợp đồng và các giấy tờ kèm theo
ngày12/01/2022 sau khi ông đã bán hết mía cho bên thứ ba thì Công ty mới gửi hợp
đồngvà các giấy tờ cho ông đề nghị không được bán mía cho bên thứ ba. Bản thân
ông không biết được nội dung của hợp đồng thì làm sao ông thực hiện đúng như hợp
đồng được. Ông B xác nhận vụ mùa năm 2020 -2021 có nhận đầu tư của Công ty
TNHH T1, ông có nhận phân bón tương ứng với số tiền48.516.000 đồng. Trước khi
bán cho bên thứ ba ông B đã gọi Công ty xuống để hai bên thỏa thuận với nhau về

mức giá mua, ông B yêu cầu Công ty tăng giá vì giá mía Công ty mua thấp hơn giá
thị trường tại thời điểm đó nên ông B mới bán mía cho bên thứ ba. Ông B không có
trách nhiệm ràng buộc với Công ty vì ông không nhận được hợp đồng của Công ty để
mà thực hiện. Tại thời điểm thu hoạch 2021 -2022 giá mía giữa Công ty và giá bán
cho bên thứ ba chênh lệch giá rất nhiều, cụ thể như sau:
Bên thứ ba mua với giá 1.020.000 đồng/tấn, không trừ tạp chất còn Công ty
mua với giá 860.400 đồng/tấn còn trừ 4-5% tạp chất.
Theo yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV T1 ông B không đồng ý vì
ông B không được đọc nội dung hợp đồng và không được nhận bản hợp đồng để thực
hiện và giá mía mua không đúng như Công ty đã thông báo, cụ thể Công ty thông báo
giá 990.000/1 tấn mía 10CCS nhưng thực tế. Công ty mua giá 860.400 đồng là không
đúng như nhà máy đường đã thông báo cho ông B. Sản lượng nhà máy Đ đưa ra để
tính phạt là không đúng với thực tế, tại vì vụ mùa năm 2021-2022 do nắng hạn năng
suất mía rất thấp và có nhiều diện tích mất trắng và trong cùng một vùng rất nhiều
chủ mía bán cho bên thứ ba tại sao Công ty không kiện mà kiện một mình ông B. Lỗi
thuộc về Công ty nên ông B không đồng ý với yêu cầu của Công ty.
3. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2023/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023
của Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV T1.
- Buộc ông Đào Thanh B phải trả cho Công ty TNHH MTV T1 tiền phạt vi
phạm 8% là 96.114.744 đồng.
Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện bà Nguyễn Thị S.
Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
50%số tiền 600.717.150 đồng.
- Về án phí: Buộc ông Đào Thanh B phải chịu 4.805.737 đồng. Trả lại toàn bộ
số tiền tạm ứng án phí mà Công ty TNHH MTV T1 đã nộp là 15.936.638 đồng theo
Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010379 ngày 18/5/2022 của Chi cục
Thi hành án dân sự thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai.
- Về chi phí giám định: Buộc ông Đào Thanh B phải trả lại số tiền chi phí giám
định là 5.400.000đồng cho Công ty TNHH MTV T1.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ chịu tiền án phí dân
sự sơ thẩm, thông báo quyền thoả thuận, quyền yêu cầu, tự nguyện hoặc bị cưỡng chế
thi hành án, thời hiệu thi hành án; tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.
4. Ngày 29-9-2023 và ngày 13-10-2023,bị đơn là ông Đào Thanh B kháng cáo
với nội dung yêu cầu Tòa án cấp phúc giải quyết các vấn đề sau:
Ông B đề nghị xem xét lại toàn bộ bản án số 05/2023/DS-ST ngày 21/9/2023.
Về mức phạt vi phạm hợp đồng là 96.114.744 đồng và chi phí giám định 5.000.000
đồng là không thỏa đáng vì ông không yêu cầu giám định. Sản lượng đưa lên tính

phạt là không thực tế, giá mía mua thấp nhưng tính phạt lại giá cao không đúng với
phiếu mua mía của ông B và những hộ dân trồng mía.
5. Tại phiên toà phúc thẩm:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn vẫn giữ nguyên nội
dung kháng cáo và các bên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng trong quá trình giải
quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Đảm bảo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015. Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định của pháp luật,
các thủ tục khai mạc phiên tòa và các thủ tục khác được Hội đồng xét xử và Chủ tọa
phiên tòa điều hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án thụ
lý vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, các bên đã thực hiện các quyền và
nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật tố
tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích, đánh giá các tài liệu có trong hồ sơ
vụ án và diễn biến công khai tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử
bác toàn bộ kháng cáo của người kháng cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Đương sự
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bản án sơ thẩm xác định tên của nguyên đơn là Công ty TNHH
MTV T1 theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên đăng ký thay đổi lần thứ 23 ngày 05/6/2020 do Phòng Đăng ký kinh
doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh G cấp. Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xét xử
vụ án, nguyên đơn thực hiện thủ tục thay đổi tên doanh nghiệp thành Công ty CP T1
và được Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh G cấp Giấy
chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty cổ phần đăng ký thay đổi lần thứ 25 ngày
27/11/2023. Do đó, Hội đồng xét xử xác định tên của nguyên đơn đã được thay đổi
thành Công ty CP T1 (sau đây viết tắt là Công ty).
[2] Kháng cáo của bịđơn vềmức phạt vi phạm hợp đồng là 96.114.744 đồng và
chi phí giám định 5.000.000 đồng là không thỏa đáng vì ông không yêu cầu giám
định. Sản lượng đưa lên tính phạt là không thực tế, giá mía mua thấp nhưng tính phạt
lại giá cao không đúng với phiếu mua mía của ông B và những hộ dân trồng mía, Hội
đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Tại cấp sơ thẩm, ông B thừa nhậnđã ký kết Hợp đồng ứng vốn trồng,
chăm sóc và bao tiêu mía nguyên liệu số 2021DT1294 ngày 17/12/2020 và Hợp đồng
ứng vốn trồng, chăm sóc và bao tiêu mía nguyên liệu số 2021DT1976 ngày
19/02/2021 với Công ty T2 (Nay đổi tên là Công ty CP T1). Tại tiểu mục b, mục

14.2.2 Điều 14 của 02 hợp đồng này có ghi “Nếu bên Bcó hành vi quy định tại Điều
14.2.1 (e) thì bên B chịu phạt vi phạm với mức phạtbằng 8% và bồi thường thiệt hại
với mức cố định bằng 50% giá trị sản lượng mía bênB bán cho bên thứ ba”. Quy
định này của hợp đồng phù hợp với quyđịnh tại Điều 418 của Bộ luật dân sự năm
2015 về“thoả thuận phạt vi phạm”. Như vậy, việc áp dụng pháp luật của cấp sơ thẩm
là có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên mức phạt vi phạm hợp đồng là 96.114.744
đồng(1.213,57 tấn x 990.000đ x 8% = 96.114.744 đồng) là hợp lý, không có cơ sở để
chấp nhận nội dung kháng cáo này của ông B.
[2.2] Ông B trình bày ông không đề nghị giám định chữ ký, việc cấp sơ thẩm
tuyên buộc ông phải chịu số tiền chi phí giám định là không thoả đáng. Xét thấy tại
cấp sơ thẩm, vìông B phủ nhận các chữ ký tại 02 hợp đồng nêu trên nên phía nguyên
đơn có đơn yêu cầu giám định chữ ký chữ viết tại các hợp đồng. Tại kết luận giám
định số 32/KL-GĐ ngày 06/01/2023 của Phòng K Công an tỉnh G đã kết luận chữ ký
và chữ viết trong 02 hợp đồng, phụ lục hợp đồng, phiếu điều tra nông vụ đều là của
ông B. Tại khoản 4 Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ
chịu chi phí giám định như sau: “4. Trường hợp người tự mình yêu cầu giám định
theo quy định tại khoản 3 Điều 160 của Bộ luật này, nếu kết quả giám định chứng
minh yêu cầu của người đó là có căn cứ thì người thua kiện phải chịu chi phí giám
định”.Tại cấp sơ thẩm,ông B là người thua kiện, việc T cấp sơ thẩm buộc ông phải
chịu chi phí giám định với số tiền 5.400.000 đồng là phù hợp với quyđịnh của điều
luật đã viện dẫn.
[2.3] Đối với nội dung kháng cáo về việc giá mía mua thấp, nhưng tính phạt lại
giá cao không đúng với phiếu mua mía của ông B và những hộ dân trồng mía. Nhận
thấy,trong hai bản Hợp đồng đã ký kết tại mục 10.1.Điều 10 của Hợp đồng thể hiện
rõ: “Giá mía là giá mua tại bàn cân nhà máy của bên A và sẽ được bên A thông báo
cho bên B theo từng thời điểm…” và theo thông báo số 104/2021/TB-TTC GL, ngày
30/11/2021 của Công ty thì giá mía là 1.020.000 đồng/tấn mía 10 CCS, trừ chung
chuyển 30.000đồng, giá còn lại là 990.000 đồng/tấn. Như vậy, phía Công ty đã thông
báo cho ông B biết về giá mua míatheo từng thời điểm, vì vậy, ông B kháng cáo về
nội dung này cũng không được chấp nhận.
[3] Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn
bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn, quyết định giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
[4]Án phí dân sự phúc thẩm: ông B phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự
phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận, nhưng được khấu trừ vào 300.000
đồng tiền tạm ứng án phí đã được bà nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa
án số 0002201 ngày 13-10-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ayun Pa, tỉnh
Gia Lai.
[5] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai phù hợp
với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Những quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 418 Bộ luật dân sự năm 2015;Căn cứ khoản 1 Điều 147, 160,
161 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bịđơnông Đào Thanh B. Giữ nguyên Bản án
sơ thẩm số 05/2023/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã
Ayun Pa, tỉnh GiaLai.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV T1. Nay đổi tên
là Công ty CP T1.
Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện bà Nguyễn Thị S.
Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
50%số tiền 600.717.150 đồng.
Buộc ông Đào Thanh B phải trả cho Công ty CP T1 tiền phạt vi phạm 8% là
96.114.744 đồng.
Về chi phí giám định: Buộc ông Đào Thanh B phải trả lại số tiền chi phí giám
định là 5.400.000đồng cho Công ty CP T1.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật Dân
sự năm 2015.
Về án phí sơ thẩm: Buộc ông Đào Thanh B phải chịu 4.805.737 đồng; trả lại
toàn bộ số tiền tạm ứng án phí mà Công ty TNHH MTV T1 (nay là Công ty CP T1)
đã nộp là 15.936.638 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0010379ngày 18/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia
Lai.
2. Về án phí phúc thẩm: Ông B phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc
thẩm do kháng cáo không được chấp nhận, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng
tiền tạm ứng án phí đã được ông nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án
số 0002201 ngày 13-10-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ayun Pa, tỉnh
Gia Lai.

3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy dịnh tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân
sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi
hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4.Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Gia Lai;
- Chi cục THADS huyện Ayun Pa;
- TAND huyện Ayun Pa;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu án văn, Văn thư.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lưu Anh Tuấn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm