Bản án số 779/2026/DS-PT ngày 21/04/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 779/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 779/2026/DS-PT ngày 21/04/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 779/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/04/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, y án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 779/2026/DS-PT
Ngày 21 - 4 - 2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huỳnh.
Các Thẩm phán: Ông Bùi Ngọc Thạch;
Ông Nguyễn Đắc Cường
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số
1690/2025/TLPT-DS ngày 30/12/2025 về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 114/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 17, Thành phHồ Chí Minh bị kháng cáo, kháng nghị; theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1527/2026/QĐ-PT ngày 11/3/2026
Quyết định hoãn phiên tòa số 4419/2026/QĐ-PT ngày 31/3/2026, giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1968, CCCD số 040068040773
cấp ngày 21/12/2022; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An (nay là xã Đ,
tỉnh Nghệ An).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông i Duy H, sinh năm 1984,
CCCD số 074084004859 cấp ngày 19/12/2023; địa chỉ: Tổ A, khu phố A, phường
V, Thành phố Hồ Chí Minh người đại diện theo ủy quyền (theo Văn bản ủy
quyền ngày 11/5/2025); có mặt.
- Bị đơn: Thị Y, sinh năm 1982, CCCD số 038182031032 cấp ngày
07/7/2022; địa chỉ thường trú: Tổ Dân phố A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai;
2
địa chỉ tạm trú: Nhà trọ ông Nguyễn Văn D tổ C, khu phố A, phường V, thành
phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường V, Thành phố Hồ Chí Minh); vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn P.
- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17,
Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ông P và bà Y quen biết nhau từ năm 2022 đến năm 2023. Do cần tiền làm
ăn nên bà Y hỏi vay ông P và có lập Giấy vay tiền ngày 10/6/2023 thể hiện bà
Y vay của ông P số tiền 83.360.000 đồng bằng tiền mặt thỏa thuận đến ngày
23/6/2023 sẽ hoàn trả. Do Y bị nợ xấu nên không thể đứng vay ngân hàng
hay bất kỳ công ty tài chính nào nên có nhờ ông P vay hộ 06 lần như sau:
- Lần 01 (khoảng đầu năm 2023 không nhớ thời gian) bà Thị Y nhờ
ông P đứng tên vay mua dùm một xe máy hiệu Honda Vision tại cửa hàng T (địa
chỉ tại chợ P2, khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương cũ) với số
tiền 38.500.000 đồng bằng hình thức trả góp tại Công ty T1 (T1), s hợp đồng:
1000723050091630, sau khi làm th tc hợp đồng vay tr góp xong nhn xe
v chưa biển s giy chng nhận đăng xe, Y người trc tiếp s dng
xe này. Tuy nhiên, bà Y nói không thích xe này, bà Y đem chiếc xe này đến tim
cầm đồ gn ch C1, phường C cm vi s tiền 15.000.000 đồng, do không tin
chuc li nên bà Y yêu cu ông P cùng bà Y mang theo hợp đồng mua tr góp ti
công ty T1 đ đến ca hàng cầm đồ trên làm hợp đồng bán xe cho người mua (do
xe chưa có bin s và C) với giá 28.000.000 đồng. Bà Y tr cho tim cầm đồ Vi
Bảo 15.000.000 đồng và còn lại 13.000.000 đồng Y gi s dng nhân.
Y ha s đóng tiền lãi tin s tt toán khon vay mua xe tr góp này. Đến
ngày 06/11/2023 do phía bà Y không thc hiện đóng tiền lãi cũng như tr tin gc
hợp đồng vay này, nên ông P phải vay mượn tiền để tt toán hợp đồng này vi s
tiền 48.330.000 đồng (bao gm gốc và lãi phát sinh) để tránh ảnh hưởng đến lch
s tín dng ca ông P.
- Lần 02 ngày 04/06/2023, Thị Y lại tiếp tục nhờ ông P đến cửa hàng
T, địa chỉ: đường số C, khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (cũ),
để tiếp tục đứng tên vay mua một chiếc xe máy hiệu Honda Vission màu đỏ cũng
với giá 38.500.000 đồng, biển số 37 E1 - 846.91, lần này mua xe thông qua ng
ty T1 JACCS với số hợp đồng là: 16210004205610000. Y người trực tiếp
sử dụng xe này, sau đó bà Y đem chiếc xe trên đến tiệm cầm đồ tại khu vực chợ
C2 thuộc phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương (cũ) với g15.000.000 đồng
(mười lăm triệu đồng) và sử dụng tiêu xài cá nhân, sau đóY không thực hiện
chuộc xe nên ông P phải vay mượn để đến tiệm cầm đồ trên chuộc lại chiếc xe
trên với số tiền gốc lãi 18.000.000 đồng và ông P bán chiếc xe này. Y
3
cũng không thực hiện đóng tiền lãi cũng như trả tiền gốc hợp đồng vay này nên
ngày 06/11/2023 ông P phải vay mượn tiền để tất toán hợp đồng này với số tiền
40.033.000 đồng (bao gồm gốc lãi phát sinh) để tránh ảnh hưởng đến lịch sử
tín dụng của ông P.
- Lần 03, lần 04, Thị Y nhờ ông P đứng tên vay hộ tiền mặt thông
qua hình thức cấp thẻ tín dụng tại Công ty T1 (FE C) với các số tiền sau: Một
khoản vay tiền mặt 20.000.000 đồng, bà Y không trả lãi gốc nên đến ngày
06/11/2023 phát sinh thành 31.702.000 đồng. Sau đó, ông P phải vay mượn để tất
toán cho phía FE Credit; Một khoản vay thông qua thẻ tín dụng được cấp số tiền
48.000.000 đồng, Y cũng là người sử dụng số tiền này, đồng thời không trả lãi,
gốc nên đến ngày 06/11/2023 phát sinh thành 50.000.000 đồng. Ông P cũng đã
vay mượn để tất toán cho phía FE Credit. Hai khoảng tiền trên được vay với số
hợp đồng 1500100002719087 tại công ty T1.
- Lần 05 Thị Y nhờ ông P đứng tên vay hộ tiền mặt thông qua hình
thức cấp tín dụng tại công ty T1 () với số tiền 20.000.000 đồng, Y không trả
lãi gốc nên đến ngày 06/11/2023 phát sinh thành 25.608.000 đồng. Ông P cũng
đã vay mượn để tất toán cho phía .
- Lần 06 Thị Y nhờ ông P đứng tên vay hộ tiền mặt thông qua hình
thức cấp tín dụng tại công ty T1 (T1), số hợp đồng: 1000723050025181 số tiền
24.000.000 đồng để Y mua điện thoại di động. Bà Y không trả lãi và gốc nên
đến ngày 08/11/2023 phát sinh còn 18.650.000 đồng do trong quá trình vay đã trả
được một phần ngốc. Ông P cũng đã vay mượn để tất toán cho phía Mcredit vào
ngày 08/11/2023.
Do cùng lúc bà Y nhờ ông P đứng tên vay dùm cho bà nhiều khoản vay tại
nhiều công ty tài chính tiêu dùng nên ông P cũng không nhớ thời gian từng hợp
đồng. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian từ đầu năm 2023 cho đến tháng 6/2023,
bà Y không đóng lãi cho phía các công ty tài chính nêu trên nên bắt đầu phát sinh
lãi phạt và lãi quá hạn. Ông P nhiều lần yêu cầu bà Lê Thị Y phải trả số tiền vay
mượn của ông P cũng như những khoản vay mà Y đã nhờ ông P đứng tên dùm
để vay vốn cho bà Y làm ăn, nhưng bà Y không trả.
Do đó, ông Nguyễn Văn P khởi kiện yêu cầu Thị Y trả số tiền
272.360.000 đồng.
* Bị đơn – Lê Thị Y trình bày:
Y ông P quan hệ tình cảm từ khoảng tháng 3/2022 đến tháng
4/2023 thì phát sinh mâu thuẫn Y không muốn tiếp tục mối quan hệ với ông
P nữa. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do ông P lừa dối Y nói rằng vợ
ông P đã chết nhưng trên thực tế vợ ông P còn sống. Ông P không đồng ý chấm
dứt quan hệ tình cảm với bà Y. Ông P nói rằng, muốn chấm dứt mối quan hệ với
ông P thì Y phải trả lại tất cả số tiền ông P đã cho Y. Y không khả
năng trả số tiền này. Trước ngày 10/6/2023, ông P gọi điện thoại cho Y nói bà
4
Y đến công trình nơi ông P làm việc tại phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương
để trao đổi, thương lượng về số tiền ông P đã cho Y trước đó. Y đến nơi
hẹn nhưng giữa hai bên xảy ra mâu thuẫn do Y không đồng ý trả lại tiền
ông P đã cho bà Y. Ông P đẩy xe của bà Y o kho và khóa, cất giữ chìa khóa xe
của Y. Ngoài ra, ông P còn dùng dây xích khóa cửa ra vào công trình không
cho Y ra về. Ông P ép Y viết giấy vay tiền nếu Y không viết thì ông P
không cho vđe dọa giết Y. Giấy vay tiền ngày 10/6/2023 do Y tự
viết.
- Số tiền 83.360.000 đồng tại Giấy vay tiền tổng số tiền trong thời
gian bà Y ông P quan hệ tình cảm tông P cho Y nhiều lần. Số tiền
83.360.000 đồng Y đã viết giấy thừa nhận nên bà Y đồng ý trả số tiền này cho
ông P.
- Giấy vay tiền ngày 10/6/2023, mục xe máy 38.500.000 đồng. Đây
số tiền ông P mua xe máy hiệu Vision, ông P dùng cho cá nhân của ông P. Bà Y
không sử dụng xe máy này nên không biết ông P đã được cấp giấy xe chưa. Sau
này bà Y không đi lại với ông P nữa thì ông P bán xe này, bà Y không biết. Cũng
trong Giấy vay tiền ngày 10/6/2023, mục dưới xe máy 38.500.000 đồng số tiền
38.500.000 đồng tiền ông P mua xe máy hiệu Vision lần thứ hai. Y không
biết ông P được cấp giấy xe chưa cũng không biết ông P còn giữ xe này hay
không. Lý do bà Y ghi số tiền xe máy hai lần mỗi lần 38.500.000 đồng ông
P mua xe hai lần, cả hai lần ông P đều đứng tên xe. Ông P nói vì quen Y nên
ông P phải tốn những khoản tiền trên nên buộc bà Y ghi lại.
- Đối với FE 20.000.000, FE 48.000.000, HB 20.000.000 là số tiền này ông
P vay tiền của ng ty T1, ông P vay về rồi cho bà Y.
- Đối với số tiền ĐT (Điện thoại) 24.000.000 đồng ông P mua tặng cho
bà Y.
Sở bà Y ghi những nội dung trên do khi Y nói với ông P muốn chấm
dứt quan hệ tình cảm thì ông P yêu cầu Y phải trả lại những ông P đã
tặng cho Y trước đó, bắt ép Y ghi như vậy, thực chất Y không vay
tiền của ông P. Đối với những khoản tiền trên tổng cộng là 189.000.000 đồng thì
hai khoản mua xe máy bà Y không lấy hai xe này, còn lại ông P cho bà
Y nên bà Y không đồng ý trả. Do bà Y không có tiền trả nên ông P buộc bà Y trả
tiền lãi hàng tháng 15.150.000 đồng với số tiền vay 189.000.000 đồng. Y đã
trả lãi 15.150.000 đồng cho ông P được 04 tháng nhưng đưa tiền mặt, không
chứng cứ đã giao tiền cho ông P.
Sau ngày 10/6/2023 (Ngày ghi giấy vay nợ), thỉnh thoảng ông P hay chuyển
tiền vào tài khoản của bà Y để nhờ bà Y đi rút tiền về đưa cho ông P.
Tại Bản án dân sự thẩm số 114/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án
nhân dân dân khu vực 17, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
5
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn P. Buộc
Thị Y nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn P số tiền 83.360.000 đồng (Một
trăm tám mươi ba triệu, ba trăm sáu mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi
thi hành xong, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải chịu tiền lãi
theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn P về
việc Thị Y nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn P số tiền 189.000.000 đồng
(Một trăm tám mươi chín triệu đồng).
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí dân sự thẩm, quyền yêu
cầu thi hành án và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 06/10/2025, nguyên đơn ông Nguyễn Văn P đơn kháng cáo một
phần bản án thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Y phải trả cho ông P
số tiền 272.360.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 10/6/2023.
Ngày 13/10/2025 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 Thành
phố Hồ Chí Minh Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 11/QĐ-VKS-DS kháng
nghị một phần bản án sơ thẩm, đnghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm
chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn Y phải trả
cho ông P số tiền 272.360.000 đồng.
Ngày 07/4/2026, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17- Thành
phố Hồ Chí Minh Quyết định s34/QĐ-VKS.KV17 rút toàn bộ Quyết định
kháng nghị số 11/QĐ-VKS-DS ngày 13/10/2025.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ
nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Quá trình thụ giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, những người tiến hành t tng
và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự. Về nội dung: Đối với Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân khu vực 17, Thành phố Hồ Chí Minh đã rút đề nghị Hội đồng xét xử
đình chỉ. Đối với kháng cáo của nguyên đơn, tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án
thể hiện giữa nguyên đơn và bị đơn có mối quan hệ tình cảm, nguyên đơn không
chứng minh được số tiền 189.000.000 đồng là số tiền nguyên đơn cho bị đơn vay
nên Tòa án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là
căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xkhông chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày tranh tụng của các bên đương sự quan
điểm của đại diện Viện Kiểm sát;
6
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án
dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án nhân dân khu vực 17, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản
3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[1.2] Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông P được thực hiện trong thời hạn
luật định và đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm; Quyết
định kháng nghị số 11/QĐ-VKS-DS ngày 13/10/2025 của Viện trưởng Viện Kiểm
sát nhân dân khu vực 17, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành đúng thời hạn nên
được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Ngày 07/4/2026, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 ban hành
Quyết định số 34/QĐ-VKS.KV17 rút toàn bộ Quyết định kháng nghị số 11/QĐ-
VKS-DS ngày 13/10/2025. Căn cứ khoản 3 Điều 284 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội
đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với quyết định kháng nghị của Viện
Kiểm sát.
[1.3] Bị đơn Y đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vắng mặt, căn
cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành
phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt bà Y.
[2] Về nội dung:
[2.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn trả số tiền
272.360.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 10/6/2023.
[2.2] Bị đơn thừa nhận nợ nguyên đơn số tiền 83.360.000 đồng theo nội
dung phần đầu giấy vay tiền ngày 10/6/2023; đối với số tiền 189.000.000 đồng bị
đơn cho rằng nguyên đơn bị đơn mối quan hệ tình cảm nên bị đơn cho
nguyên đơn chứ không phải tiền vay do đó bị đơn chỉ đồng ý trả số tiền
83.360.000 đồng, không đồng ý trả số tiền 189.000.000 đồng.
[2.3] Xét chứng cứ nguyên đơn cung cấp là giấy vay tiền do bị đơn viết
tay đề ngày 10/6/2023 nội dung: “…giấy vay tiền - Tôi tên Thị Y, sinh năm
1982, số CCCD 038182031033 do Công an B cấp. Tôi có mượn của anh Nguyễn
Văn P số tiền 83.360.000 đ (tám mươi ba triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng
chẵn) tôi hẹn đến ngày 23/6/2023 sẽ hoàn trả. Xe máy (38500.000 đ) +
(38500000đ); FE 20,000,000 đ; FE 48,000,000đ; HB 20.000.000đ; ĐT
(24000000đ). 189.000.000 số tiền vay ngân hàng bằng CCCD (một trăm tám chín
triệu). Tôi trách nhiệm trả lãi hàng tháng với số tiền 15,15000000 (mười lăm
triệu một trăm năm mươi ngàn đồng chẵn). là số tiền mà tôi phải chịu trách nhiệm
trả tiền lãi cho anh P. ngày 10/6/2023 người vay ký tên - Thị Y. người cho vay
7
tên Nguyễn Văn P”. Như vậy, thực chất giấy có tiêu đề: “Giấy vay tiền” đề
ngày 10/6/2023 chỉ là giấy xác nhận nợ.
[2.4] Quá trình tham gia tố tụng tại cấp thẩm bị đơn thừa nhận vay
nguyên đơn số tiền 89.360.000 đồng theo phần đầu giấy vay tiền ngày 10/6/2023
đồng ý trả số tiền này nên Toà thẩm buộc Y trả cho ông P và không có
kháng cáo, kháng nghị nên phát sinh hiệu luật pháp luật theo quy định.
[2.5] Đối với số tiền 189.000.000 đồng gồm Xe máy (38500.000 đ) +
(38500000đ); FE 20,000,000 đ; FE 48,000,000đ; HB 20.000.000đ; ĐT
(24000000đ) thì bị đơn bà Y xác định trách nhiệm trả lãi hàng tháng số tiền
15.000.000đồng. Y không xác định nợ quá trình tố tụng cũng không thừa
nhận vay stiền này. Xét kháng cáo của nguyên đơn ông P1 thì thấy rằng: số tiền
Xe máy (38500.000 đ) + (38500000đ) theo chứng cứ nguyên đơn ông P cung cấp
thì đều do ông P đứng tên mua xe và trả góp, hiện các xe này cũng đã bán, không
chứng cứ gì chứng minh bà Y vay tiền của ông P để mua 02 chiếc xe này, cũng
không có chứng cứ chứng minh bà Y quản lý sử dụng và bán các chiếc xe này để
sử dụng cho cá nhân Y nên không có căn cứ xác định bà Y vay ông P số tiền
này. Các số tiền vay gồm FE 20,000,000 đ; FE 48,000,000đ; HB 20.000.000đ
theo ông P đều do ông đứng tên vay nhưng không chứng cứ chứng minh ông
P đứng tên vay dùm cho Y. Về tiền điện thoại 24.000.000đồng, tại phiên tòa
đại diện nguyên đơn xác định bà Y vay tiền của ông P1 để mua điện thoại, nhưng
không có chứng cứ chứng minh bà Y vay số tiền này của ông P. Ngoài “Giấy vay
tiền” đề ngày 10/6/2023 thì nguyên đơn ông P không chứng cứ nào khác chứng
minh bà Y vay số tiền 189.000.000 đồng.
[2.6] Từ những phân tích trên xét thấy, không chứng cứ xác định Y
có vay của ông P số tiền 189.000.000 đồng. Tòa án cấp thẩm không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của ông P stiền này căn cứ. Ông P kháng cáo nhưng
không cung cấp thêm chứng cứ nào mới để chứng minh cho yêu cầu kháng o
nên không căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, cần giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, đình chỉ xét
xử phúc thẩm đối với quyết định kháng nghị là phù hợp nên được chấp nhận.
[4] Về án phí phúc thẩm: do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo nên
nguyên đơn ông Nguyễn Văn P phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, các Điều 71, 92, 147, 148, 266, 271, 273, Điều 284, khoản 3 Điều 296, khoản
1 Điều 308 Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
8
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án;
Tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Quyết định kháng nghị số 11/QĐ-
VKS-DS ngày 13/10/2025 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17,
Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn
P. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 114/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 17, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về án pphúc thẩm: Ông Nguyễn Văn P phải chịu số tiền 300.000 đồng
(ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm
đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0026925 ngày
15/10/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- VKSND khu vực 17, Thành phố Hồ C
Minh.
- Phòng THADS khu vực 17, TP Hồ C
Minh;
- Phòng THADS khu vực 15, TP Hồ C
Minh;
- Lưu: VTLT, HS, Tòa Dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Văn Huỳnh
Tải về
Bản án số 779/2026/DS-PT Bản án số 779/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 779/2026/DS-PT Bản án số 779/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất