Bản án số 26/2026/HS-ST ngày 10/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 26/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 26/2026/HS-ST ngày 10/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng
Số hiệu: 26/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/02/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bản án hình sự số 262026/HS-ST ngày 10/02/2026
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG
Bản án số: 26/2025/HS-ST
Ngày 10-02-2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập -Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trương Thị An;
- Bà Phạm Thị Nga.
- Thư ký phiên toà: Nguyễn Thị Hoà - Thư Toà án nhân dân khu vực
2 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng tham gia phiên
toà: Ông Lê Trung Thực - Kiểm sát viên.
- Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Long B -
Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.
Ngày 10 tháng 02 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm (trụ sở Tòa án nhân dân
khu vực 2 - Hải Phòng) điểm cầu thành phần (Trại tạm giam số 01 - Công an
thành phố H) xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ
lý số: 11/2026/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 19/2026/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:
Bùi Trần M, sinh ngày 18 tháng 11 năm 1982 tại Hải Phòng; nơi trú: Thôn
L, Q, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12;
dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi
Huy T đã chết và bà Trần Thị T1, sinh năm 1959; có vợ là Vũ Thị L, sinh năm 1983
(đã ly hôn) một con sinh năm 2005; tiền án: Không; tiền sự: Không. Nhân thân:
Bản án hình sự thẩm số 151/2012/HSST ngày 27/6/2012 của Tòa án nhân dân
thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt bị cáo 48 tháng tù về tội Tàng trữ trái
phép chất ma túy; chấp hành xong hình phạt ngày 06/7/2015, thi hành xong án
phí ngày 21/12/2012 nên đã được xóa án tích.
Bị tạm giữ từ ngày 03/8/2025, đến ngày 08/8/2025 chuyển tạm giam; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 03/8/2025, tcông tác Công an A, thành phố Hải
Phòng làm nhiệm vụ tại thôn C, phát hiện bị cáo Bùi Trần M dấu hiệu tàng trữ
trái phép chất ma túy nên đã tiến hành kiểm tra, thu giữ tại túi quần trước bên trái
của M 01 túi nilon màu trắng, viền màu xanh, kích thước (02x1,5) cm bên trong
chứa tinh thể màu trắng. Công an xã A đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang,
niêm phong vật chứng. Khám xét khẩn cấp nơi của bị cáo nhưng không thu giữ
được đồ vật, tài liệu liên quan đến ma túy.
Kết luận giám định số 647/KL-KTHS ngày 07/8/2025 của Phòng K Công an
thành phố H, kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định ma y, khối lượng
0,20 gam, loại Methamphetamine. Kết luận giám định số 1866/PY-XNĐH ngày
21/8/2025 của V, kết luận: Mẫu máu của Bùi Trần M tìm thấy A, Methamphetamine.
Xác minh tại sở điều trị M Công an Q, xác định: Bùi Trần M thuộc diện
quản người đang điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế
Methadone tại Cơ sở M1 từ ngày 28/3/2025.
Bản cáo trạng số 66/CT-VKS ngày 16/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân
khu vực 2 - Hải Phòng đã truy tố bị cáo Bùi Trần M về tội Tàng trữ trái phép chất
ma tuý Sử dụng trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 điểm a
khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi
phạm tội như nội dung cáo trạng trình bày: Bị cáo nghiện ma túy từ năm 2005
hiện đang điều trị nghiện các chất ma tuý bằng thuốc thay thế Methadone tại Cơ sở
M1. Chiều ngày 30/7/2025, bị cáo đi xe buýt đến đường tàu Trần Nguyên H mua
của một người phụ nữ không quen biết 300.000 đồng ma túy đá để sử dụng cho bản
thân. Ngày 01/8/2025, bị cáo đã sử dụng một ít ma túy tại khu vực nghĩa trang T2,
Q. Khoảng 18 giờ ngày 03/8/2025, bị cáo cầm theo túi ma túy còn lại đi tìm
chỗ sử dụng, khi đến chân cầu T thuộc thôn C thì bị ng an A bắt qutang ng
vật chứng. Bị cáo thừa nhận số ma túy Cơ quan Công an thu giữ khi bắt quả tang là
của bị cáo mua để sử dụng một mình, ngoài ra không mục đích nào khác. Cáo
trạng truy tố đúng như hành vi đã thực hiện; khối lượng, loại ma túy đúng như Kết
luận giám định của Phòng K ng an thành phố H; vật chứng của vụ án bị thu giữ
đúng như cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận việc bị điều tra, truy tố, xét xlà không
oan sai, không bép buộc khai báo không đúng sự thật; đề nghị Hội đồng xét xử xem
xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Kiểm sát viên khẳng định o trạng truy tbị cáo căn cứ, đúng người,
đúng tội. Căn cứ tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân các tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệmnh sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: n cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a khoản 1 Điều
256a; điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 55 của Bộ luật
Hình sự, xử phạt: Bị cáo Bùi Trần M mức án từ 36 đến 42 tháng về tội Tàng trữ
trái phép chất ma tuý; từ 24 tháng đến 27 tháng về tội Sử dụng trái phép chất
3
ma túy. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai
tội từ 60 tháng đến 69 tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tính từ ngày tạm
giữ 03/8/2025. Miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình
sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 phong
số 647MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H chứa mẫu vật còn lại sau
giám định.
- Bị cáo là người khuyết tật nặng nên được miễn án phí hình sự thẩm; bị
cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Các tài liệu, chứng cứ do quan điều tra và Điều tra viên, Viện Kiểm sát
nhân dân Kiểm sát viên thu thập đã đầy đủ theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ
luật Tố tụng hình sự quy định.
[2] Hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra Điều tra viên, Viện
kiểm sát nhân dân Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện
đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá
trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi,
quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành
vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh và hình phạt:
[3 Lời khai của bị cáo Bùi Trần M tại phiên toà phù hợp với lời khai của b
cáo tại cơ quan điều tra; biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định
các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ vụ án nên đủ sở kết luận: Vào hồi
18 giờ ngày 03/8/2025, tại chân cầu T thuộc thôn C, xã A, thành phố Hải Phòng, bị
cáo bị bắt quả tang khi đang cất giữ trái phép 0,20 gam Methamphetamine tại túi
quần trước bên trái, mục đích để sử dụng cho bản thân. Trước đó ngày 01/8/2025,
một mình bị cáo đã sử dụng chất ma túy Methamphetamine khi đang điều trị nghiện
các chất ma tuý bằng thuốc thay thế Methadone tại Cơ sở M1, thành phố Hải Phòng.
Bcáo người năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ theo quy định tại Điều
12 của Bộ luật Hình sự, nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của
mình nguy hiểm cho hội, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Như
vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và
Sử dụng trái phép chất ma tuý; tội danh và hình phạt được được quy định tại điểm c
khoản 1 Điều 249 và điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.
4
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm chính sách độc
quyền của Nhà nước về quản chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, nguyên
nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân
khu vực 2 - Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ.
[5] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo
một tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, chưa được xoá án tích nên thể
hiện bị cáo nhân thân xấu, không ý thức sửa chữa sai lầm. Bị cáo không
tiền án, tiền sự; phạm tội không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
quy định tại Điều 52 của Bluật Hình sự. Bị o người khuyết tật nặng, tại Cơ
quan điều tra và tại phiên tòa, bị o đã thành khẩn khai báo n được hưởng các
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình stheo điểm p, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật
Hình sự. Bị cáo bố đẻ là người nhiễm chất độc da cam nên được hưởng thêm tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Xét các căn cứ quyết định nh phạt: Căn cứ vào tính chất hành vi phạm
tội, nhân thân các tình tiết giảm nhtrách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét
xử cho rằng cần áp dụng Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án nghiêm,
buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại sở giam giữ trong một thời hạn nhất định
mới đảm bảo giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định
người phạm tội còn thể bị áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền. Xét thấy, tài
liệu xác minh thể hiện bị cáo là người khuyết tật nặng, nghiện chất ma tuý nên Hội
đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về xử vật chứng: Đối với 01 phong số 647MT/PC09 của Phòng K
Công an thành phố H chứa mẫu vật còn lại sau giám định, còn nguyên niêm phong:
vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều
106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Về vấn đề khác: Trong vụ án này, quan Cảnh sát điều tra chưa xác định
được tên, tuổi, địa chỉ của người phụ nữ bán ma túy cho bcáo nên tiếp tục xác minh,
làm rõ xử lý sau là đúng quy định pháp luật.
[10] Về án phí: Bị cáo người khuyết tật nặng nên được miễn án phí theo
quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều
331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Trần M phạm tội Tàng trữ trái phép chất
ma tuý và Sử dụng trái phép chất ma túy.
5
2. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a khoản 1 Điều
256a; điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 55 của Bộ luật
Hình sự, xphạt bị cáo Bùi Trần M: 42 (Bốn mươi hai) tháng tù về tội Tàng trữ trái
phép chất ma tuý 30 (Ba mươi) tháng về tội Sử dụng trái phép chất ma túy.
Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 06
(S) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày tạm giữ 03/8/2025.
Miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo Bùi Trần M.
3. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 (Một)
phong bì số 647MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H chứa mẫu vật còn lại
sau giám định, còn nguyên niêm phong (vật chứng nêu trên đặc điểm như Biên
bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/01/2026 của Phòng thi hành án dân
sự khu vực 2 - Hải Phòng).
4. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí lệ phí của a án,
miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bùi Trần M.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng
hình sự, bị cáo Bùi Trần M quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày
tuyên án.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành
án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật
Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- VKSND khu vực 2-Hải Phòng;
- VKSND TP Hải Phòng;
- TAND TP Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 2-Hải Phòng;
- Cơ quan CSĐT Công an TP Hải Phòng;
- Cơ quan THAHS Công an TP Hải Phòng (PC10);
- Công an TP Hải Phòng (PV06);
- Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
- UBND (xã, phường, đặc khu) nơi bị cáo cư trú;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thanh Tùng
6
7
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
8
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Thanh Tùng
Hoàng Văn Đ Đoàn Văn N
9
10
11
12
13
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trần Thế Sự Đỗ Thị Viện
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Thanh Tùng
cho bị cáo được hưởng án thấp nhấp, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội được sửa
chữa sai lầm, trở thành công dân tốt
[6] Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho hội, đã trực tiếp xâm
phạm đến sự phát triển bình thường về thchất và sinh lý của trẻ em trong độ tuổi từ
14
đủ 13 đến dưới 16. Mặc giữa bị cáo bị hại tình cảm nam nữ, việc quan hệ
tình dục là sự đồng thuận của cả hai bên. Tuy nhiên, bị hại là người chưa đủ 16 tuổi
nên nhận thức pháp luật còn hạn chế nên hành vi quan hệ tình dục tự nguyện này là
trái pháp luật và bị nghiêm cấm. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm
nay cần thiết nhằm giáo dục bị cáo đồng thời tác dụng răn đe phòng ngừa tội
phạm.
Tải về
Bản án số 26/2026/HS-ST Bản án số 26/2026/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 26/2026/HS-ST Bản án số 26/2026/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất