Bản án số 796/2026/HS-PT ngày 15/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 796/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 796/2026/HS-PT ngày 15/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 796/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bị cáo Huỳnh Ngọc D bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm về tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 796/2026/HS-PT Bản án số 796/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 796/2026/HS-PT Bản án số 796/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thanh Lâm
Các Thẩm phán: 1/ Ông Trương Công Huấn
2/ Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Trí Đức - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 651/2026/TLPT-
HS ngày 04/8/2026 đối với bị cáo Huỳnh Ngọc D do có kháng cáo của bị cáo
đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 175/2026/HS-ST ngày 24/6/2026 của Tòa án
nhân dân Khu vực A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Huỳnh Ngọc D; sinh ngày 20 tháng 11 năm 1991 tại tỉnh A; Nơi
thường trú và cư trú: 7.04 chung cư H, số 64 H, khu phố 27, phường P, Thành
phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Văn phòng; Trình độ học vấn: Đại học; Dân tộc:
Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Huỳnh
Ngọc M(chết) và con bà Nguyễn Xuân N; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án:
không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/4/2026 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Võ Văn H là đối tượng nghiện ma túy và không có nghề nghiệp.
Khoảng giữa năm 2024, Hòa hoạt động mua bán trái phép chất ma túy để kiếm
tiền tiêu xài và sử dụng. Nguồn gốc ma túy, H mua của Nguyễn Hoàng M1
(không rõ nhân thân lai lịch). H sử dụng tài khoản zalo tên "Rio Võ" liên hệ với
tài khoản zalo tên "Mg" của M1 đặt mua ma túy. Mỗi lần H đặt mua của M1 nửa
hộp 5 ma túy Methamphetamne với giá 1.800.000 đồng và yêu cầu M1 giao ma
túy qua xe công nghệ đến trước địa chỉ 1663 H, phường P, Thành phố Hồ Chí
Bản án số: 796/2026/HS-PT
Ngày: 15/9/2026.
2
Minh, H thanh toán bằng tiền mặt 04 lần cho M1, còn 01 lần H dùng tài khoản
số 009100045xxxx ngân hàng V tên Huỳnh Ngọc D chuyển tiền đến tài khoản
số 1440206xxx ngân hàng B để thanh toán tiền mua ma túy cho M1.
Đầu năm 2025, H mua ma túy loại Methamphetamine của Trần Thế H1
(không rõ nhân thân lai lịch). H mua ma túy khoảng 10 lần của H1, liên hệ qua
zalo tên "Hope". Mỗi lần H mua nửa hộp 5 ma túy Methamphetamine của H1
với giá từ 1.800.000 đồng đến 2.000.000 đồng. H thanh toán tiền mua ma túy từ
tài khoản số 009100045xxxx ngân hàng V tên Huỳnh Ngọc D và tài khoản số
090902xxxx ngân hàng T tên Võ Văn H đến tài khoản số 835xxxx ngân hàng A
tên Trần Thế H1. Ngày 08/8/2025, H sử dụng tài khoản số 009100045xxxx ngân
hàng V tên Huỳnh Ngọc D thanh toán tiền mua ma túy cho H1 qua tài khoản số
0000398xxxx ngân hàng T tên Quang Trí Đ.
Mua được ma túy, H cất giữ ma túy tại phòng 5.9 nhà số 1663 H, phường P,
Thành phố Hồ Chí Minh để bán và sử dụng một ít. H phân chia ma túy thành
nhiều gói nhỏ, bán giá từ 300.000 đồng đến 700.000 đồng. H nhiều lần bán ma
túy cho Võ Thành D1, Nguyễn Thành L, Phạm Minh H2 và Huỳnh Ngọc D. Cụ
thể:
Võ Văn H bán ma túy cho Võ Thành D1 05 lần, giá từ 300.000 đồng đến
500.000 đồng/lần, giao ma túy tại 1806/109/4 H, xã N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong đó 04 lần D1 thanh toán tiền mặt cho H, 01 lần Dũng chuyển khoản từ tài
khoản số 090762xxxx ngân hàng M đến tài khoản số 009100045xxxx, ngân
hàng V tên Huỳnh Ngọc D
Võ Văn H bán ma túy cho Nguyễn Thành L 09 lần, giá 300.000 đồng/lần.
Những lần mua ma túy, L nhờ nhiều người (không rõ nhân thân lai lịch) giúp
chuyển tiền vào tài khoản số 009100045xxxx ngân hàng V tên Huỳnh Ngọc D
để thanh toán tiền ma túy cho H , L trả tiền mặt cho những người này. Ngày
11/8/2025, L nhắn tin cho H qua zalo đặt mua ma túy giá 300.000 đồng. Long
nhờ một người (không rõ nhân thân lai lịch) chuyển 300.000 đồng vào tài khoản
số 009100045xxxx ngân hàng V tên Huỳnh Ngọc D thanh toán tiền mua ma túy
cho H. L chuyển tiền thanh toán thành công nhưng H chưa kịp giao ma túy cho
L thì H bị bắt. H khai nhận bán ma túy cho L với giá 300.000 đồng, giao một gói
ma túy khối lượng ma túy 0,2686g loại Methamphetamine, tính cả túi nylon thì
có khối lượng 0,3g loại Methamphetamine.
Võ Văn H bán ma túy cho Phạm Minh H1 02 lần: Ngày 08/8/2025, H bán
ma túy số tiền 700.000 đồng, H2 thanh toán bằng tiền mặt. Ngày 10/8/2025,
mua số tiền 300.000 đồng, H2 chuyển khoản từ tài khoản số 10000274xxxx
ngân hàng V đến tài khoản số 800704117xxxx ngân hàng B tên Huỳnh Ngọc D.
Khi mua được ma túy, H2 đến trước số 1659 H, phường P, Thành phố Hồ Chí
Minh, chưa kịp sử dụng bị Công an phường P kiểm tra phát hiện H2 cất giữ gói
ma túy vừa mua của H.
Võ Văn H bán ma túy cho Huỳnh Ngọc D 01 lần, không nhớ thời gian. D
chuyển khoản thanh toán từ tài khoản Momo số 093510xxxx liên kết với tài
3
khoản ngân hàng B số 800704117xxxx đến tài khoản Momo số 092360xxxx cho
H.
Huỳnh Ngọc D có quan hệ tình cảm đồng giới với Võ Văn H. Tài khoản
ngân hàng V số 00910064xxxx do Huỳnh Ngọc D đứng tên, D giao cho H sử
dụng tài khoản giao dịch mua bán trái phép chất ma túy. D khai nhận giúp H bán
ma túy 05 lần cho Nguyễn Đình C, cụ thể:
Lần 1: Ngày 10/3/2025, D giúp H bán cho C 01 hộp 5 (05g) ma túy
Methamphetamine, giá 3.500.000 đồng. C dùng tài khoản Momo số 092698xxxx
chuyển số tiền 3.500.000 đồng đến tài khoản Momo số 093510xxxx cho D. D
đưa 3.500.000 đồng tiền mặt và cung cấp địa điểm nhận ma túy do C yêu cầu để
H đặt giao ma túy cho C.
Lần: 2: Ngày 18/3/2025, D giúp H bán cho C 01 hộp 5 (05g) ma
Methamphetamine giá 3.500.000 đồng. C dùng tài khoản Momo số 092698xxxx
chuyển số tiền 3.500.000 đồng đến tài khoản Momo số 093510xxxx cho D. D
dùng tài khoản ngân hàng B số 800704117xxxx chuyển số tiền 3.500.000 đồng
đến tài khoản ngân hàng V số 009100045xxxx do H đang quản lý sử dụng và
cung cấp địa điểm nhận ma túy do C yêu cầu để H đặt giao ma túy cho C.
Lần 3: Ngày 27/3/2025, D giúp H bán cho C 2,5g ma túy
Methamphetamine giá 2.000.000 đồng. C dùng tài khoản Momo số 092698xxxx
chuyển số tiền 2.000.000 đồng đến tài khoản Momo số 093510xxxx cho D. D
dùng tài khoản Momo số 093510xxxx chuyển số tiền 2.00.000 đồng đến tài
khoản Momo số 090902xxxx cho H và cung cấp địa điểm nhận ma túy do C yêu
cầu để H đặt giao ma túy cho C.
Lần 4: Ngày 13/7/2025, D giúp H bán cho C 01 hộp 5 (05g) ma túy
Methamphetamine giá 3.400.000 đồng. C dùng tài khoản ngân hàng V số
018100350xxxx chuyển số tiền 3.400.000 đồng đến tài khoản ngân hàng B số
800704117xxxx của D. D trừ đi 30.000 đồng tiền mua thức ăn cho H, D chuyển
số tiền còn lại là 3.370.000 đồng vào tài khoản ngân hàng V số 009100045xxxx
cho Hòa và cung cấp địa điểm nhận ma túy do C yêu cầu để H đặt giao ma túy
cho C.
Lần 5: Ngày 08/8/2025, D giúp H bán cho C 01 hộp 5 (05g) ma túy
Methamphetamine giá 3.500.000 đồng. C dùng tài khoản Momo số 092698xxxx
chuyển số tiền 3.500.000 đồng đến tài khoản Momo số 093510xxxx cho D. D
chuyển số tiền 3.500.000 đồng đến tài khoản Momo số 090902xxxx để trả tiền
ma túy cho H và cung cấp địa điểm nhận ma túy do C yêu cầu để H đặt giao ma
túy cho C.
Võ Văn H và Huỳnh Ngọc D nhiều lần tổ chức sử dụng ma túy tại phòng
5.9 nhà số 1663 H, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh. H cung cấp ma túy và
dụng cụ sử dụng ma túy cho D. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 10/8/2025, tại
phòng của H, H cho ma túy vào bộ dụng cụ sử dụng ma tuý rồi bật lửa đốt nấu
và hút một hơi. H đưa ống hút được nối với bộ dụng cụ cho D hút 01 hơi ma túy.
H và Ngọc D sử dụng thêm 03 lần nữa. Khoảng 4 giờ 30 phút ngày 11/8/2025,
4
cả hai đi ra ngoài mua đồ ăn về, H và D tiếp tục sử dụng ma túy, khoảng 7 giờ
sáng cùng ngày, D đi về. Những lần sử dụng ma túy, D đều được H đưa ống hút
nối với bộ dụng cụ để hút ma túy. D không đốt nấu ma túy, không đưa ma túy
hay cho ma túy vào bộ dụng để sử dụng chung với H.
Kết quả xét nghiệm ma tuý: Võ Văn H, Huỳnh Ngọc D, Phạm Minh H2,
Võ Thành D1 đều dương tính với chất ma tuý trong cơ thể (MET, MDMA);
Nguyễn Thành L dương tính với chất ma tuý trong cơ thể (MET) (bút lục 276,
277, 278, 279, 280).
Kết luận giám định số 2945/KL-KTHS ngày 18/8/2025 của Phòng kỹ thuật
hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận (Bút lục 120), thu giữ của Võ
Văn H:
- Tinh thể được ký hiệu mẫu m1 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) đều là
ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,9574g (một phẩy chín năm bảy bốn gam),
loại Methamphetamine.
- Tinh thể được ký hiệu mẫu m2 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma
túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0272g (không phẩy không hai bảy hai gam), loại
Methamphetamine.
Kết luận giám định số 2793/KL-KTHS ngày 15/8/2025 của Phòng kỹ thuật
hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận (Bút lục 121), thu giữ của
Phạm Minh H2:
Tinh thể được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy
ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,2686g (không phẩy hai sáu tám sáu gam), loại
Methamphetamine.
Vật chứng vụ án:
+ Thu giữ của Võ Văn H:
- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 (một) bình nhựa có nắp
màu vàng được đục 02 lỗ trên nắp, có một lỗ gắn ống nhựa dài màu trắng và một
lỗ gắn nỏ thủy tinh bên trong có chứa tinh thể nghi vấn là ma túy; 01 (một) hộp
kích thước 25cm x 27cm bên trong có: 01 (một) đĩa nhựa; 03 (ba) gói nylon có
nhiều bịch nhỏ: 02 (hai) hộp quet; 01 (một) đồ quẹt lửa tự chế; 01 (một) cân tiểu
ly; 01 (một) hộp giấy nhỏ có 05 (năm) gói nylon chứa tinh thể nghi vấn là ma
túy; 01 (một) bàn phím màu hồng, 01 (một) hộp nhựa có kích thước 35cm x 25
cm, 07 (bảy) ống nhựa; 01 (một) điện thoại Realme C60 màu đen; số IMEI
861421073398xxx; số IMEI 2: 86142107339xxxx;
Thu giữ của Huỳnh Ngọc D (bút lục 58): 01 (một) điện thoại Samsung
Galaxy Note 8 màu đen, số IMEI: 35375909138xxxx, số IMEI2:
35376009138xxxx, số thuê bao 093510xxxx; Thu giữ của Phạm Minh H2: 01
(một) điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh dương, số IMEI:
35673911732xxxx; Thu giữ của Nguyễn Thành L (bút lục 56): 01 (một) điện
thoại Xiaomi màu đen, số IMEI: 86518103996xxxx, sim số 058564xxxx, đã qua
sử dụng, màn hình phía trước bị bể nứt;
5
Thu giữ của Võ Thành D1 (bút lục 59):
+ 01 (một) điện thoại Mblu 21 M416H màu đen; số IMEI 1:
86622807131xxxx; số IMEI 2: 86622807134xxxx; 01 (một) điện thoại Iphone
16 Promax màu trắng, số máy: MYWX3VN/A; số IMEI 1: 35097040514xxxx;
số IMEI 2: 350970403895xxx.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã chuyển
những vật chứng trên đến Phòng Thi hành án dân sự Khu vực A, Thành phố Hồ
Chí Minh để chờ xét xử.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 175/2026/HS-ST ngày 24/6/2026 của Tòa án
nhân dân Khu vực A, Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều
58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm
2025:
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc D: 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép
chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 10/4/2026.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Huỳnh Ngọc D.
Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về tội danh, hình phạt đối với
các bị cáo Võ Văn H, Phạm Minh H2, Nguyễn Thành L, xử lý vật chứng, nghĩa
vụ nộp án phí và quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/7/2026, bị cáo Huỳnh Ngọc D kháng cáo xin xem xét giảm nhẹ hình
phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay: Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin
xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa đưa ra ý kiến phát biểu:
Sau khi xem xét tất cả lời khai, tình tiết trong hồ sơ vụ án, nhận thấy bản
án sơ thẩm đã tuyên bị cáo Huỳnh Ngọc D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma
túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Bị
cáo kháng cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp thêm tình
tiết mới để xem xét. Do đó, đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356
Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh
Ngọc D; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận bổ sung.
Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt
cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
6
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ
thẩm trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền,
trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Đơn kháng cáo của bị cáo Huỳnh Ngọc D trong thời hạn luật định là
hợp lệ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm. Tại phiên tòa
phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, căn cứ vào tài liệu có trong
hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo đã có đủ cơ sở để kết luận:
Từ khoảng giữa năm 2024, Võ Văn H đã nhiều lần mua ma túy
(Methamphetamine) từ các đối tượng khác mang về phòng trọ 5.9 nhà số 1663
H, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh chia nhỏ để bán kiếm lời và sử dụng.
Huỳnh Ngọc D có quan hệ tình cảm đồng giới với H từ năm 2019, dù biết rõ H
mua bán ma túy nhưng D vẫn giao tài khoản ngân hàng V số 009100045xxxx
mang tên mình cho H sử dụng làm công cụ nhận và chuyển tiền giao dịch ma
túy và Huỳnh Ngọc D đã trực tiếp đứng ra bán ma túy giúp Hòa tổng cộng 05
lần cho đối tượng tên Nguyễn Đình C (chưa rõ nhân thân lai lịch). Tổng khối
lượng ma túy các bị cáo cất giấu để bán bị thu giữ là 1,9846g Methamphetamine;
cộng với khối lượng ma túy bán cho Phạm Minh H2 vừa bị thu giữ là 0,2686g,
tổng khối lượng ma túy D và H phải chịu trách nhiệm là 2,2532g loại
Methamphetamine.
Với hành vi đó, bị cáo Huỳnh Ngọc D đã phạm vào tội “Mua bán trái phép
chất ma túy” thuộc trường hợp “phạm tội từ 2 lần trở lên” tội phạm và hình phạt
được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi,
bổ sung năm 2017. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội danh và điều
khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Huỳnh Ngọc D kháng cáo xin xem xét giảm
nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới để xem xét.
Khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm nhận định: Bị cáo đã thành khẩn khai báo,
thể hiện thái độ ăn năn, hối cải để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi,
bổ sung năm 2017 và xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc D 08 (tám) năm tù là phù hợp,
tương xứng với tính chất, mức độ hành vi bị cáo đã thực hiện. Do đó, không có
căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Do không chấp nhận kháng cáo nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các vấn đề khác không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình
sự;
7
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Ngọc D; Giữ nguyên bản
án hình sự sơ thẩm số 175/2026/HS-ST ngày 24/6/2026 của Tòa án nhân dân
Khu vực A, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17;
Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc D: 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép
chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 10/4/2026.
3. Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và căn cứ Điều 22 và
23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường
vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí toà án.
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao; (1)
- TAND KVA – TP.HCM (1)
- VKSND Tp.HCM; (3)
- VKSND KVA – TP.HCM; (1)
- P.PV06 – CA Tp.HCM; (1)
- P. THADS KVA – TP.HCM; (1)
- Bị cáo; (1)
- Công an TP. Hồ Chí Minh; (1)
- Cơ quan THAHS; (1)
- Sở Tư pháp; (1)
- Lưu: VT, THS, hồ sơ. (21) (6)
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Thanh Lâm
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 796/2026/HS-PT Bản án số 796/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 796/2026/HS-PT Bản án số 796/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất