Bản án số 250/2026/HS-PT ngày 22/05/2026 của TAND TP. Hà Nội

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 250/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 250/2026/HS-PT ngày 22/05/2026 của TAND TP. Hà Nội
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hà Nội
Số hiệu: 250/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/05/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 250/2026/HS-PT Bản án số 250/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 250/2026/HS-PT Bản án số 250/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PH HÀ NI
–––––––––––––––
Bản án số: 250/2026/HS-PT
Ngày: 22/5/2026
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phn Hội đồng xét x phúc thm gm có:
- Thm phán - Ch ta phiên tòa: Bà Bùi Th Thu Hng
- Các Thm phán: Ông Vũ Quang Huy, bà Nguyễn Th Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phm Th Trang - Thư ký TAND thành phố Hà Ni
- Đại din Vin kim sát nhân dân thành ph Ni tham gia phiên tòa:
Vũ Thị Thu Hà - Kim sát viên.
Ngày 22/5/2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nội xét xử phúc
thẩm công khai vụ án hình sự thụ số 109/2026/TLPT-HS ngày 09 tháng 3 năm
2026 do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số
68/2026/HSST ngày 30/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3, thành phố Nội.
Bị cáo kháng o: Nguyễn Xuân T; Sinh ngày 08/12/1975 CCCD số
************ do Cục Cảnh sát về QLHC cấp ngày 12 tháng 02 năm 2023; Tên gọi
khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Số B Đna, H Ecolacke V Đ, phường
Đ, thành phố Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: Số A H Ecolacke V Đ, phường Đ, thành phố
Hà Nội ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao
động tự do; Văn hoá: 12/12; Con ông: Nguyễn Xuân Đ; Con bà: Đoàn Thị H; Vợ:
Nguyễn Thị T1; 02, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2006. Tiền án,
tiền sự: Không. Bị bắt tạm giam: 06/08/2025.
D chbản số 1920 ngày 06/8/2025 do PC11B - Công an thành phố H cung cấp.
Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại trại giam S1 (Có mặt tại phiên toà).
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phạm Thị H1- Công ty L1 - Đoàn Luật
thành phố H; Địa chỉ: Số G, tổ B ngõ B phố L, phường H, TP Hà Nội. (Có mặt tại
phiên toà).
Vụ án còn có bị hại và người liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị
Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liu trong h vụ án din biến ti phiên tòa, ni dung v
án được tóm tắt như sau:
Công ty CP G, địa chỉ: Khu D, Cảng hàng không quốc tế N, P, huyện S (cũ),
thành phố Hà Nội do anh Nguyễn Hoàng S làm Giám đốc, người đại diện theo pháp
2
luật và là chủ sở hữu đứng tên đăng ký xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Santafe màu bạc,
BKS: 30E-769.56. Ngày 30/12/2023, anh Nguyễn Đức T2 thuê của anh Nguyễn
Hoàng S chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Santafe màu bạc, BKS: 30E-769.56 để đi
lại, thời hạn thuê xe 03 tháng kể từ ngày 30/12/2023 đến ngày 31/3/2024, gthuê
13.000.000 đồng/tháng. Hai bên hợp đồng thuê xe đã thanh toán tiền
thuê xe. Hết thời hạn thuê xe, anh T2 tiếp tục hỏi thuê xe, anh S đồng ý, hai bên
thống nhất gia hạn thời hạn thuê xe đến khi anh T2 không còn nhu cầu. Sau khi thuê
được xe, anh T2 sử dụng xe để đi lại và cho thuê xe lại khi khách nhu cầu thuê
xe.
Thông qua mối quan hệ hội, Nguyễn Xuân T quen biết với anh Nguyễn Đức
T2. T đã nhiều lần thuê xe ô tô của anh T2 để sử dụng, các lần thuê xe của anh T2,
T đều trả xe và thanh toán tiền thuê xe đầy đủ. Ngày 18/5/2024, T gọi điện cho anh
T2 hỏi thuê xe ô để đi lại, anh T2 đồng ý cho T thuê chiếc xe ô nhãn hiệu
Huyndai Santafe màu bạc, BKS: 30E- 769.56. Hai bên Hợp đồng thuê xe ô tô,
thời hạn thuê xe 03 tháng, kể từ ngày 18/5/2024 đến ngày 18/8/2024, giá thuê là
25.000.000 đồng/tháng. Sau khi Hợp đồng, anh T2 giao xe ô nhãn hiệu
Huyndai Santafe màu bạc, BKS: 30E-769.56, 01 giấy đăng xe ô mang tên
Công ty CP G (bản phô tô) và 01 Giấy chứng nhận kiểm định số DA 2924184 (bản
chính), 01 bảo hiểm dân sự xe (bản chính) cho T.
Sau khi thuê được xe ô tô, do cần tiền chi tiêu cá nhân, T nảy sinh ý định cầm
cố chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Santafe màu bạc, BKS: 30E-769.56. Thông qua
mối quan hệ xã hội, T quen biết với anh Tiến Đ1. Chiều ngày 18/5/2024, T gọi
điện thoại cho anh Đ1 nói Công ty của T chiếc xe ô nhãn hiệu Huyndai Santafe
màu bạc, BKS: 30E-769.56, do cần giải quyết công việc nên T muốn cầm cố chiếc
xe ô tô trong khoảng 10 ngày với số tiền 300.000.000 đồng, anh Đ1 đồng ý. T lái
xe ô trên đến nhà anh Đ1 tại thôn M, H, tỉnh Phú Thọ. Tại đây, T anh Đ1
thống nhất, anh Đ1 nhận cầm cố xe ô với số tiền là 300.000.000 đồng, khi đó, T
viết giấy bán xe đề ngày 18/5/2024 với nội dung: "tôi Nguyễn Xuân T chiếc
xe ô nhãn hiệu Santafe BKS: 30E-769.56 nay không dùng nữa bán lại cho anh
Tiến Đ1 với giá 300.000.000 đồng". Do trước đó, T nợ anh Đ1 số tiền 50 triệu đồng
nên sau khi viết giấy bán xe, anh Đức T3 số tiền nợ 50.000.000 đồng, anh Đ1
chuyển số tiền 250.000.000 đồng ttài khoản số 19795588888 mang tên Vũ Tiến
Đ1 mở tại Ngân hàng M đến tài khoản số 108876658888 mang tên Nguyễn Xuân T
mở tại Ngân hàng V, với nội dung: "Vũ Tiến Đ1 chuyển khoản". Sau khi nhận được
tiền, T giao xe giấy tờ xe cho anh Đ1, số tiền được T sử dụng chi tiêu vào công
việc kinh doanh cá nhân hết.
3
Sau khi nhận cầm cố chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Santafe màu bạc, BKS:
30E-769.56, anh Đ1 sử dụng xe để đi lại cất giữ tại nhà. Đến tháng 6/2024, do
không chỗ để xe nên anh Đ1 mang xe đến nhà anh Đinh Văn D1 (sinh năm: 1978,
trú tại: thôn M, Hội Thịnh, tỉnh Phú Thọ) gửi nhờ. Đến tháng 01/2025, anh D1
mang chiếc xe đến nhà anh Trương Văn L (sinh năm: 1985, trú tại: xã Hội Thịnh,
tỉnh Phú Thọ) để gửi nhờ.
Hết thời hạn thuê xe, anh T2 gọi điện cho T yêu cầu trả xe. Do T đã mang xe
đi cầm cố nên T tiếp tục đề nghị gia hạn thuê xe thêm 02 tháng, anh T2 đồng ý. Quá
trình thuê xe, từ ngày 24/5/2024 đến ngày 26/01/2025, T chuyển 119.000.000 đồng
tiền thuê xe từ tài khoản số 108876658888 mang tên Nguyễn Xuân T mở tại Ngân
hàng V1 đến tài khoản số 0978999888 mang tên Nguyễn Đức T2 mở tại Ngân hàng
M, sau đó T không trả tiền thuê xe nữa. Anh T2 nhiều lần gọi điện yêu cầu T trả xe
nhưng T không trả. Đến ngày 24/12/2024, thông qua hệ thống định vị, anh T2 phát
hiện chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Santafe màu bạc, BKS: 30E-769.56 ở xã Hội
Thịnh, tỉnh Phú Thọ. Anh T2 tìm đến gặp anh Đ1 yêu cầu anh Đ1 trả xe cho anh T2
nhưng anh Đ1 không trả và nói T đã bán chiếc xe trên cho anh Đ1. Anh T2 yêu cầu
T chuộc xe trlại anh T2 nhưng T không thực hiện, ngày 01/4/2025 anh T2 làm đơn
tố giác hành vi của T đến quan CSĐT - Công an T giao nộp: 01 Hợp đồng
thuê xe ô tô không đề ngày tháng năm, bên thuê xe (Bên B): Nguyễn Xuân T (A2).
Ngày 02/4/2025 Cơ quan điều tra đã thu giữ của anh Trương Văn L: 01 xe ô tô
nhãn hiệu Huyndai Santafe màu bạc, BKS: 30E-769.56.
Ngày 02/4/2025 Cơ quan điều tra thu giữ của anh Vũ Tiến Đ1: 01 Giấy bán xe
đứng tên Nguyễn Xuân T đề ngày 18/5/2024 (A1); 01 Giấy xác nhận thời hạn hiệu
lực đăng kiểm (bản phô tô), 01 Đăng ký xe (bản phô tô), 01 Giấy chứng nhận đăng
kiếm, 01 Bảo hiểm dân sự xe.
quan điều tra xác minh tại Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố
H xác định: Chiếc xe ô nhãn hiệu Huyndai Santafe màu bạc, BKS: 30E-769.56
đăng ký ngày 14/02/2029, chủ xe: Công ty CP G, địa chỉ: Khu D, Cảng hàng không
quốc tế N, xã P, huyện S (cũ), thành phố Hà Nội. Xác minh tại Phòng C - Công an
thành phố H xác định xe ô nhãn hiệu Huyndai Santafe màu bạc, BKS: 30E-769.56
không có trong dữ liệu ô tô vật chứng.
Tại Bản kết luận giám định số 2313 ngày 22/4/2025 của Phòng C - Công an
thành phố H kết luận: Chiếc xe ô nhãn hiệu Huyndai Santafe màu bạc, BKS: 30E-
769.56, số khung PLUSV81CDHN007265 và số máy G4KEGA9009971 là s
nguyên thủy. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 81 ngày 29/4/2025 của Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận H kết luận: Chiếc xe ô tô nhãn hiệu
4
Huyndai Santafe màu bạc, BKS: 30E-769.56, số khung PLUSV81CDHN007265,
số máy G4KEGA9009971 đã qua sử dụng trị giá: 600.000.000 đồng.
Tại Bản kết luận giám định số 3190 ngày 05/6/2025 Phòng C - Công an thành
phố H kết luận: Chữ viết, chữ ký đứng tên Nguyễn Xuân T trên mẫu cần giám định
ký hiệu A1, chữ ký dưới mục "Đại diện bên B" trên mẫu cần giám định ký hiệu A2
với chviết, chữ ký đứng tên Nguyễn Xuân T trên các mẫu so sánh ký hiệu M1 đến
M3 là chữ do cùng một người viết và ký ra.
quan điều tra tiến hành thu giữ kiểm tra chiếc điện thoại di động nhãn
hiệu Iphone 15 Promax của Nguyễn Xuân T phát hiện có nội dung tin nhắn trao đối
giữa T anh Nguyễn Đức T2 liên quan đến việc thuê chiếc xe ô nhãn hiệu
Huyndai Santafe màu bạc, BKS: 30E-769.56.
quan điều tra đã tiến hành sao tài khoản số 1088876658888 mang tên
Nguyễn Xuân T mở tại Ngân hàng V1 xác định có các giao dịch chuyển khoản như
nội dung vụ án.
Ngày 24/4/2025 quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô nhãn hiệu Huyndai
Santafe màu bạc, BKS: 30E-769.56 cùng toàn bộ giấy tờ xe cho anh Nguyễn Đức
T2. Anh T2 không yêu cầu đề nghị về bồi thường dân sự và đề nghị giảm nhẹ trách
nhiệm hình sư cho T.
Đối với anh Vũ Tiến Đ1, quá tnh điều tra xác định: Anh Đ1 không biết xe ô
nhãn hiệu Huyndai Santafe màu bạc, BKS: 30E-769.56 do T cầm cố cho Đ1
do T phạm tội mà có, do vậy Cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với Vũ Tiến
Đ1 căn cứ. Ngày 29/4/2025 anh Đ1 đã được T trả lại số tiền 300.000.000 đồng,
anh Đ1 không yêu cầu bồi thường dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự cho T.
Đối với anh Đinh Văn D1 và anh Trương Văn L là những người đã tin anh Vũ
Tiến Đ1cho anh Đ1 gửi nhờ chiếc xe ô tô nhãn hiêu Hyundai Santafe màu bạc,
BKS: 30E-769.56 tại nhà mà không hỏi nguồn gốc xe ô tô, do vậy Cơ quan điều tra
không đề cập xử có căn cứ.
Tại bản cáo trạng số 206/CT-VKS-P3 ngày 09/01/2026 của Viện kiểm sát nhân
dân thành phố Nội, truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T về tội “Lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình snăm 2015, sửa đổi bổ
sung năm 2017.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 68/2026/HSST ngày 30/01/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 3, Thành phố Hà Ni quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản”.
5
Áp dụng: khoản 4 Điều 175; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54;
Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Xuân T 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù
tính từ ngày 06/8/2025.
Ngoài ra Bản án còn tuyên về việc xlý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo
theo quy định ca pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 05/02/2026 bị cáo Nguyễn Xuân T kháng cáo bản
án hình sự thẩm số 68/2026/HSST ngày 30/01/2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 3, thành phố Hà Nội, đề nghị sửa án sơ thẩm, xin giảm nhẹ hình phạt với lý do
bị cáo bị xử mức hình phạt quá nặng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Xuân T giữ nguyên yêu cầu kháng
cáo với lý do: Bị cáo phạm tội do gặp khó khăn trong công việc làm ăn, nhất thời
phạm tội, hậu quả đã được khắc phục hoàn toàn. Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành
vi của mình , đề nghị Hội đồng xét xgiảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo
cơ hội cải tạo được sớm trở về với gia đình và xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nội tham gia phiên tòa phát
biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng: Bị cáo nộp đơn kháng cáo trong thời
hạn luật định, nên đnghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận giải quyết yêu
cầu kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
- Về nội dung: Sau khi phân tích đánh giá toàn bộ tình tiết, nội dung vụ án,
nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng
điểm b khoản 1 Điều 355 Bluật tố tụng hình sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
bị cáo: Sửa quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn
Xuân T. Áp dụng khoản 4 Điều 175, điểm b, s, khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 54;
Điều 38 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T mức án từ 06 năm 06 tháng
đến 07 năm tù.
Luật bào chữa cho bcáo tại phiên tòa đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo
được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, số
tiền bị cáo chiếm đoạt đã được khắc phục hoàn toàn, trả cho bị hại, bị hại có đơn đề
nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu
kháng cáo của bị cáo, áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật
hình sự, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt đại diện Viện
kiểm sát đề nghị để bị cáo có cơ hội cải tạo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
Trên s ni dung v án, căn cứ vào các tài liu trong h vụ án đã đưc
tranh tng ti phiên tòa, Hội đồng xét x nhận định như sau:
6
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của của bị cáo Nguyễn Xuân T đảm bảo hình
thức, thời hạn, đủ điều kiện giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm về trình tự,
thủ tục thẩm quyền đảm bảo theo quy định ca Bộ luật tố tng hình sự. Quá trình
điều tra tại phiên toà, bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết
định của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi,
quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung:
Căn cứ lời khai của bị cáo, bị hại, người liên quan tại quan điều tra, tại phiên
tòa thẩm cũng ncác tài liệu, chứng cứ khác trong hồ vụ án, căn cứ kết
quả tranh luận tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 18/5/2025 tại số nhà A ngách F phố T, phường K, thành phố Nội,
anh Nguyễn Đức T2 đã cho Nguyễn Xuân T thuê chiếc xe ônhãn hiệu Huyndai
Santafe màu bạc BKS: 30E-769.56 với mục đích sử dụng đi lại. Hai bên ký kết Hợp
đồng thuê ô tô, thời hạn thuê xe là 03 tháng từ ngày 18/5/2024 đến ngày 18/8/2024,
giá thuê 25.000.000 đồng/tháng. Sau khi thuê được xe, do cần tiền để chi tiêu, chiều
ngày 18/5/2024, T nảy sinh ý định mang xe ô đi cầm cố. T liên hệ với anh
Tiến Đ1 nói dối anh Đ1 Công ty của T chiếc xe oto nhãn hiệu Huyndai
Santafe màu bạc BKS: 30E-769.56, do cần tiền để giải quyết việc Công ty nên T
muốn cầm cố chiếc xe trong thời hạn 10 ngày để lấy 300.000.000 đồng, anh Đ1 đồng
ý. Hết thời hạn thuê xe, để anh T2 không biết việc T đã mang xe đi cầm đồ, T xin
gia hạn thuê xe thêm 02 tháng. Đến tháng 12/2024, anh T2 nhiều lần yêu cầu T trả
xe nhưng T không trả.
Như vậy, bị cáo thuê xe để sử dng sau đó do cần tiền chi tiêu, bị cáo mới nảy
sinh ý định chiếm đoạt tài sản và thực hiện hành vi mang xe đi cầm cố. Hành vi ca
bị cáo đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tòa án thẩm
cần rút kinh nghiệm, nhận định đúng hành vi phạm tội của bị cáo để xác định tội
danh cho chính xác. Với gtrị tài sản bị cáo chiếm đoạt 600.000.000 đồng, bị
cáo Nguyễn Xuân T bị xét xử về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản", ti
danh và hình phạt quy định khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 đúng
người đúng tội, không oan.
[4] Về hình phạt: Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của
người khác được pháp luật bảo vệ với giá trị rất lớn. Hành vi ca b cáo cn phi
truy t xét x nghiêm minh nhằm răn đe giáo dục và phòng nga chung. Khi quyết
định hình pht Tòa cấp thẩm đã xem xét nhân thân, đánh giá tính cht, mức độ
7
hành vi phm ti các tình tiết gim nh trách nhim nh s đ quyết định mc
hình phạt đối vi b cáo. Tuy nhiên mc x pht b cáo mc án 10 năm 06 tháng tù
phn nghiêm khc, bi l v hu qu b cáo đã khc phc bồi thường được toàn
b cho người b hại, người b hại có đơn xin giảm nh hình pht cho bo. Ti giai
đoạn điều tra cũng như tại phiên toà b cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối ci, nhân
thân chưa có tiền án tin sự. Gia đình công vi Cách mng, bn thân b o được
chính quyền địa phương xác nhận nhiều đóng góp cho địa phương. Bị cáo
nhiu tình tiết gim nh quy định tại điểm b, s khon 1, khoản 2 Điu 51 B lut
hình s, do vy Hội đồng xét x căn cứ đim b khoản 1 Điều 355; đim c khon 1
Điu 357 B lut t tng hình s chp nhn yêu cu kháng cáo ca b cáo, gim nh
mt phn hình pht cho b cáo
Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình
sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị
Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng đim b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng
hình sự:
I. Chấp nhận kháng cáo ca bị cáo Nguyễn Xuân T
II. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2026/HSST ngày 30/01/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 3, Thành phố Hà Ni:
1.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản”.
2. Áp dụng: Khoản 4 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 54;
Điều 38; Bộ luật hình sự:
Xử phạt: Nguyễn Xuân T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tính từ ngày
06/8/2025.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 12 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 ca Ủy ban thường v Quc hi danh mc án phí, l phí: B cáo
không phi chu án phí hình s phúc thm.
III. Các quyết định khác của bản án hình sự thẩm số 68/2026/HSST ngày
30/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3, Thành phố Nội không kháng cáo,
không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
8
Nơi nhận:
- VKSND TP Hà Nội;
- Tòa án và VKSND khu vực 3, Hà Nội;
- Phòng THADS khu vực 3, Hà Nội;
- Công an TP Hà Nội;
- Bị cáo và những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ, Văn phòng.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Thị Thu Hồng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 250/2026/HS-PT Bản án số 250/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 250/2026/HS-PT Bản án số 250/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất