Bản án số 15/2026/HNGĐ-PT ngày 18/05/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 15/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 15/2026/HNGĐ-PT ngày 18/05/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 15/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/05/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn C - Nguyễn Thị N
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 15/2026/HNGĐ-PT Bản án số 15/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 15/2026/HNGĐ-PT Bản án số 15/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG H XÃ HI CHỦ NGA VIỆT NAM
THÀNH PH ĐÀ NẴNG Độc lập - Tdo - Hạnh phúc
Bản án số: 15/2026/HNGĐ-PT
Ny 18/5/2026
V/v Tranh chấp chia tài sản chung.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Việt Dũng
Các Thẩm phán: Ông Ngô Hà Nam
Thái Thị Phi Yến
- Thư phiên tòa: Lại Thị Thanh Huyền - Thư Tòa án nhân dân thành
phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
Đoàn Thị Cẩm - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử
phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ số 06/2026/HNGĐ-PT ngày 11
tháng 3 năm 2026 về việc: “Tranh chấp chia tài sản chung.
Do bản án Hôn nhân gia đình thẩm số 33/2026/DS-ST ngày 16/11/2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2026/QĐ-PT ngày 09 tháng 4 năm
2026 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 13/2026/QĐ-PT ngày 22 tháng 4 năm
2026 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn C - Sinh năm 1947 - Địa chỉ: 81 đường H, phường
H, thành phố Đà Nẵng
Người đại din theo y quyn: Bà Trn ThT - Đa ch: 300 đường L, phường
H, thành ph Đà Nẵng. (Có mt).
- Người bo v quyn li ích hp pháp của Nguyên đơn: Ông Vinh H - Lut
sư của Công ty lut TNHH MTV K thuc Đoàn Luật sư thành ph Đà Nẵng. (Có mt).
* Bị đơn: Nguyễn Thị N - Sinh năm 1971 - Địa chỉ: 01/4 đường L, phường H,
thành phố Đà Nẵng. Hiện trú tại: 61- 63 đường T, phường H, thành phố Đà Nẵng. (Có
mt).
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Bị đơn: Ông Ngô Anh T
2
Hoàng Th H - Luật sư Công ty Luật TNHH ATN & cng s - Địa ch: S 18 ph Đ,
phưng N, thành ph Hà Ni. (Có mt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Trường P - Địa chỉ: 01/4 đường L, phường H, thành phố Đà Nẵng.
(Có mt).
2. Ông Ngô Thanh H - Sinh năm 1977 - Địa chỉ: 184 đường L, phường H, thành
phố Đà Nẵng. (Vng mt).
- Người kháng cáo: Nguyễn Thị N, bị đơn ông Nguyễn Trường P,
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án như sau:
Trước đây, ông Nguyễn C khởi kiện Nguyễn Thị N để yêu cầu chia tài sản
chung theo Thông báo thụ lý vụ án số 157/TB-TLVA ngày 11/07/2022 của Tòa án nhân
dân quận H, trong đó nguyên đơn là ông Nguyễn C và bị đơn là Nguyễn Thị N. Sau
đó, N đã yêu cầu khởi kiện ông Nguyễn C yêu cầu không công nhận vợ chồng theo
Thông báo thụ lý vụ án số 02/TB-TLVA ngày 06/01/2023 của Tòa án nhân dân quận H,
với nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N và bị đơn ông Nguyễn C.
Sau này 02 vụ án nêu trên được nhập vụ án theo Quyết định nhập vụ án số
01/2023/QĐ-TA ngày 12/01/2023 của Tòa án nhân dân quận H thành vụ án hôn nhân
gia đình thụ số 02/2023/TLST-HNGĐ ngày 06/01/2023 về việc “Không công nhận
vợ chồng, chia tài sản chung” với nguyên đơn Nguyễn Thị N bị đơn ông Nguyễn
C.
* Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn C theo Thông báo thụ vụ án số
157/TB-TLVA ngày 11/07/2022 của Tòa án nhân dân quận H:
1. Ông C đề nghị chia đôi khối tài sản chung giữa ông Nguyễn C Nguyễn
Thị N gồm có:
1.1. Thửa đất số: 03-B34, tờ bản đồ số 00, diện tích: 112,5m
2
, địa chỉ: Lô 03-B,
phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng do Ủy ban nhân dân quận L cấp ngày 19/04/2010
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền
với đất số BA 6135XC đứng tên ông Nguyễn C và bà Nguyễn Thị N.
1.2. Thửa đất số: 428, tờ bản đồ số: 17, diện tích: 120m
2
, địa chỉ tại: 71-72 B
đường C (Số 67-69 C), phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng do Sở Tài nguyên Môi
trường thành phố Đà Nẵng cấp ngày 05/01/2018 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CK 3893XX đứng tên ông
3
Nguyễn C và bà Nguyễn Thị N. Trên thửa đất số 428, hiện đang có 01 ngôi nhà 04 tầng
diện tích xây dựng: 116m
2
, diện tích sàn: 534,4m
2
, cấp (hạng): cấp III.
1.3. Thửa đất số: 463, tờ bản đồ số: 10, diện tích: 142,3m
2
, địa chỉ tại: 61-63 đường
P, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng do Sở Tài nguyên Môi trường thành phố
Đà Nẵng cấp ngày 19/01/2022 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà tài sản khác gắn liền với đất số DC 9279XY đứng tên ông Nguyễn C
Nguyễn Thị N. Trên thửa đất số 463, hiện tại đang có một công trình xây dựng nhà ở kết
hợp dịch vụ lưu trú (07 tầng) diện tích xây dựng: 114,4m
2
, diện tích sàn: 908,9m
2
,
cấp công trình: cấp 2.
Theo chứng thư thẩm định giá số 430/2024/450 ngày 12/12/2024 của Công ty C
phần thẩm định giá dịch vụ tài chính BTC M thì:
- Thửa đất số 03-B tại địa chỉ: 03-B, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng
có giá trị 6.272.214.525 đồng;
- Nhà đất tại địa chỉ 71-72 B đường C (Số 67- 69 C), phường T, quận H,
thành phố Đà Nẵng có giá trị 12.804.297.064 đồng;
- Nhà đất tại địa chỉ 61- 63 đường P, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng
có giá trị 22.062.895.647 đồng.
Ông C thống nhất với kết quả thẩm định giá và không ý kiến gì. Ông C đề nghị
HĐXX xem xét chia tài sản chung như sau:
- Giao cho bà N được nhận 02 tài sản chung là: Thửa đất số 03-B tại địa chỉ:
03-B, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng có giá trị 6.272.214.525 đồng và Nhà đất
tại địa chỉ: 71-72 đường C (Số 67- 69 đường C), phường T, quận H, thành phố Đà
Nẵng có giá trị 12.804.297.064 đồng;
- Giao cho ông Nguyễn C nhận 01 tài sản chung là: Nhà đất tại địa chỉ 61-63
đường P, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng với giá trị là 22.062.895.647 đồng.
2. Đối với yêu cầu của N về việc không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà
Nguyễn Thị N và ông Nguyễn C thì ông C không chấp nhận, bởi lẽ: gia bà N và ông C
không có tổ chức lễ cưới, không phát sinh quan h v chng và không có quan h “sng
chung như vợ chồng”, mối quan hệ giữa bà N và ông C vi phạm nghiêm trọng điều cấm
của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
3. Đối với yêu cầu của bà N về chia các tài sản khác thì ông C không chấp nhận.
4. Đối với yêu cầu của ông Nguyễn Trường P về việc nhận số tiền thi công chống
thấm 129.770.973 đồng mua thêm tài sản giá trị 142.921.443 đồng, tổng cộng
272.687.083 đồng thì ông C và bà N cùng có trách nhiệm trả lại ông P số tiền trên.
4
* Đối với yêu cầu khởi kiện theo Thông báo thụ vụ án số 02/TB-TLVA ngày
06/01/2023 của Tòa án nhân dân quận H, với nguyên đơn Nguyễn Thị N và bị đơn
ông Nguyễn C.
1. Về quan hệ hôn nhân: Tôi ông C không đăng kết hôn, ông C 1 người
vợ trước Mai Thị Thu T (chết năm 2006). Tuy nhiên, tôi ông C sống chung với
nhau như vợ chồng từ năm 1996 tại địa chỉ 01/4 đường L, phường H, thành phố Đà
Nẵng, 2 con chung Nguyễn Phương A, sinh năm 1997 và Nguyễn Tường P,
sinh năm 2002 nên tôi đề nghị Toà án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa tôi
ông C.
2. Về con chung: Tôi và ông C có hai con chung Nguyễn Phương A, sinh ngày
22/9/1997 và Nguyễn Trường P, sinh ngày 21/10/2002. Các con chung đã trưởng thành
nên không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung: Tôi và ông Nguyễn C có tài sản chung gồm các tài sản chung
ông Nguyễn C yêu cầu Tòa án giải quyết theo thụ số 157/2022/TLST-DS ngày
11/7/2022. Tôi xác định đây là tài sản chung của tôi và ông C.
Tôi thống nhất với kết quả thẩm định giá theo chứng thư thẩm định giá số
430/2024/450 ngày 12/12/2024 của Công ty Cổ phần thẩm định giá dịch vụ tài chính
BTC Miền T. Tôi đề nghị HĐXX xem xét chia tài sản chung này theo tỷ lệ tôi hưởng 7
phần, ông C hưởng 3 phần. Căn nhà tại đường P đang cho dịch vụ thuê nhà để mẹ con
có khoản tiền sinh sống và hiện tôi đang sinh sống tại căn nhà đường P này. Tôi đề nghị
được nhận nhà đất tại thửa đất tại địa chỉ 61-63 đường P, phường T, quận H, thành
phố Đà Nẵng và giao 02 tài sản còn lại cho ông C sở hữu và sử dụng.
Ngoài ra còn có các tài sản chung do ông Nguyễn C đứng tên gồm:
+ Ô tô nhãn hiệu BMW biển số 43A 128-XZ đăng ký vào ngày 14/11/2014 đứng
tên ông Nguyễn C;
+ Nhà đất địa chỉ 168 đường C, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B06321X1 do Sở Tài nguyên Môi trường
thành phố Đà Nẵng cấp ngày 05/9/2013 đứng tên ông Nguyễn C;
+ Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 159, tờ bản đồ số 3, địa chỉ Lô 77, khu B
(giai đoạn 1) - Khu dân Nam cầu C, H, huyện H, thành phố Đà Nẵng do UBND
huyện H, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 13/11/2020 thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn
C;
+ Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 161, tờ bản đồ số 3, địa chỉ Lô 79, khu B
(giai đoạn 1) - Khu dân Nam cầu C, H, huyện H, thành phố Đà Nẵng do UBND
huyện H, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 13/11/2020 thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn
C;
5
+ Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 80, tờ bản đồ số 3, địa chỉ Lô 80, khu B
(giai đoạn 1) - Khu dân Nam cầu C, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng do Sở Tài
nguyên và Môi trường thành phố Đà Nẵng cấp ngày 21/3/2016 thuộc quyền sở hữu của
ông Nguyễn C;
+ Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 160, tờ bản đồ số 3, địa chỉ Lô 78, khu B
(giai đoạn 1) - Khu dân Nam cầu C, H, huyện H, thành phố Đà Nẵng do UBND
huyện H, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 13/11/2020 thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn
C.
Tôi cho rằng các tài sản đứng tên ông C phải được xác định là tài sản chung vì tôi
có công sức đóng góp, cần giải quyết phân chia đối các với tài sản này.
4. Về nợ chung: Không có.
5. Đối với yêu cầu của ông Nguyễn Trường P về việc nhận số tiền thi công chống
thấm 129.770.973 đồng mua thêm tài sản giá trị 142.921.443 đồng, tổng cộng
272.687.083 đồng thì tôi và ông C cùng có trách nhiệm trả lại ông P số tiền trên.
* Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trường P vắng mặt tại phiên
tòa. Tại đơn trình bày, biên bản hòa giải, ông Nguyễn Trường P trình bày:
Tôi có thi công chống thấm và mua thêm tài sản đối với khối tài sản chung của bà
N, ông C, cụ thể số tài sản và giá trị tài sản thì tôi thống nhất chứng thư thẩm định g
số 430/2024/450 ngày 12/12/2024 của Công ty Cổ phần thẩm định giá dịch vụ tài chính
BTC Miền T: Thi công chống thấm là 129.770.973 đồng, phần mua thêm 142.921.443
đồng. Tổng cộng 272.687.083 đồng. Tôi đề nghị N ông C thối trả tôi giá trị tài sản
trên bằng tiền.
* Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Ngô Thanh H vắng mặt tại phiên
tòa. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 19/4/2024, đơn đề nghị xét xử vắng mặt ông trình
bày:
Tôi đang thuê Thửa đất số: 03-B34, tờ bản đồ số 00, diện tích: 112,5m
2
, địa chỉ:
03-B, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng của ông C bà N đã nhiều m nay đ
mở sở thiết kế thi công nội thất gỗ, tài sản trên đất là của tôi, tôi chỉ người thuê đất.
Nếu Tòa án giao đất này cho ai thì tôi sẽ liên hệ thuê lại. Trường hợp không cho thuê đất
nữa thì tôi sẽ di chuyển tài sản trên đất, trả lại mặt bằng. Tôi xác định việc giải quyết v
án không liên quan đến quyền nghĩa vụ của tôi. Tôi đề nghị Tòa án giải quyết vắng
mặt tôi theo quy định của pháp luật.
* Với nội dung vụ án như trên, tại bản án Hôn nhân gia đình thẩm số
33/2026/NHGĐ-ST ngày 16/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đà Nẵng đã
quyết định:
6
Căn cứ khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản
4 Điều 147, Điều 217, Điều 218, khoản 2 Điều 227 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân
sự.
Căn cứ Điều 207, Điều 208, Điều 210, Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án p và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N đối với ông Nguyễn C về việc
"Không công nhận vợ chồng".
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn C đối với Nguyễn
Thị N về việc “Chia tài sản chung”
Giao quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất tại: Thửa đất số 463, tờ bản đồ
số: 10, diện tích: 142,3m
2
, địa chỉ tại: 61-63 đường P, phường T, quận H, thành phố Đà
Nẵng (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với
đất số DC 9279XY, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CTs 2302XB do Sở Tài nguyên và
Môi trường thành phố Đà Nẵng cấp ngày 19/01/2022 đứng tên ông Nguyễn C
Nguyễn Thị N) gtrị 22.062.895.647 đồng cho N shữu, sử dụng. N quyền
liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu riêng
đối với tài sản được giao sau khi hoàn tất các nghĩa vụ.
Giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại: Thửa đất số 03-B34, tờ bản
đồ số 00, diện tích: 112,5m
2
, địa chỉ: 03-B34, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng
(Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với
đất số BA 6135XC do Ủy ban nhân dân quận L thành phố Đà Nẵng cấp ngày 19.4.2010
đứng tên ông Nguyễn C và bà Nguyễn Thị N) và Thửa đất số 428, tờ bản đồ số: 17, diện
tích: 120m
2
, địa chỉ tại: Lô 71-72 B2.1 đường C, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng
(Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với
đất số CK 3893XX do Sở Tài nguyên Môi trường thành phố Đà Nẵng cấp ngày
05/01/2018 đứng tên ông Nguyễn C Nguyễn Thị N) có tổng giá trị 19.076.511.589
đồng cho ông C sở hữu, sử dụng. Ông C quyền liên hệ với quan Nhà nước thẩm
quyền để làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu riêng đối với tài sản được giao sau khi hoàn
tất các nghĩa vụ.
Ông C, N mỗi người nghĩa vụ thanh toán cho anh Nguyễn Trường P số tiền
136.343.542 đồng.
Bà N có nghĩa vụ thanh toán số tiền 1.493.192.029 đồng cho ông C.
7
2. Án phí: Sung công quỹ nhà nước số tiền 300.000 đồng bà N đã nộp theo biên lai
thu số 0007065 ngày 05 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận H,
thành phố Đà Nẵng.
Bà N chịu án p DSST đối với phần tài sản được nhận là 128.433.360 đồng.
N chịu án phí DSST đối với nghĩa vụ tài sản thanh toán cho ông P 136.343.542
x 5 % = 6.817.177 đồng.
Ông C là người cao tuổi, đơn xin miễn án phí nên không chịu án phí đối với
phần giá trị tài sản được nhận, phần nghĩa vụ thanh toán cho ông P.
3. Chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định giá tài sản và chi phí xem xét thẩm định tại
chỗ là 83.000.000 đồng (tám mươi ba triệu đồng) do ông C nộp tạm ứng (đã nộp và đã
chi xong). Do ông C đã nộp tạm ứng phí định giá tài sản, xem xét thẩm định tại chỗ nên
bà N phải thanh toán cho ông Chánh số tiền 41.500.000 đồng.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án
của các đương sự.
* Sau khi xét xử thẩm Nguyễn Thị N ông Nguyễn Trường P đơn kháng
cáo đề nghị hủy Bản án Hôn nhân gia đình thẩm số 33/2026/HNGĐ-ST ngày
16/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đà Nẵng.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Trường P giữ nguyên
nội dung kháng cáo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho Nguyễn
Thị N phát biểu ý kiến và đề nghị HĐXX hủy bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm với lý
do Nguyễn Thị N ủy quyền cho Hoàng Thị T tham gia tố tụng nhưng Tòa án
cấp sơ thẩm không tống đạt giấy triệu tập cho bà T tống đạt giấy triệu tập cho bà N
là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông
Nguyễn C phát biểu ý kiến đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn
Thị N ông Nguyễn Trường P giữ nguyên nội dung bản án Hôn nhân gia đình
thẩm.
* Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà
Nẵng phát biểu về việc giải quyết vụ án như sau:
+ Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
ở giai đoạn phúc thẩm là đảm bảo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về quan điểm giải quyết: Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Thị N ông Nguyễn Trường P. Ginguyên
8
nội dung Bản án Hôn nhân gia đình thẩm số 33/2026/HNGĐ-ST ngày 16/01/2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đà Nẵng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi Đại diện Viện kiểm sát
phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về thủ tục tố tụng:
[1] Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai ông Ngô
Thanh H đến tham gia t tng tại phiên toà nhưng ông Ngô Thanh H vn vng mt nên
HĐXX căn cứ Điu 296 B lut t tng dân s đểt x vng mt Ông Ngô Thanh H.
[2] Về tư cách tham gia tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N đã đưc triu tp
hp l ln th hai vn vng mt không có do, Tòa án cấp thẩm căn cứ đim a
khoản 2 Điều 227 B lut T tng dân s đình ch yêu cu khi kin ca bà Nguyn Th
N đối vi b đơn ông Nguyễn C v việc “Không công nhận v chồng” là có căn cứ. Tòa
án cấp thẩm đã xác định lại cách người tham gia t tng, c thể: Nguyên đơn
ông Nguyn C, b đơn bà Nguyễn Th N; quan h pháp lut tranh chp là tranh chp dân
s v “Chia tài sản chung” là phù hợp. Tuy nhiên phần đầu của bản án dân sự thẩm
vẫn ghi: Nguyên đơn Nguyn Th N và b đơn ông Nguyn C là chưa chính xác nên
Toà án cấp phúc thẩm cần điều chỉnh lại nội dung này cho phù hợp.
* Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Trường P giữ nguyên
nội dung kháng cáo đnghị hủy Bản án Hôn nhân gia đình thẩm với do
Nguyễn Thị N y quyền cho Hoàng Thị T tham gia tố tụng nhưng Tòa án cấp thẩm
không tống đạt giấy triệu tập cho T tống đạt giấy triệu tập cho N vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Xét kháng cáo của các đương sự thì thấy:
[3] Tại Đơn khởi kiện ngày 09/11/2022 bà Nguyễn Thị N yêu cầu Tòa án Tuyên
bố bà ông Nguyễn C không phải vchồng; thừa nhận ông C tài sản
chung như Đơn khởi kiện của ông C, ngoài ra ông C còn một số tài sản chung khác
đứng tên ông C nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh nên Tòa án cấp
sơ thẩm chỉ thụ lý yêu cầu “không công nhận vợ chồng” n về tài sản chung bà N sẽ
yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ án.
Ngày 09/8/2025 N Đơn yêu cầu bsung về việc phân chia tài sản giữa
và ông C; Ngày 14/8/2025 Tòa án cấp sơ thẩm ra Thông báo số 02/TB-TA yêu cầu sửa
đổi, bổ sung đơn yêu cầu bổ sung và đã giao cho bà N; Do N không bổ sung đơn theo
9
yêu cầu nên ngày 29/9/2025 Tòa án cấp sơ thẩm ra Thông báo số 02/TB-TA trả lại đơn
khởi kiện bổ sung. Sau khi nhận thông báo này N không khiếu nại, thắc mắc .
Như vậy Tòa án cấp sơ thẩm chỉ thụ lý giải quyết yêu cầu không công nhận bà Nông
C là vợ chồng.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 85 của Bộ luật tố tụng dân sự thì: “... đối với việc
ly hôn đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng
...” nên Tòa án cấp thẩm tống đạt trực tiếp cho N không tống đạt cho người
được ủy quyền là đúng quy định của pháp luật.
Do vậy, bà N và ông P cũng như Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà
N cho rằng không tống đạt giấy triệu tập cho người được ủy quyền của bà N là vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng và yêu cầu hủy bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm là không
có cơ sở nên HĐXX không chấp nhận.
[4] Đối với cầu chia tài sản chung của ông Nguyễn C Nguyễn Thị N: Ông
C và bà N thống nhất xác định ông bà có tài sản chung là:
+ Nhà và đất tại thửa đất số 428, tờ bản đồ số 17, diện tích 120m², địa chỉ Lô 71-
72 B đường C, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 3893XX do Sở Tài
nguyên Môi trường thành phố Đà Nẵng cấp ngày 05.01.2018 đứng tên ông Nguyễn
C và bà Nguyễn Thị N.
+ Nhà đất tại thửa đất số 463, tờ bản đồ s10, diện tích 142,3m², địa chỉ 61 -
63 đường P, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 9279XY do Sở Tài
nguyên Môi trường thành phố Đà Nẵng cấp ngày 19.01.2022 đứng tên ông Nguyễn
C và bà Nguyễn Thị N.
+ Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 03-B, tờ bản đồ số 00, diện tích 112,5m², địa
chỉ 03-B, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 6135XC do Ủy ban
nhân dân quận L thành phố Đà Nẵng cấp ngày 19.4.2010 đứng tên ông Nguyễn C và bà
Nguyễn Thị N.
Ông C yêu cầu chia đôi các tài sản chung này còn N yêu cầu được hưởng 7
phần, ông C 3 phần. Xét yêu cầu chia các tài sản chung của các đương sự thì thấy: Quá
trình giải quyết vụ án, các bên không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh công
sức đóng góp trong việc tạo lập khối tài sản chung nên Tòa án cấp sơ thẩm đã chia cho
ông C N, mỗi người được nhận ½ khối tài sản chung là phù hợp quy định tại các
Điều 207, 208, 210, 219 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
10
Theo chứng thư thẩm định giá số 430/2024/450 ngày 12/12/2024 của Công ty Cổ
phần thẩm định giá dịch vụ tài chính BTC Miền T thì:
- Thửa đất số 03-B34, tờ bản đồ số 00, diện tích: 112,5m2 tại địa chỉ: Lô 03-B34,
phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng có giá trị 6.272.214.525 đồng;
- Nhà đất tại địa chỉ Lô 71-72 B2.1 đường C (Số 67- 69 đường C), phường T,
quận H, thành phố Đà Nẵng có giá trị 12.804.297.064 đồng;
- Nhà đất tại địa chỉ 61- 63 đường P, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng
có giá trị 22.062.895.647 đồng.
Tổng giá trị quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất 41.139.407.236 đồng.
Do vậy, giá trị tài sản chung ông C, bà Nmỗi người được nhận là (41.139.407.236 đồng
: 2) = 20.569.703.618 đồng.
[5] Ngoài ra, ông Nguyễn Trường P có thi công chống thấm là 129.770.973 đồng
và mua thêm tài sản có giá trị là 142.921.443 đồng, tổng cộng 272.687.083 đồng. Ông P
có nguyện vọng nhận lại tài sản bằng tiền trị giá 272.687.083 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm
buộc ông C N mi người trách nhim tr cho anh Nguyễn Trường P ½ tương
ng s tiền 136.343.542 đồng là phù hp.
Giá trị tài sản chung ông C, bà N mỗi người được nhận sau khi thối trả cho ông P
là 20.569.703.618 đồng – 136.343.542 đồng = 20.433.360.076 đồng.
[6] Về chia tài sản chung bằng hiện vật: Xét thấy nhà đất tại địa chỉ 61 - 63
đường P, thành phố Đà Nẵng hiện N, ông P kinh doanh dịch vụ thuê nhà để mẹ con
có khoản tiền sinh sống, do đó để không làm xáo trộn đảm bảo cuộc sống của
N cần giao N nhn 01 tài sản chung Nhà, đất tại địa ch 61- 63 đường P, phường T,
qun H, thành ph Đà Nng vi giá tr 22.062.895.647 đồng; Giao ông C đưc nhn
02 tài sn chung Thửa đt tại địa ch: 03-B34 phường H, qun L, thành ph Đà
Nẵng Nhà, đất tại địa ch 67- 69 đường C, phường T, qun H, thành ph Đà Nẵng vi
tng giá tr 19.076.511.589 đng buộc N nghĩa vụ thi tr cho ông C s tin
1.493.192.029 đồng (20.569.703.618 đồng - 19.076.511.589 đồng) như Tòa án cấp
thẩm đã phân chia là phù hp.
[7] Đối với ý kiến của bà Nguyễn Thị N về việc yêu cầu chia tài sản đứng tên ông
Nguyễn C là:
+ Ô tô nhãn hiệu BMW biển số 43A 128-XX đăng ký vào ngày 14/11/2014 đứng
tên ông Nguyễn C;
+ Nhà đất địa chỉ 168 đường C, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B06321X1 do Sở Tài nguyên Môi trường
thành phố Đà Nẵng cấp ngày 05/9/2013 đứng tên ông Nguyễn C;
+ Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 159, tờ bản đồ số 3, địa chỉ Lô 77, khu B
11
(giai đoạn 1) - Khu dân Nam cầu C, H, huyện H, thành phố Đà Nẵng do UBND
huyện H, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 13/11/2020 thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn
C;
+ Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 161, tờ bản đồ số 3, địa chỉ Lô 79, khu B
(giai đoạn 1) - Khu dân Nam cầu C, H, huyện H, thành phố Đà Nẵng do UBND
huyện H, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 13/11/2020 thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn
C;
+ Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 80, tờ bản đồ số 3, địa chỉ Lô 80, khu B
(giai đoạn 1) - Khu dân Nam cầu C, H, huyện H, thành phố Đà Nẵng do Sở Tài
nguyên và Môi trường thành phố Đà Nẵng cấp ngày 21/3/2016 thuộc quyền sở hữu của
ông Nguyễn C;
+ Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 160, tờ bản đồ số 3, địa chỉ Lô 78, khu B
(giai đoạn 1) - Khu dân Nam cầu C, H, huyện H, thành phố Đà Nẵng do UBND
huyện H, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 13/11/2020 thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn
C.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã có Thông báo yêu cầu bà N sửa đổi, bổ sung
đơn khởi kiện chia các tài sản nêu trên, đã hết thời hạn bà N không sửa đổi, bổ sung nên
Tòa án đã ra Thông báo trả đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung, N không khiếu nại, nên
không có cơ sở xem xét yêu cầu của N. Trường hợp bà N chứng minh được có quyền
khởi kiện đối với các tài sản đó thì có thể khởi kiện vụ án dân sự khác.
[8] Đối với việc kinh doanh cho thuê các tài sản chung của ông C, bà N trong vụ án
này, các bên đương sự không phát sinh tranh chấp gì, trường hợp tranh chấp thì
thể khởi kiện vụ án dân sự khác.
Từ những phân tích trên, HĐXX thấy Toà án cấp thẩm chấp nhận một phần
yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn C căn cứ. Do vậy, HĐXX không chấp nhận
kháng cáo của bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Trường P; giữ nguyên nội dung Bản án
Hôn nhân gia đình thẩm số 33/2026/HNGĐ-ST ngày 16/01/2026 của Tòa án nhân
dân Khu vực 1 - Đà Nẵng như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố
Đà Nẵng tại phiên tòa.
Xét lời đề nghị của Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn C
phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Xét lời đề nghị của Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Nguyễn Thị
N không phù hợp với nhận định của HĐXX nên không chấp nhận.
[9] V án phí:
[9.1] Về án phí dân sự sơ thẩm:
12
- Sung công quỹ nhà nước stiền 300.000 đồng Nguyễn Thị N đã nộp theo
biên lai thu số 0007065 ngày 05 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự
quận H, thành phố Đà Nẵng (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 - Đà Nẵng).
- Do Nguyễn Thị N và ông Nguyễn C, mỗi người được chia tài sản chung có giá
trị 20.433.360.076 đồng nên mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 112.000.000
đồng + (0,1% x 16.433.360.077) = 128.433.360 đồng.
- Do bà Nguyễn Thị N ông Nguyễn C, mỗi người nghĩa vụ thanh toán cho
ông P số tiền 136.343.542 nên mỗi người phi chu án phí dân s thẩm (136.343.542
x 5 %) = 6.817.177 đng.
Tuy nhiên, ông Nguyễn C là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên căn cứ
điểm đ khoản 1 Điều 12 của Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lýsử dụng án phí và
lệ phí Tòa án để miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn C.
[9.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên bà Nguyễn
Thị N ông Nguyễn Trường P, mỗi người phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000
đồng, nng đưc trừ vào stin tm ứng án phí bà Nguyễn ThN đã nộp 300.000 đồng
theo biên lai thu số 0001437 trừ vào s tin tạm ng án phí ông Nguyn Tng P đã nộp
300.000 đồng theo biên lai thu số 0001436 cùng ngày 09/02/2026 tại Thi hành án dân
sự thành phố Đà Nẵng.
[10] Về chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định giá tài sản chi phí xem xét thẩm định
tại chỗ tổng cộng 83.000.000 đồng (tám mươi ba triệu đồng) ông Nguyễn C và bà
Nguyễn Thị N mỗi người phải chịu 41.500.000 đồng, nhưng ông Nguyễn C đã nộp
tạm ứng số tiền 83.000.000 đồng (Đã nộp đã chi xong) nên Nguyễn Thị N nghĩa
vụ trả lại cho ông Nguyễn C số tiền 41.500.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 296 và khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ Điều 207, Điều 208, Điều 210, Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội
về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Trường P; giữ
nguyên nội dung Bản án Hôn nhân gia đình thẩm số 33/2026/HNGĐ-ST ngày
16/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đà Nẵng.
Xử:
13
1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị N đối với ông Nguyễn C về việc
"Không công nhận vợ chồng”.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn C đối với Nguyễn
Thị N về việc “Chia tài sản chung”.
2.1. Giao quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất tại: Thửa đất s463, tờ bản
đồ số: 10, diện tích: 142,3m
2
, địa chỉ tại: 61-63 đường P, phường T, quận H, thành phố
Đà Nẵng (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nvà tài sản gắn liền
với đất số DC 9279XY, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CTs 2302XB do Sở Tài nguyên
và Môi trường thành phố Đà Nẵng cấp ngày 19/01/2022 đứng tên ông Nguyễn C và bà
Nguyễn Thị N) có giá trị 22.062.895.647 đồng cho bà Nguyễn Thị N sở hữu, sử dụng.
Nguyễn Thị N có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước thẩm quyền để làm
thủ tục đăng ký quyền sở hữu riêng đối với tài sản được giao sau khi hoàn tất các nghĩa
vụ.
2.2. Giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại: Thửa đất số 03-B34, tờ
bản đồ số 00, diện tích: 112,5m
2
, địa chỉ: Lô 03-B34, phường H, quận L, thành phố Đà
Nẵng (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số BA 6135XC do Ủy ban nhân dân quận L thành phố Đà Nẵng cấp ngày
19/4/2010 đứng tên ông Nguyễn C và bà Nguyễn Thị N) Thửa đất số 428, tờ bản đồ
số: 17, diện tích: 120m
2
, địa chỉ tại: 71-72 B2.1 đường C, phường T, quận H, thành
phố Đà Nẵng (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác
gắn liền với đất số CK 3893XX do Sở Tài nguyên Môi trường thành phố Đà Nẵng
cấp ngày 05/01/2018 đứng tên ông Nguyễn C Nguyễn Thị N) tổng giá trị
19.076.511.589 đồng cho ông Nguyễn C sở hữu, sử dụng.
Ông Nguyễn C quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ
tục đăng ký quyền sở hữu riêng đối với tài sản được giao sau khi hoàn tất các nghĩa vụ.
2.3. Ông Nguyễn C, bà Nguyễn Thị N mỗi người có nghĩa vụ thanh toán cho ông
Nguyễn Trường P số tiền 136.343.542 đồng (Một trăm ba mươi sáu triệu ba trăm bốn
mươi ba nghìn năm trăm bốn mươi hai đồng);
2.4. Bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn C số tiền
1.493.192.029 đồng (Một tỷ bốn trăm chín mươi ba triệu một trăm chín mươi hai nghìn
không trăm hai mươi chín đồng).
Kể tngày án hiệu lực pháp luật, người được thi hành án đơn yêu cầu
người thi hành án không thi hành tphải trả khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương
ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với
quy định của pháp luật; nếu không thỏa thuận vmức lãi suất thì quyết định theo mức
lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
14
3. V án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
+ Sung công quỹ nhà nước số tiền 300.000 đồng Nguyễn Thị N đã nộp theo
biên lai thu số 0007065 ngày 05 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự
quận H, thành phố Đà Nẵng (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 - Đà Nẵng).
+ Án phí dân sthẩm về việc chia tài sản chung Nguyễn Thị N và ông Nguyễn
C, mỗi người phải chịu là 128.433.360 đồng.
+ Án phí dân sthẩm về việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn
Trường P, bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn C, mỗi người phải chịu là 6.817.177 đồng.
+ Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn C.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Án phí dân sthẩm bà Nguyễn Thị N ông
Nguyễn Trường P, mỗi người phải chịu là 300.000 đồng, nhưng đưc tr vào stin tm
ng án phí Nguyễn Thị N đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001437 trừ
vào stiền tmng án phí ông Nguyn Trưng P đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu
số 0001436 cùng ngày 09/02/2026 tại Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
4. Về chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định giá tài sản và chi phí xem xét thẩm định
tại chỗ tổng cộng 83.000.000 đồng (tám mươi ba triệu đồng) ông Nguyễn C
Nguyễn Thị N mỗi người phải chịu 41.500.000 đồng, nhưng ông Nguyễn C đã nộp
tạm ứng số tiền 83.000.000 đồng (Đã nộp đã chi xong) nên bà Nguyễn Thị N nghĩa
vụ trả lại cho ông Nguyễn C số tiền 41.500.000 đồng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân
sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án quyền thỏa thuận thi hành án,
quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hánh án theo quy
định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- TA-ND Khu vực 1 - Đà Nẵng;
- Phòng THADS Khu vực 1;
- VKSND TP. Đà Nẵng;
- Lưu: Hồ sơ vụ án (1b), Tổ nghiệp vụ -
Văn phòng (1b).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký và đóng dấu)
Vũ Việt Dũng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 15/2026/HNGĐ-PT Bản án số 15/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 15/2026/HNGĐ-PT Bản án số 15/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất