Bản án số 247/2022/DS-ST ngày 28-06-2022 của TAND TX. Hoài Nhơn (TAND tỉnh Bình Định) về tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 247/2022/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 247/2022/DS-ST ngày 28-06-2022 của TAND TX. Hoài Nhơn (TAND tỉnh Bình Định) về tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TX. Hoài Nhơn (TAND tỉnh Bình Định)
Số hiệu: 247/2022/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/06/2022
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Phan Thị S và Trần Văn D tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HOÀI NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bản án số: 247/2022/DS-ST
Ngày 28-6-2022
V/v tranh chấp về quyền sử dụng đất,
tranh chấp về bồi thường thiệt hại do tài
sản bị xâm phạm.
CỘNG HÒA HỘI CHNGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh pc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hồng Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Văn Siêng
2. Ông Nguyễn Hữu Tố
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân
thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân n thị Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Trường Minh Lý Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2022
tại Tòa án nhân dân thị Hoài Nhơn, tỉnh
Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2019/TLST-DS ngày 24
tháng 12 năm 2019 về việc Tranh chấp về quyền sdụng đất, tranh chấp về bồi
thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
159/2022/QĐXX-ST ngày 08 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Phan Thị S, sinh năm 1962, địa chỉ: Thôn X, xã H, thị
xã H, tỉnh B (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Trần Văn D, sinh năm 1964, địa chỉ: Thôn X, H, th
H, tỉnh B.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Trần Văn D: Chị Nguyễn Tường
V, sinh năm 1999, địa chỉ: Khu phố x, phường T, thị H, tỉnh B, là người đại
diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền được Phòng Công chứng số 2 tỉnh Bình
Định, địa chỉ: Số nhà 170, Đường Quang Trung, phường Bồng Sơn, thị Hoài
Nhơn, tỉnh Bình Định công chứng số 3649 ngày 23/6/2022) (có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trần Văn B, sinh năm 1987, địa chỉ: Thôn X, xã H, thị xã H, tỉnh B
(có mặt).
2
- Trần Thị Đ, sinh năm 1968, địa chỉ: Thôn X, H, thị H, tỉnh B
(có mặt).
- Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
Người đại diện hợp pháp của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy
ban nhân dân Hoài Mỹ: Ông Nguyễn T - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H
(đề nghị giải quyết vắng mặt).
4. Người làm chứng:
- Ông Võ Xuân B, sinh năm 1964, địa chỉ: Thôn X, xã H, thị xã H, tỉnh B.
- Anh Trần Quốc Th, sinh năm 1986, địa chỉ: Thôn XK, H, thị H,
tỉnh B.
- Ông Thanh L, sinh năm 1962, địa chỉ: Thôn X, H, thị H, tỉnh
B.
- Anh Lê Duy N, sinh năm 1986, địa chỉ: Thôn X, xã H, thị xã H, tỉnh B.
(Người làm chứng đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 06/3/2019, đơn khởi kiện bổ sung ngày
16/10/2019, trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, nguyên đơn
Phan Thị S trình bày:
Nguyên thửa đất diện tích khoảng 2000m
2
tục danh Trũng Thương
(nay là lô xx, yy khoảnh x tiểu khu xxb, diện tích đo đạc thực tế là 2122,9m
2
) tại
thôn X, H nguồn gốc của cha chồng là ông Trần S (trích lục nhưng
đã thất lạc). Sau năm 1975, ông Trần S cho vợ chồng , cho bằng lời nói chứ
không giấy tờ gì. Khoảng những năm 1977 - 1978, vợ chồng canh tác
làm nhà ở trên đất. Đến năm 1985, do điều kiện khổ cực, đau bệnh nên vợ chồng
chuyển đến nơi khác nhưng vẫn trồng trọt, canh tác sử dụng đất. Đến năm
1999, ông D tự ý sử dụng thửa đất hai bên tranh chấp từ đó đến nay. Chính
quyền đã giải quyết nhưng không có kết quả. Trong thời gian sử dụng đất, ông D
đã chặt phá toàn bộ số cây trái vợ chồng bà đã trồng gồm: 06 cây dừa, 06 cây
mít, 02 cây cam, 02 cây xoài, 04 cây ổi. Tnăm 2006 đến nay, ông D chiếm
đất, bà không canh tác được nên thiệt hại về kinh tế. Nay bà S yêu cầu ông D:
+ Trả lại thửa đất có diện tích 2122,9m
2
thuộc lô xx, yy khoảnh x tiểu khu
xxb thôn X, xã H.
+ Bồi thường thiệt hại về tài sản là số cây ông D đã chặt phá với số tiền
13.000.000 đồng.
+ Bồi thường thiệt hại do không sử dụng được đất là 45.000.000 đồng.
Hiện trạng thửa đất có tranh chấp không thay đổi gì so với lúc định giá,
không yêu cầu định giá lại. Con trai bà là anh B vì bức xúc việc ông D trồng cây
3
trên đất của gia đình nên có nhổ một số cây. Riêng không nhổ cây của ông D
nên không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của ông D.
- Tại đơn khởi kiện ngày 04/3/2019, bản tự khai, trong quá trình giải
quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn D trình bày tại phiên tòa, chị Nguyễn
Tường V người đại diện theo y quyền của bị đơn ông Nguyễn Văn D trình
bày:
Thửa đất tục danh Trũng Thương ti thôn Xuân Vinh Hoài M (lô
xx, yy khoảnh x tiểu khu xxb) trước đây đất hoang. Đến m 1990, ông chặt
cây chồi đ bán cho lò gạch, sau đó tiếp tục khai hoang, canh tác trồng m, lang,
mía... nhưng không được cp giấy chng nhận quyn s dụng đất. Đến năm
2002, được Ban quản rừng phòng h thị Hoài Nhơn giao khoán cho h gia
đình ông để sản xut trồng rừng gia đình ông canh tác đến nay. đất
hoang nên không y cối như S khai ông cũng không chặt dừa, mít như
S nói. Đất ông khai hoang, không cây cối của bà S, được Nhà nước giao
khoán cho gia đình ông sử dụng 50 năm nên ông không chp nhận yêu cầu đòi
đất đòi bồi thường thiệt hại của bà S. Hiện trạng thửa đất có tranh chấp không
thay đổi gì so với lúc định giá, ông không yêu cầu định giá lại.
Tháng 01/2018, v chồng ông trng cây keo lai tại đất rừng nói trên. Đến
ngày 10/7/2018, bà S và anh B nh s keo lai ông đã trồng vi s lượng 860 cây.
Ngày 11/7/2018, Công an H lập biên bản s việc, đến ngày 24/8/2018, ng
an H lập biên bn giải quyết v việc nhưng không kết qu. Việc S
anh B nh y đã gây thiệt hại v tài sn cho ông. Cây bị nhổ cao khoảng 70cm,
trồng được vài tháng, giá trị khoảng 30.000 đồng/cây. Nay ông D yêu cu
S anh B phải bồi thường thiệt hại cho ông với s tin 30.000.000 đồng,
trong đó, S phải bồi thường số tiền 10.000.000 đồng, anh B phải bồi thường
số tiền 20.000.000 đồng.
- Tại bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
+ Anh Trần Văn B trình bày:
V ngun gốc đất tranh chp như bà S đã trình bày là đúng. Anh không
đồng ý với ý kiến của ông D cho rằng được lâm trường giao đất 50 năm. Trên
đất có cây cối của cha mẹ anh nhưng đã bị ông D đào, chặt phá không còn.
Anh thừa nhận, ngày 05/7/2018 nh khoảng 200 - 300 cây keo do ông
D trồng trên đất của gia đình anh. Cây ông D trồng một số đã bị chết nên số
lượng mà ông D cho rằng anh nhổ không đúng. Cây bị anh nhổ là cây keo lai,
mới trồng khoảng 01 tháng, cao khoảng 40cm, giá trị thời điểm nh 700
đồng/cây. Bà S không nhổ cây của ông D. ông D trồng cây trên đất của gia
đình anh nên anh B không chp nhận bồi thường.
+ Bà Trần Thị Đ trình bày: Bà thng nht theo ý kiến yêu cu của ông
D. Vợ chồng trồng cây keo lai ttháng 02/2018 nên đến lúc bị nhổ cây đã
lớn, vợ chồng tính giá cây đã lớn đến nay theo giá thị trường đyêu cầu S
anh B bồi thường. Sau khi cây bị nhổ, Công an H đã đến kiểm tra hiện
4
trường, kiểm đếm số cây, anh B đã được công an thông qua biên bản, ký tên nên
anh B nói chỉ nhổ 200-300 cây là không đúng.
+ Tại Biên bản làm việc ngày 14/8/2020, Ủy ban nhân dân H ý
kiến:
Theo hồ sơ đất đai do Ủy ban nhân dân xã H quản lý thì thửa đất số xxx tờ
bản đồ số 10 (Bản đồ 299) diện tích 1125m
2
loại đất hoang. Đo đạc theo bản đồ
VN2000, đổi thành thửa đất số xxx tờ bản đồ số 29 diện tích 3700m
2
loại đất
trồng cây hàng năm khác do Ủy ban nhân dân xã H quản lý.
Trước năm 2014, trước khi Ủy ban nhân dân huyện Hoài Nhơn (nay thị
Hoài Nhơn) kết luận thanh tra thì Ủy ban nhân dân Hoài Mỹ không
thực hiện quản đối với đất rừng thuộc xx, yy khoảnh x tiểu khu xxb. Sau
khi kết luận thanh tra, địa phương mới bắt đầu xây dựng phương án quản lý.
Năm 2010, khi Bản quản lý rừng phòng hộ huyện Hoài Nhơn (nay là thị xã Hoài
Nhơn, sau đây gọi tắt Ban quản rừng phòng hộ) bàn giao đất lâm nghiệp
cho địa phương quản lý, sử dụng, việc bàn giao không rõ. Sau khi Ủy ban nhân
dân huyện Hoài Nhơn kết luận thanh tra thì Bản quản rừng phòng hộ mới
cung cấp danh sách, bàn giao hồ đất rừng tại tiểu khu xxb cho Ủy ban nhân
dân H lập hồ quản lý. Riêng đối với đất rừng đã giao khoán cho hộ ông
Trần Văn D chưa được Ban quản rừng phòng hộ thanh nên địa phương
chưa lập hồ quản lý. Khi ông D S phát sinh tranh chấp, Ủy ban nhân
dân xã H chưa có hồ sơ quản lý nên chuyển đơn đến Ban quản lý rừng phòng hộ,
lúc này Ban quản rừng phòng hộ mới văn bản thông báo về việc chấm dứt
giao khoán. Ban quản rừng phòng hộ bàn giao đất tài sản nên Ủy ban
nhân dân H chưa tác động để quản đối với đất rừng thuộc xx, yy
khoảnh x tiểu khu xxb. Hiện nay, thửa đất này đang tranh chấp nên Ủy ban
nhân dân xã H cũng chưa thực hiện việc quản lý, sử dụng.
Việc ông D đang trực tiếp sử dụng đất để trồng cây việc xử đối với
tài sản trên đất, Ủy ban nhân dân H đề nghị Tòa án giải quyết theo qui
định của pháp luật.
- Tại biên bản lấy lời khai, người làm chứng trình bày:
+ Ông Xuân B trình bày: Thời điểm tháng 7/2018, ông Công an
viên Công an xã H. Ngày 11/7/2018, khi nhận được tin báo của ông D về việc
nhổ cây trên đất rừng, ông đến hiện trường kiểm tra và lập biên bản sự việc. Sau
đó vài ngày, ông ng ông Th đến lập biên bản kiểm tra hiện trường ngày
16/7/2018. Biên bản chỉ ghi nhận các cây bị nhổ, không ghi nhận ai là người nhổ
cây.
+ Ông Trần Quốc Th trình bày: Thời điểm tháng 7/2018, ông Phó
trưởng Công an xã H. Ngày 11/7/2018, khi nhận được tin báo của ông D về việc
nhổ cây trên đất rừng, ông B đến hiện trường kiểm tra lập biên bản sự việc.
Sau đó, ông đến hiện trường lập biên bản kiểm tra hiện trường ngày
16/7/2018, khi lập biên bản chỉ xác định số cây bị nhổ chứ xác định ai người
nhổ cây.
5
+ Ông Thanh L trình bày: Ông không quan hệ con gì với ông D
S. Năm 2018, ông là Trưởng thôn X. Ông được biết phần đất đang tranh
chấp trước đây là của gia đình S nhưng sau đó sinh sống không được nên
chuyển đi nơi khác và ông D đã canh tác trên phần đất của bà S. Về việc nhổ cây
như biên bản vụ việc ngày 11/7/2018, số lượng cây đã được Công an xã kiểm
đếm, ông đại diện cho địa phương ký vào biên bản, ngoài ra không biết gì khác.
+ Ông Lê Duy N trình bày: Ông không có quan hệ bà con gì với ông D và
S. Năm 2018, ông Trưởng Công an H. Sau khi nhận được thông tin vụ
việc, ngày 24/8/2018 ông cùng các đồng chí công an thành lập tgiải quyết
ra biên bản giải quyết vụ việc ngày 24/8/2018. Nội dung dung vụ việc như
biên bản đã thể hiện, ý kiến của các bên đã có trong biên bản, ông không trình
bày gì thêm.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân n thị Hoài Nhơn, tỉnh Bình
Định: Về thủ tục nhận xử đơn khởi kiện của Thẩm phán chưa thực hiện
đúng qui định. Về xác định quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, việc tiến
hành tố tụng của Thẩm phán, Thư Tòa án đúng theo qui định. Vụ án quá
thời hạn chuẩn bị xét xử, vi phạm qui định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân
sự. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa
của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể tkhi thụ cho
đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo qui định. Về việc giải
quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Không chấp nhận yêu cầu của S về buộc ông D trả lại đất, bồi
thường thiệt hại cây cối 13.000.000 đồng bồi thường thiệt hại do không
đất sử dụng là 45.000.000 đồng.
+ Chấp nhận một phần yêu cầu của ông D yêu cầu S anh B liên đới
bồi thường thiệt hại 860 cây keo lá tràm, theo giá 14.000 đồng/cây.
+ Về án phí: S anh B phải chịu theo qui định. Ông D phải chịu án
phí tương ứng với phần yêu cầu không được chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn
khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất với bị đơn, yêu cầu bị đơn bồi thường
thiệt hại về tài sản. Bị đơn yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn yêu cầu độc
lập đối với người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, yêu cầu bồi thường thiệt hại
về tài sản. vậy, quan hệ pháp luật được xác định tranh chấp về quyền sử
dụng đất, tranh chấp về bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. Bị đơn
trú đất tranh chấp tại Hoài Mỹ, thị Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định nên
theo qui định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật
Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định thẩm
quyền giải quyết vụ án.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự người làm chứng: Đại diện Ủy ban
nhân dân xã H người làm chứng đề nghị xét xử vắng mặt. Theo qui định tại
6
khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét x
vắng mặt người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân H
người làm chứng.
[3] Về các yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn:
[3.1] Đối với tranh chấp về quyền sử dụng đất: Diện tích 2122,9m
2
đất lâm
nghiệp mà bà S tranh chấp với ông D thuộc một phần lô x khoảnh x tiểu khu xxb
thôn X, H. Theo Bản đồ 299 thì diện tích này thuộc thửa đất số xxx tờ bản đồ
số 10, loại đất hoang. Khi đo đạc theo Bản đồ VN2000, đổi thành thửa đất số
xxx tờ bản đồ số 29 diện tích 3700m
2
loại đất trồng cây hàng năm khác do Ủy
ban nhân dân xã H quản lý. Ngày 10/6/2002, ông D đơn xin nhận khoán đất
lâm nghiệp được Ban quản rừng phòng hộ Hoài Nhơn chấp thuận giao
khoán cho hộ ông D tại x, x khoảnh x tiểu khu xxb (Theo Hợp đồng số
xx/HĐK). Ngày 02/8/2010, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định ban nh Quyết
định số 350/QĐ-UBND về việc thu hồi đất do Ban quản rừng phòng hộ Hoài
Nhơn đang quản lý và giao cho địa phương quản lý, trong đó có lô x, x khoảnh x
tiểu khu xxb đã giao khoán cho ông D. Ngày 29/11/2010, Ban quản rừng
phòng hộ Hoài Nhơn và Phòng Tài nguyên môi trường huyện (nay thị xã)
Hoài Nhơn đã tiến hành bàn giao cho Ủy ban nhân dân Hoài Mỹ quản lý.
Hiện nay, diện tích lô x, x khoảnh x tiểu khu xxb chưa giao đất hoặc cho thuê đất
cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình nào do Ủy ban nhân dân xã Hoài Mỹ quản
theo phương án được Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) Hoài Nhơn phê
duyệt tại Quyết định số 412/QĐ-UBND ngày 02/3/2010. Như vậy, diện tích đất
S tranh chấp đất lâm nghiệp từ trước đến nay thuộc quản của Ban
quản lý rừng phòng hộ Hoài Nhơn và Ủy ban nhân dân xã Hoài Mỹ. Do đó, bà S
không có quyền khởi kiện theo qui định tại Điều 186 của Bộ luật Tố tụng dân sự
để tranh chấp quyền sử dụng đất. Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật
Tố tụng dân sự, đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu tranh chấp về quyền sử dụng
diện tích 2122,9m
2
đất lâm nghiệp thuộc một phần lô x khoảnh x tiểu khu xxb
thôn Xuân Vinh, Hoài Mỹ.
[3.2] Về yêu cầu bồi thường thiệt hại: S không chứng minh được thiệt
hại do không sử dụng được đất có thật và như đã nhận định tại mục [3.1], bà S
không quyền, lợi ích hợp pháp đối với diện tích 2122,9m
2
đất lâm nghiệp
thuộc một phần lô x khoảnh x tiểu khu xxb thôn Xuân Vinh, xã Hoài Mỹ nên
cho rằng bị thiệt hại số tiền 45.000.000 đồng là không có căn cứ. Về số cây bà S
cho rằng ông D đã chặt phá: Qua đo đạc định giá thấy rằng không số cây này
tồn tại trên đất, ông D không thừa nhận bà S cây trên đất không thừa nhận
đã chặt cây, S cũng không tài liệu, chứng cứ chứng minh việc ông D chặt
cây đúng sự thật. vậy, không sở để chấp nhận yêu cầu bồi thường
thiệt hại của bà S đối với ông D.
[4] Về yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập của bị đơn:
[4.1] S không thừa nhận đã nhổ cây keo của ông D, việc ghi nhổ cây
tại “Đơn yêu cầu khiếu nại ngày 04/9/2018” do nhầm lẫn. Anh B chỉ thừa
nhận nhổ khoảng 200-300 cây. Ông D nộp các biên bản liên quan đến việc nhổ
7
cây nhưng bản photocopy không giao nộp được bản sao hợp lệ. Qua xác
minh tại Công an H thì các biên bản này hiện không còn lưu giữ. Nội dung
các biên bản này cũng không thể hiện được ai là người nhổ cây, cụ thể: Biên bản
vụ việc do Công an viên xã H lập ngày 11/7/2018 không có chữ ký của người vi
phạm. Biên bản kiểm tra hiện trường do Công an H lập ngày 16/7/2018 chỉ
ghi nhận số cây bị nhổ 860 cây nhưng không xác định được ai nhổ, không có
người nhổ cây tên. Biên bản giải quyết vụ việc ngày 24/8/2018 do Công an
H ghi nhậnS trình bày con nhổ cây nhưng không xác định rõ scây
bị nhổ. Những người làm chứng cũng xác định nội dung sự việc ncác biên
bản đã lập, không xác định được ai người nhổ cây của ông D. Do đó, không
có căn cứ để xác định bà S và anh B đã nhổ 860 cây keo lai của ông D. Hội đồng
xét xử không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông D vviệc buộc S phải bồi
thường số tiền 10.000.000 đồng.
[4.2] Theo sự thừa nhận của anh B, xác định ngày 26/5/2018 âm lịch, anh
B nhổ của ông D khoảng 300 cây keo lai là đúng sự thật. Ông D cho rằng cây
keo lai bnhổ cây trồng được 6 tháng, giá trị 30.000 đồng/cây nhưng không
được anh B chấp nhận, khi định giá tài sản số cây này không còn, ông D cũng
không chứng minh được điều này nên không có cơ sở để xác định đây là sự thật.
Mặt khác, nội dung Biên bản vụ việc do Công an viên xã H lập ngày 11/7/2018
đã ghi nhận qua sự trình bày của vợ chồng ông D thì rẫy keo trồng khoảng 45
ngày. Như vậy, sở để xác định scây anh B nhổ loại cây keo lai mới
trồng như anh B thừa nhận là đúng.
[4.3] Ông D trồng cây trong thời gian đất chưa được Ủy ban nhân dân
H tác động quản lý, Ban quản rừng phòng hộ Hoài Nhơn chưa thanh hợp
đồng giao khoán, không bị quan nào lập biên bản vi phạm. Do đó, anh B nhổ
cây keo lai của ông D xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp, gây thiệt hại về
tài sản cho ông D nên anh B phải bồi thường thiệt hại. vậy, chấp nhận một
phần yêu cầu của ông D, buộc anh B phải bồi thường số tiền 3.000.000 đồng
(300 cây keo lai mới trồng x 10.000 đồng/cây). Không chấp nhận phần yêu cầu
của ông D, buộc anh B phải bồi thường số tiền 20.000.000 đồng vì không có căn
cứ.
[5] Về chi phí định giá tài sản: Bà S phải chịu chi phí định giá tài sản
1.500.000 đồng.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:
[6.1] Bà S được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp đối với yêu cầu tranh
chấp về quyền sử dụng đất đã đình chỉ giải quyết và phải chịu án phí đối với yêu
cầu bồi thường thiệt hại không được chấp nhận. Bà S người cao tuổi nên được
miễn nộp án phí.
[6.2] Ông D phải chịu án phí đối với: Phần yêu cầu S bồi thường
nhưng không được chấp nhận là 10.000.000 đồng x 5% = 500.000 đồng phần
yêu cầu anh B bồi thường nhưng không được chấp nhận 17.000.000 đồng x
5% = 850.000 đồng.
8
[6.3] Anh B phải chịu án phí đối với phần yêu cầu bồi thường thiệt hại
của ông D được chấp nhận là 300.000 đồng.
[7] Đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án
chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, các điều 147, 165, 166, 186, 228, 229, 271, 273; điểm g khoản 1 Điều
217 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí
lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ giải quyết yêu cầu tranh chấp về quyền sử dụng diện ch
2122,9m
2
đất lâm nghiệp thuộc một phần lô x khoảnh x tiểu khu xxb thôn X,
H của bà Phan Thị S đối với ông Trần Văn D.
2. Không chấp nhận yêu cầu của Phan Thị S buộc ông Trần Văn D
phải bồi thường thiệt hại về tài sản với số tiền 58.000.000 đồng.
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần n D buộc Phan
Thị S phải bồi thường thiệt hại về tài sản với số tiền 10.000.000 đồng.
4. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Trần Văn D. Buộc anh
Trần Văn B phải bồi thường cho ông Trần Văn D số tiền 3.000.000 đồng (Ba
triệu đồng).
5. Không chấp nhận phần yêu cầu độc lập của ông Trần Văn D, về buộc
anh Trần Văn B phải bồi thường số tiền 17.000.000 đồng.
6. Về án phí và tiền tạm ứng án phí:
6.1. Bà Phan Thị S được miễn nộp tạm ứng án phí.
6.2. Trả lại cho bà Phan Thị S số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)
và số tiền 1.450.000 đồng (Một triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng), bà đã nộp
theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008447 ngày 14 tháng 3 năm
2019Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005452 ngày 28 tháng 10
năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân shuyện (nay là thị xã) Hoài Nhơn, tỉnh
Bình Định.
6.3. Ông Trần Văn D phải chịu 1.350.000 đồng (Một triệu ba trăm năm
mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Ông D đã nộp số tiền 750.000 đồng
(Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án
9
số 0008449 ngày 14 tháng 3 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện
(nay thị xã) Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định nên được khấu trừ, ông D còn phải
chịu số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng).
6.4. Anh Trần Văn B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí
dân sự sơ thẩm.
7. Về chi phí định giá tài sản: Phan Thị S phải chịu 1.500.000 đồng
(Một triệu năm trăm nghìn đồng), đã nộp xong.
8. Về quyền kháng cáo: Đương sự quyền kháng o trong thi hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự không có mặt tại phiên a hoặc không
mặt khi tuyên án do chính đáng tthời hạn kháng o đưc nh từ
ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được nm yết.
9. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
9.1. Kể từ ngày bản án, quyết định hiệu lực pháp luật (đối với các
trường hợp quan thi hành án quyền chđộng ra quyết định thi hành án)
hoặc kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự
2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
9.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Đương sự;
- VKSND thị xã Hoài Nhơn;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, văn thư.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Hồng Hoàng
Tải về
Bản án 247/2022/DS-ST Bình Định Bản án 247/2022/DS-ST Bình Định

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án 247/2022/DS-ST Bình Định Bản án 247/2022/DS-ST Bình Định

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất