Bản án số 23/2026/HS-ST ngày 06/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 23/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 23/2026/HS-ST ngày 06/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng
Số hiệu: 23/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/02/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bản án số 23/2026/HSST
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG
Bản án số: 23/2026/HS-ST
Ngày 06-02-2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Hà
Ông Phạm Văn Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Anh T- Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Hải
Phòng.
- Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Long B -
Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn - Kiểmt viên.
Ngày 06 tháng 02 năm 2026 tại điểm cầu trung tâm là Trụ sở Tòa án nhân dân
khu vực 2 - Hải Phòng điểm cầu thành phần Trại tạm giam số 1 - Công an thành
phố H xét xử thẩm ng khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ số 110/2025/TLST-HS
ngày 19 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét x số
11/2026/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1973 tại thành phố Hải Phòng. Nơi thường trú: Phòng
906 CT10 C, khu đô thị Đ, xã Đ, thành phố Nội; nơi hiện nay: Tổ dân phố C,
phường A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá:
12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông
Nguyễn Văn K Thị K1; vợ Phạm Thị H, chưa con; tiền án: Bản án số
117 ngày 27/01/1999, Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Nội xử phạt 15
năm về tội Cướp tài sản của công dân. Chấp hành xong hình phạt ngày
24/01/2012, đã nộp án phí ngày 16/3/2009, chưa bồi thường dân sự cho bị hại; tiền
sự: Không; nhân thân: Bản án số 115 ngày 17/11/1990, Toà án nhân dân quận Hồng
Bàng xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân. Bản án số 43 ngày
10/4/1991, Toà án nhân dân quận Hồng Bàng xử phạt 06 tháng về tội Trộm cắp
tài sản của công dân. Bản án số 75 ngày 30/7/1993, Toà án nhân dân quận Lê Chân
xử phạt 09 tháng về tội Bắt giữ người trái pháp luật. Bản án số 295 ngày 28/3/1995,
Toà án nhân dân thành phHải Phòng xử phạt 30 tháng về tội Lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản của công dân. Bản án số 37/2018/HS-ST ngày 22/5/2018, Toà án
2
nhân n huyện An Dương xử phạt 24 tháng về tội Mua bán trái phép chất ma tuý;
bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giữ từ ngày 02/4/2025 đến ngày 10/4/2025
chuyển tạm giam; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 50 phút ngày 02/4/2025, tổ công tác C phường A, kiểm tra phòng
thuê trọ của Nguyễn Ngọc L tổ dân phố C, phường A, quận A phát hiện bắt quả
tang L hành vi cất gitrái phép chất ma tuý. Thu giữ tại ngăn kéo cạnh giường
ngủ 01 túi nilon màu trắng viền da cam kích thước 04x06cm bên trong 05 túi nilon
màu trắng viền đỏ kích thước 2,5x2,5cm đều chứa tinh thể màu trắng; 61 vỏ túi nilon
màu trắng viền đỏ kích thước 2,5x2,5cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo. Thời
điểm bắt quả tang tại nhà L Phạm Hữu T Ngọc T1 đều bạn của L đến
chơi. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, bàn giao L cùng vật
chứng cho quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H thu mẫu nước tiểu của
L, Hữu T, Ngọc T1 để kiểm tra chất ma tuý.
Kết luận giám định số 215/KL-KTHS ngày 04/4/2025 của Phòng K2 Công an
thành phố H, kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định ma y, có khối lượng:
2,10 gam, là loại Methamphetamine.
Kết quả xét nghiệm nước tiểu của L, Hữu T, Ngọc T1 đều dương tính với chất
ma tuý Methamphetamine.
Quá trình điều tra L, khai nhận: Do nghiện ma tuý và không có tiền tiêu nên tối
ngày 27/3/2025, L đi bộ ra trước cửa khu nhà trọ mua 01 túi ma tuý đá với giá
1.300.000 đồng của người đàn ông có biệt danh “Cún Hoàng” không rõ lai lịch để sử
dụng bán lại cho người khác kiếm lời. Về phòng trọ L lấy một ít ma túy ra sử
dụng, số n lại L chia vào 05 túi nilon đbán với g300.000 đồng/01 túi, nhưng
chưa kịp bán thì bị Công an kiểm tra, bắt quả tang như nội dung nêu trên. Hữu T
Ngọc T1 đều bạn của L, không biết, không tham gia việc cất giấu ma túy cũng như
việc L bán ma túy.
Vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định61 vỏ túi nilon màu trắng viền
đỏ chuyển Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Hải Phòng quản lý.
Tại phiên tòa bị cáo trình bày thống nhất về hành vi như trên; đồng ý với nội
dung Kết luận giám định, không có ý kiến hay khiếu nại gì.
Cáo trạng số 51/2025/CT-VKSKV2 ngày 17/12/2025 của Viện kiểm sát nhân
dân khu vực 2 - Hải Phòng truy tố Nguyễn Ngọc L về tội Mua bán trái phép chất ma
túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự (BLHS). Tại phiên tòa, đại diện Viện
kiểm sát đề nghị: Áp dụng khoản 1 khoản 5 Điều 251, Điều 38, điểm h khoản 1
Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS xử phạt Nguyễn Ngọc L từ 04 năm 06
tháng đến 05 năm về tội Mua bán trái phép chất ma túy; phạt tiền bị cáo từ
5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để nộp sung quỹ Nhà nước; về vật chứng: Áp
dụng Điều 47 của BLHS và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy
3
số ma túy còn lại sau giám định 61 vỏ túi nilon màu trắng viền đỏ; bị cáo phải
chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo trình bày nhận thức
hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm đã thực hiện mong muốn được sự khoan
hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên snội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định trong quá trình tố tụng: Hành
vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, của người được giao thẩm
quyền tiến hành tố tụng đối với vụ án trong quá trình điều tra, truy tđã thực hiện
đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá
trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người khác không ai có ý kiến
hoặc khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Hành
vi vào hồi 08 giờ 50 phút ngày 02/4/2025, tại tổ dân phố C, phường A, quận A (nay
phường A), Nguyễn Ngọc L cất giữ trái phép 2,10 gam ma tuý loại
Methamphetamine để n kiếm lời là phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy vi
phạm khoản 1 Điều 251 của BLHS. Cáo trạng số 51/2025/CT-VKSKV2 ngày
17/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng truy tố bị cáo đúng
pháp luật. Bị cáo là người năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ nên phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật đối với hành vi đã thực hiện.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo đã vi phạm pháp luật về
phòng chống ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự hội, đạo đức, lối sống,
văn hóa và sức khỏe của người khác. Do bị cáo chưa bồi thường dân scho bị hại tại
Bản án số 117 ngày 27/01/1999 nên lần phạm tội này được xác định là tái phạm quy
định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS; do thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải
nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của
BLHS.
[4] Về hình phạt:
[4.1] Về hình phạt chính: Cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, xử phạt bị
cáo mức án bằng mức khởi điểm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[4.1] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 251 của BLHS quy định người phạm
tội còn thể bphạt tiền t5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét tính chất,
hành vi phạm tội, loại tội phạm bcáo thực hiện; cần phạt tiền bị cáo 5.000.000 đồng
để nộp sung quỹ Nhà nước.
4
[5] Về vật chứng gồm: Số ma túy còn lại sau giám định và 61 vỏ túi nilon màu
trắng viền đỏ cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Vnhững vấn đề khác: Đối với Hữu T Ngọc T1 không biết không
tham gia vào việc mua bán, sử dụng ma tuý cùng L; hành vi sử dụng ma túy riêng đã
bị Công an thành phố H đã xử phạt vi phạm hành chính. Người có biệt danh Cún
Hoàng”, chưa xác định được lai lịch, quan điều tra tiếp tục xác minh làm xử
sau căn cứ. L khai mua ma túy của H1 đsdụng, tài liệu điều tra hiện chưa
đủ căn cứ xử lý hành vi của H1 nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách hành vi,
cùng tài liệu, vật chứng thu giữ của H1 và 01 điện thoại di động Vivo thu giữ của L
để điều tra xử lý sau là có căn cứ.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản
1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc L 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 02/4/2025.
- Về nh phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự xử phạt
bị cáo Nguyễn Ngọc L 5.000.000 đồng để nộp sung quỹ Nhà nước.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của
Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và 61 vỏ
túi nilon màu trắng viền đỏ (chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày
12/01/2026 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Hải Phòng).
Về án phí hình ssơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về án phí,
lệ phí Tòa án; bị cáo Nguyễn Ngọc L phải chịu 200.000 đồng.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày
kể từ ngày tuyên án.
5
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- TAND thành phố Hải Phòng;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- THADS thành phố Hải Phòng
- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
- VKSND khu vực 2 - Hải Phòng;
- Trại tạm giam CATP Hải Phòng;
- Phòng PV 06, PC 10 CATP Hải Phòng;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN
TÒA
Đỗ Văn Dũng
Tải về
Bản án số 23/2026/HS-ST Bản án số 23/2026/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 23/2026/HS-ST Bản án số 23/2026/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất